Luận văn Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trần Nhã Thụy

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngô Hoàng Yến Như  
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI  
TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN NHÃ THỤY  
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC  
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngô Hoàng Yến Như  
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI  
TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN NHÃ THỤY  
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam  
Mã số  
: 8220121  
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC  
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. HÀ THANH VÂN  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các kết  
quả nghiên cứu trong luận văn không sao chép của bất kì ai, tôi tự tìm hiểu  
một cách trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất kì nghiên  
cứu nào khác. Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách  
nhiệm về đề tài của mình.  
Người cam đoan  
Ngô Hoàng Yến Như  
 
LỜI CẢM ƠN  
Tôi xin trân trọng cảm ơn người hướng dẫn là TS Hà Thanh Vân, các  
thầy cô giảng dạy trong suốt quá trình tôi học cao học tại Trường Đại học Sư  
phạm Thành phố Hồ Chí Minh và tác giả Trần Nhã Thụy đã tạo mọi điều kiện  
giúp tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này.  
Em cũng xin cảm ơn lãnh đạo và các thầy cô Phòng Sau Đại học  
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM vì đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em  
hoàn thành đúng kế hoạch học tập, đạt được kết quả tốt nhất  
Xin tri ân tất cả với một tấm lòng nhiệt thành nhất!  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 2020  
Tác giả luận văn  
Ngô Hoàng Yến Như  
 
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Luận văn chọn đề tài Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện  
ngắn Trần Nhã Thụy vì muốn đi sâu vào nghiên cứu các tác phẩm truyện  
ngắn của tác giả Trần Nhã Thụy, một cây bút trẻ, giàu nội lực và có nhiều  
đóng góp đáng kể cho văn học đương đại Việt Nam dưới góc nhìn con người.  
Trần Nhã Thụy là cây bút tài năng của văn học Việt Nam, sớm khẳng  
định tài năng của mình trên văn đàn bằng hàng loạt giải thưởng danh giá, là  
cây bút có sức sáng tạo dồi dào, với lối tư duy mới lạ, giọng văn nhẹ nhàng  
mà thấm thía. Với các tác phẩm của mình, Trần Nhã Thụy đã sớm tạo được  
dấu ấn trong lòng độc giả bởi lối viết mộc mạc mà không thiếu sự cách tân  
trong nghệ thuật. Một trong những điểm đặc biệt ta dễ nhận thấy trong sáng  
tác của anh chính là hình ảnh những con người với số phận bấp bênh,  
chông chênh.  
Vấn đề con người trong văn học không phải là đề tài mới mẻ, bởi vốn dĩ  
con người chính là đối tượng phản ánh chính của văn học, đặc biệt trong văn  
học hiện đại thì việc đi sâu vào khám phá đời sống con người là một sứ mạng  
quan trọng của những nhà văn chân chính, nó hướng đến việc khám phá con  
người trong cuộc sống hằng ngày với những góc khuất đa chiều, đa diện, đời  
sống nội tâm phong phú. Cũng trong khuynh hướng sáng tác đó, Trần Nhã  
Thụy cũng lấy con người trong đời sống thường nhật làm cảm hứng chính  
trong những truyện ngắn của mình, nhưng những số phận con người qua trang  
văn của anh lại mang màu sắc rất riêng, đó là những con người khiến ta vừa  
lạ vừa quen. Qua giọng kể của tác giả, ta ngỡ như đã gặp những con người ấy  
ở đâu đó trong cuộc sống vội vàng, tấp nập này. Nhưng cũng rất lạ vì con  
người qua ngòi bút của Trần Nhã Thụy không phải là sự sao chép vẹn nguyên  
của đời sống mà qua cái nhìn, bằng sự trải nghiệm sâu sắc, cảm nhận tinh tế  
 
2
của Trần Nhã Thụy, những con người đó khiến người đọc trăn trở, ám ảnh.  
Đó chính là nét độc đáo của tác giả này, cũng là đóng góp đáng ghi nhận của  
Trần Nhã Thụy trong việc góp phần làm đa dạng thêm đời sống văn học  
đương đại Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào đi  
sâu vào nghiên cứu một cách đầy đủ về vấn đề quan niệm nghệ thuật con  
người trong truyện ngắn của tác giả này, một khía cạnh thú vị trong sáng tác  
của Trần Nhã Thụy. Vì thế, khi nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật về con  
người trong truyện ngắn Trần Nhã Thụy, người viết muốn làm rõ được những  
nét độc đáo trong việc xây dựng số phận nhân vật nói riêng cũng như tài năng  
viết truyện ngắn của Trần Nhã Thụy, qua đó ghi nhận được những đóng góp  
của tác giả này đối với sự phát triển của văn học đương đại Việt Nam nói  
chung và trong thể loại truyện ngắn nói riêng.  
2. Lịch sử nghiên cứu  
2.1. Về vấn đề con người trong văn học Việt Nam hiện đại  
Phùng Văn Khai trong bài viết Người đàn ông ở bến không chồng từng  
viết “Thân phận con người là mối quan tâm vĩnh cửu của các nhà văn chân  
chính. Nó là mạch nước ngọt ngào để các nhà văn hòa mình vào đó, đi tiếp  
trong bước đường sáng tạo không mấy bằng phẳng của nghề cầm bút.”  
(Phùng Văn Khai, 2012).  
Vì thế vấn đề con người luôn được các nhà văn quan tâm, phản ảnh  
trong các tác phẩm của mình. Đã có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu bàn  
về vấn đề con người trong văn học đương đại dưới nhiều góc nhìn khác nhau.  
Lê Kim Thùy trong bài viết Cảm thức về nỗi đau thân phận trong tiểu  
thuyết Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ cho rằng “khám phá hiện thực đời  
sống là thuộc tính của văn học nên bất kì một tác phẩm nào cũng là sự khúc  
xạ từ những vấn đề trong cuộc sống. Đó có thể là những xúc cảm, rung động  
hay tư tưởng, quan điểm của nhà văn trước cuộc sống, nó luôn náu mình trong  
những hình tượng nghệ thuật của tác phẩm mà tập trung trước hết ở các nhân  
3
vật” (Lê Kim Thùy, 2012).  
Nguyễn Thái Hoàng trong bài Sự trở lại của khuynh hướng hiện sinh  
trong văn xuôi Việt Nam đương đại đã có cái nhìn khá bao quát về các sáng  
tác của các nhà văn hiện nay như Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Trần Nhã  
Thụy, Nguyễn Danh Lam… mà cụ thể hơn là con người trong các sáng tác  
của họ “Trong tác phẩm họ, thân phận con người hiện đại được tái hiện ở tình  
trạng vong thân, phi lí, cô đơn, bị bủa vây bởi những ám ảnh bi thiết về cái  
chết, bị đẩy đến đường cùng để rồi nổi loạn và tha hoá trên con đường kiếm  
tìm bản ngã, kiếm tìm tự do, cái đẹp, hay nói cách khác đó là những con  
người hiện sinh trong văn học” (Nguyễn Thái Hoàng, 2015).  
Luận văn Số phận con người trong tiểu thuyết của Dương Hướng của  
Nguyễn Thị Thu bảo vệ năm 2013 tại trường Đại học Khoa học xã hội và  
nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội khi đi vào nghiên cứu thân phận con  
người trong tiểu thuyết của Dương Hướng cũng đã thấy được rằng “Con  
người là đối tượng nghiên cứu, miêu tả đồng thời cũng là đối tượng tác động  
của văn học. Điều này đã thành nguyên lí có tính phổ quát. Nói về đối tượng  
của văn chương, ta thường nhắc đến câu nói nổi tiếng của M.Gorki “Văn học  
là nhân học” (Nguyễn Thị Thu, 2013). Tác giả đã phát hiện được chất đời  
thường, những vấn đề “liên quan trực tiếp đến cá nhân nhất như tình yêu,  
hạnh phúc” (Nguyễn Thị Thu, 2013) được phản ánh trong tác phẩm của  
Dương Hướng.  
Trịnh Thị Huệ trong công trình nghiên cứu Thân phận con người trong  
tiểu thuyết Giã từ vũ khí của Ernest Hemingway và Nỗi buồn chiến tranh của  
Bảo Ninh đi sâu vào nghiên cứu thân phận con người trong hai tác phẩm trên  
dưới ánh sáng của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả đã chỉ ra được các biểu hiện  
của con người hiện sinh trong trong văn học, đó là “sự phi lí, hư vô, cái chết,  
nỗi lo âu, sự cô đơn, nổi loạn” (Trịnh Thị Huệ, 2015).  
4
2.2. Về tác giả Trần Nhã Thụy và quan niệm nghệ thuật về con người  
trong tác phẩm  
Tác giả Trần Nhã Thụy bắt đầu viết văn từ rất sớm, từ khi nhận được  
giải thưởng truyện ngắn trẻ năm 1998 của báo Văn nghệ Trẻ - Hội Nhà Văn  
Việt Nam, tài năng của Trần Nhã Thụy đã được công nhận qua hàng loạt các  
tác phẩm được đánh giá cao bởi giới chuyên môn, các tác phẩm của anh được  
nhiều bạn đọc đón nhận nhiệt tình. Các bài báo, tạp chí, trang web, blog có  
khá nhiều bài viết về Trần Nhã Thụy cũng như các tác phẩm của anh.  
Nhã Thuyên trong bài viết Chống cách tân trên trang blog nhathuyenaz  
có những cảm nhận khá thấu đáo về chất văn của Trần Nhã Thụy khi viết  
truyện ngắn nói chung và tập truyện Mùi nói riêng, Nhã Thuyên đã thấy được  
chất đời trong những sáng tác của Trần Nhã Thụy, những truyện ngắn của tác  
giả không hề cố ý lên gân hay tạo dựng những cái khác lạ mà nó chỉ là  
“những khoảnh khắc được phát hiện bất ngờ trong đời sống, thường gặp ở  
những kẻ mơ mộng về một tình yêu rất lâu và rất sâu những cái đẹp trừu  
tượng vốn quyến rũ những tâm hồn trẻ”. Và Nhã Thuyên đã kết thúc bài viết  
của mình bằng một nhận xét rất tinh tế về văn của Trần Nhã Thụy “Trần Nhã  
Thụy đã đủ điềm tĩnh để học và đón nhận nhiều kiểu văn chương khác nhau  
và khác mình, mà cũng không cần nóng nảy, luống cuống tìm bằng được  
những cách thức làm mới. Văn chương của anh đáng được mến yêu và  
thưởng thức.” (Nhã Thuyên, 2014).  
Nhà văn Hồ Thị Ngọc Hoài trong phóng sự về Trần Nhã Thụy của hãng  
phim thành phố Hồ Chí Minh TFS đã có những nhận xét về thế giới nhân vật  
của Trần Nhã Thụy: “Tôi thích nhân vật nội tâm của sáng tác có những cái day  
dứt, dằn vặt, trăn trở, những biến cố hay là những quan sát trong đời sống hằng  
ngày, những chi tiết đời thường nhưng qua đó ta thấy được hiện thực bề bộn  
gương mặt của cuộc sống xấu, tốt hay là thanh cao, tầm thường, trần trụi. Qua  
5
đó thì người đọc cũng soi vào đời sống tâm lí của mình…” (Thu Trang, 2017).  
Trần Văn Nghệ trong bài viết Nhà văn Trần Nhã Thụy năm tháng trôi  
qua như nháy mắt đã nói về chất riêng, không nhầm lẫn vào đâu trong văn  
Trần Nhã Thụy “Từ cái thấy của riêng mình, Thụy có một đôi điều phát hiện  
mà mọi người đọc xong phải ồ lên thích thú hoặc phải trầm ngâm chia sẻ với  
những điều anh cảm nhận” (Trần Văn Nghệ, 2017).  
Huệ Thanh có những đánh giá rất xác đáng và chính xác về Trần Nhã  
Thụy: “Trần Nhã Thụy là nhà văn trẻ đáng chú ý hiện nay. Trầm tĩnh. Sắc  
sảo. Sống nghĩa tình. Óc quan sát nhanh nhạy, tinh tế. Bút lực lại mạnh mẽ”  
(Huệ Thanh, 2009).  
Nguyễn Ngọc Thuần trong phần giới thiệu ở đầu tập truyện ngắn - tản  
văn Mùi của Trần Nhã Thụy có viết  
Ở anh có cái nền nã của một người vừa đủ vui, buồn và chừng mực.  
Không phải tất cả những gì anh viết tôi cũng đều thích cả, tất nhiên rồi  
(nhất là cái vẻ chừng mực đáng ghét của anh, thay vì trong âm thầm, tôi  
vẫn mong anh quá khích hơn chẳng hạn) nhưng tôi luôn luôn tin chắc  
mình có thể tìm trong đó những trăn trở đau đáu và tìm kiếm không  
ngừng sự chân thực cho một lối viết. (Trần Nhã Thụy, 2011).  
Văn Thành Lê trong bài báo Nhà văn Trần Nhã Thụy trầm lắng đến bất  
ngờ đã có đôi dòng cảm nhận về phong cách sáng tác của tác giả này.  
Với văn chương, ngay từ đầu, Trần Nhã Thụy đã xác định lối đi không  
chiều lòng số đông, khi anh hướng đến những truyện không có chuyện,  
hay là chuyện đấy, nhưng không theo lối thông thường với rõ ràng mở  
đầu - kết thúc. Sẽ là khó cho ai đó muốn đọc để kể lại cho người khác  
nghe. Phải tiếp nhận trực tiếp. Tự trải nghiệm với văn bản. Bởi đấy là thứ  
6
văn được dụng công trong việc xây dựng không khí truyện và hướng đến  
cảm - giác - sống. Mà cảm giác, thì phải tự cảm nhận mới chân xác nhất  
(Văn Thành Lê, 2016).  
Hà Thanh Vân thì nhận định về Trần Nhã Thụy như sau  
Trần Nhã Thụy bước đầu khẳng định được một phong cách riêng, một  
giọng văn riêng: Đó là giọng kể trầm buồn, chậm và phảng phất bóng  
dáng của những câu triết lý. Không ồn ào, tô vẽ, không chao chát, đay  
nghiến như một số giọng văn thời thượng, giọng văn của Trần Nhã Thụy  
đi vào lòng độc giả rất khẽ, rất nhẹ, nhưng lưu lại lâu (Hà Thanh Vân,  
2015).  
Nhà báo Trần Hoàng Nhân trong bài: “Trần Nhã Thụy xả xì-trét với Váy  
ơi là váy” có nhận định: “ Trần Nhã Thụy là một cây bút “đa năng”, anh được  
biết đến với tư cách tác giả truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hàng  
ngàn bài báo và tiểu phẩm. Như một đầu bếp giỏi, Trần Nhã Thụy chế biến  
được nhiều món ngon từ “nguồn nguyên liệu chữ” ở vườn văn của mình”  
(Trần Hoàng Nhân, 2015).  
Đoàn Ngọc Trí trong luận văn Đặc điểm truyện ngắn Trần Nhã Thụy bảo  
vệ tại hội đồng Đại học Vinh năm 2005 đã đi vào nghiên cứu các tác phẩm  
truyện ngắn của tác giả này dưới ánh sáng thi pháp học, tác giả luận văn đi  
sâu khai thác các đặc điểm truyện ngắn của Trần Nhã Thụy ở các phương  
diện đề tài, cảm hứng, nhân vật, kết cấu, tình huống, ngôn ngữ và giọng điệu.  
Khi nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của tác giả Trần Nhã Thụy, tác giả của  
công trình này cũng đã chỉ ra được một trong những đề tài chính trong sáng  
tác của Trần Nhã Thụy là nỗi buồn thân phận con người, tuy nhiên do phạm  
vi nghiên cứu nên công trình này chưa đi sâu vào khai thác con người trong  
7
các truyện ngắn này mà chỉ dừng lại ở mức khái quát.  
Qua quá trình tìm tòi, sưu tầm, khảo sát trên các luận văn, sách, báo chí,  
các trang web, blog… người viết nhận thấy tuy có nhiều bài viết về tác giả  
Trần Nhã Thụy tuy nhiên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sách, nhận định chung  
về phong cách sáng tác của tác giả, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ  
thể về quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trần Nhã Thụy  
một cách đầy đủ và có hệ thống. Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài này để  
nghiên cứu với mong muốn góp thêm một cái nhìn mới trong việc tiếp cận tác  
phẩm truyện ngắn của Trần Nhã Thụy cũng như các tác phẩm khác của tác  
giả này.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong  
các truyện ngắn của tác giả Trần Nhã Thụy.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Với đề tài này, chúng tôi sẽ khảo sát trong phạm vi 4 tập truyện ngắn đã  
in của Trần Nhã Thụy là: Lặng lẽ rừng mai (Nxb Công an Nhân dân, 2000),  
Những bước chậm của thời gian (Nxb Thanh niên, 2004), Chàng trẻ măng ở  
phố treo đầu (Nxb Hội Nhà văn, 2008) và Mùi (Nxb Hội Nhà văn, 2011).  
4. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp người viết đặt các tác  
phẩm truyện ngắn của Trần Nhã Thụy trong một hệ thống các sáng tác của tác  
giả để thấy được những nét đặc trưng trong sáng tác của nhà văn.  
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này giúp người viết đi  
vào nghiên cứu, đánh giá từng tác phẩm cụ thể, làm cơ sở khái quát vấn đề.  
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng trong việc nghiên cứu  
mối quan hệ, sự tương đồng, khác biệt, sự phát triển giữa các tác phẩm của tác  
giả Trần Nhã Thụy và trong sự liên hệ với các tác giả cùng thời khác với chủ  
8
đề thân phận con người.  
- Phương pháp thi pháp học: được sử dụng trong việc tiếp cận về vấn đề  
con người trong văn học nói chung cũng như quan niệm về con người của tác  
giả Trần Nhã Thụy nói riêng.  
5. Đóng góp mới  
Với đề tài Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trần  
Nhã Thụy người viết tập trung nghiên cứu các nhân vật được phản ánh trong  
sáng tác của nhà văn Trần Nhã Thụy, qua đó cho thấy được sự sáng tạo, cái  
nhìn độc đáo của tác giả này trong sáng tác văn chương.  
6. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo phần nội dung của  
luận văn gồm ba chương:  
Chương 1: Vấn đề con người trong văn học và quan niệm nghệ thuật  
của Trần Nhã Thụy.  
Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trần  
Nhã Thụy nhìn từ các kiểu loại nhân vật.  
Chương 3: Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trần  
Nhã Thụy nhìn từ nghệ thuật thể hiện.  
9
Chương 1. VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC  
VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA TRẦN NHÃ THỤY  
1.1. Vấn đề con người trong văn học  
1.1.1. Con người - đối tượng phản ánh của văn học  
Văn học là một hình thức ý thức xã hội bắt nguồn từ cuộc sống, phản  
ánh cuộc sống và thể hiện cái nhìn, ý kiến, quan điểm, cảm xúc về cuộc sống.  
Nhưng nghệ thuật, đặc biệt là văn học, khác với các hình thức ý thức xã hội  
khác bởi vì nó có những đặc điểm thẩm mỹ riêng về đối tượng, nội dung và  
biểu hiện, do đó khác với các hình thức ý thức xã hội khác.  
Khái niệm đối tượng văn học trước tiên khẳng định thực tế cuộc sống là  
cơ sở để phản ánh và thể hiện nghệ thuật và văn học hay đối tượng của văn  
học và nghệ thuật là toàn bộ xã hội và đời sống tự nhiên. Tsécnưsépxki, nhà  
mỹ học Nga từng nói: "Vẻ đẹp là cuộc sống" nhưng phạm vi này rất rộng. Bởi  
vì nếu đối tượng của văn học là cuộc sống, nó sẽ không tách rời khỏi khoa  
học và các hình thức ý thức xã hội khác (như lịch sử, địa lý, hóa học, y học,  
chính trị, đạo đức)... Văn học phải có cách nhận thức và thể hiện các đối  
tượng khác nhau. Đối tượng của triết học là quy luật chung nhất của tự nhiên,  
xã hội và tư tưởng, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Đối tượng của lịch sử  
là các sự kiện lịch sử, quá trình thay ngôi đổi chủ của một quốc gia dân tộc  
hay rộng hơn là những biến đổi của xã hội loài người từ khởi nguyên đến nay.  
Đối tượng của đạo đức là tiêu chuẩn đạo đức trong quan hệ của con người...  
Nhưng không giống như các khoa học khác, văn học không coi các hiện  
tượng và vật thể trong thế giới thực là vật thể đơn thuần. Văn học tập trung  
vào việc khám phá mối quan hệ với mọi người. Đối tượng của văn học là toàn  
bộ hiện thực cuộc sống, nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống  
tâm hồn, thế giới bên trong của con người.  
     
10  
Thế giới có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần của con người kết tinh  
trong những điều mới mẻ và đây mới chính là đối tượng của sự khám phá và  
khám phá văn học. Văn học có thể mô tả cuộc sống của thiên nhiên, động vật  
để bày tỏ quan điểm hoặc đặc điểm về cuộc sống của một số người. Văn học  
có thể mô tả môi trường của một người, đời sống bên trong và các vật thể có  
thể tiếp cận để thể hiện năng lực, sức mạnh và tính cách của con người ấy.  
Văn học cũng chọn việc trực tiếp mô tả cuộc sống nội tâm của con người như  
một hiện tượng khách quan. Việc hiện thực hóa mọi thực tại khách quan liên  
quan đến con người đặt con người vào trung tâm của văn học.  
Văn học luôn đặt sự mô tả về con người lên hàng đầu, và nhìn thế giới từ  
góc nhìn của con người. Thế giới khách quan của văn học là thế giới của mối  
quan hệ với con người. Con người gặp phải nhiều dạng sống khác nhau trong  
văn học. Các hiện tượng tự nhiên bao gồm mây, gió, mặt trăng, hoa, tuyết,  
núi, sông, sấm sét, hạt mưa và sóng... dưới góc nhìn của nhà văn không chỉ là  
những cảnh sắc vô hồn, thuộc về tự nhiên mà thay vào đó, cho thấy tâm trạng,  
số mệnh và số phận của con người: chẳng hạn tiếng nói của những người dậy  
sớm là âm thanh của niềm vui, những đám mây trắng vô tận là hư vô, ảo ảnh  
và hình ảnh thoáng qua, cát bụi là hình ảnh cho kiếp người... Đồng thời, văn  
học cũng coi con người là điển hình của các mối quan hệ xã hội nhất định.  
Điều mà văn học quan tâm là mối quan hệ giữa các cá nhân được kết tinh  
trong mọi thứ: chẳng hạn dòng sông là nơi lưu giữ những ký ức tuổi thơ, ngôi  
làng là biên giới của linh hồn văn minh thôn quê. Đây là những giá trị mà con  
người thể hiện trong sự vật. Về vấn đề này, văn học coi con người là những cá  
tính, bởi vì mỗi tính cách thể hiện một loại quan hệ xã hội nhất định.  
Khái niệm về đối tượng văn học cũng quyết định tính toàn diện và toàn  
vẹn của cuộc sống mà nhà văn thể hiện với tất cả các khuôn mặt cụ thể (cảm  
xúc, cá tính). Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng nhận thức con người  
và cuộc sống của họ dựa trên các chủ đề và các thể loại cụ thể. Từ những vấn  
11  
đề trên ta thấy rằng trong thế giới thực này, con người và tất cả các mối quan  
hệ của họ là đối tượng trung tâm của văn học.  
Trong sáng tác văn học con người chính là khởi nguồn cảm hứng cho  
nhà văn, là mảnh đất màu mỡ để các nhà văn vun trồng, kết tinh các sản phẩm  
tinh thần và cũng là đích đến cuối cùng của các sản phẩm văn chương chân  
chính. Văn học chọn con người là đối tượng phản ánh chính, con người luôn  
giữ vị trí trung tâm. Những vấn đề kinh tế chính trị xã hội, bức tranh thiên  
nhiên, bức tranh đời sống, những bình luận đều góp phần tạo nên sự phong  
phú cho tác phẩm văn học, nhưng quyết định sự thành công, sự đón nhận của  
tác phẩm chính là những tình cảm, sự suy tư trăn trở những vấn đề của con  
người được nhà văn thể hiện. Không thể phủ nhận một điều rằng dù viết về  
bất kỳ đề tài gì thì văn học vẫn xoay quanh một đối tượng chính là con người.  
Có hướng vào con người thì văn học mới thực hiện trọn vẹn chức năng  
của nó vì “văn học là một phương tiện quan trọng giúp con người trở thành  
con người vì nó mở ra những bí mật của con người, giúp con người hiểu thêm  
về chính mình, trở nên phong phú hơn và một phần từ chỗ hiểu mình, từ sự  
phong phú của chính mình, con người hiểu thêm về thế giới và sự phong phú  
của thế giới” (Lê Ngọc Trà, 1990).  
Văn hào Đức W. Goethe từng cho rằng con người là điều thú vị nhất với  
con người, và con người cũng chỉ hứng thú với con người. Bởi thế nhà văn  
luôn đào sâu vào thế giới con người tìm tòi những cái mới. Những vấn đề của  
con người đều nằm trong phạm vi hướng tới của văn học. Dù thế giới nhân  
vật của văn học vô cùng đa dạng, nhân vật của văn học có thể là người cô  
Tấm, Thạch Sanh, Mị, Lão Hạc, hoặc không phải là người như trong truyện  
ngụ ngôn, truyện cổ tích loài vật, hay cho dù viết về đề tài gì, khai thác thế  
giới thần linh hay yêu ma, nhưng mục đích chính của tác phẩm văn học vẫn là  
tiếng nói của con người, là tâm tư tình cảm, là những góc khuất bên trong bên  
ngoài của con người, như Trần Đình Sử đã viết con người là “phạm trù văn  
12  
hóa, là nội dung cơ bản của văn học và trình độ ý thức về con người, đánh dấu  
trình độ phát triển của văn học” (Trần Đình Sử, 2005). Những chân dung con  
người của văn học không chỉ phản ánh bức tranh đời sống xã hội mà con  
người ấy tồn tại, mặt khác còn cho thấy cá tính sáng tạo độc đáo của người  
cầm bút.  
1.1.2. Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học  
Việt Nam hiện đại  
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quan trọng trong thi  
pháp học, là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá sáng tạo  
trong việc thể hiện con người qua các khía cạnh khác nhau của nhà văn. Quan  
niệm nghệ thuật về con người cũng là tiền đề gợi mở cho chúng ta những bí  
ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi nhà văn nói riêng và của mọi thời đại  
nói chung. Là vấn đề quan trọng của thi pháp học, tuy nhiên khái niệm quan  
niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách lí giải khác nhau. Từ điển  
thuật ngữ văn học định nghĩa “quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong  
của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ  
thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật,  
làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật.”  
(Lại Nguyên Ân, 1999). Trần Đình Sử cho rằng “quan niệm nghệ thuật về con  
người là một cách cắt nghĩa, lý giải tầm hiều biết, tầm đánh giá trí tuệ, tầm  
nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của  
mình” (Trần Đình Sử, 1993). Như đã nói ở trên thì dù hoàn cảnh xã hội nào,  
giai đoạn lịch sử nào thì văn học luôn hướng nội dung về con người. Huỳnh  
Như Phương cho rằng: “quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn  
của nhà văn và chiều sâu triết lý của tác phẩm” (dẫn theo Hoài An, 2013).  
Như vậy từ các định nghĩa tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng chúng ta có  
thể hiểu quan niệm nghệ thuật về con người chính là cách cảm, cách nhìn,  
cách khám phá, mổ xẻ, những lý giải các khía cạnh con người của nhà văn  
 
13  
được truyền tải qua từng tác phẩm, là cơ sở để nhà văn thể hiện quan niệm  
của mình về cuộc sống. Quan niệm nghệ thuật về con người còn cho thấy  
được sự sáng tạo của nhà văn gắn liền với cái nhìn đầy mới mẻ và không  
ngừng phát hiện ra những điều độc đáo của đời sống thể hiện qua việc thay  
đổi góc nhìn về con người trong sáng tác.  
Cùng với sự ra đời của quan niệm mới về con người, nền nghệ thuật  
cũng có những thay đổi mới. V. Sherbina trong Quan niệm con người trong  
thế kỉ XX nhấn mạnh “quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố  
vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật”.  
Chắc chắn một điều sự biến động của thực tế sẽ làm xuất hiện những con  
người mới và việc chọn họ để phân tích mổ xẻ sẽ làm văn học đổi mới.  
Nhưng ở một khía cạnh khác, quan niệm nghệ thuật về con người còn thay  
đổi ở việc “đổi mới cách giải thích và cảm nhận của con người cũng làm cho  
văn học thay đổi căn bản” (Trần Đình Sử, 1998). Tức là với những nhân vật  
cũ, cốt truyện cũ nhưng nhà văn đã cắt nghĩa lý giải hiện tượng dưới góc độ  
của con người hiện đại, những trăn trở, băn khoăn phù hợp với những xu thế  
mới. Có thể kể đến như trường hợp Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu  
Quang Vũ lấy cốt truyện từ truyện dân gian nhưng nhà văn đã đặt ra một vấn  
đề rất mới, Nguyễn Thị Kim Hòa với Con chim phụng cuối cùng cũng là một  
cách đánh giá khác của nữ tác giả về những nhân vật lịch sử dưới cái nhìn đầy  
tính nữ. Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp mang đậm yếu tố  
thần thoại cổ tích đã phản ánh chân thật thế giới cuộc sống đương đại, phơi  
bày toàn bộ cái xấu, cái ác trên hành trình tìm kiếm, nuôi dưỡng chân thiện  
mỹ.  
Lịch sử xã hội luôn có sự thay đổi biến động từ đó dẫn đến sự xuất hiện  
những con người mới phù hợp với nền tảng xã hội đó, việc đi sâu phản ánh  
những con người ấy cũng đồng nghĩa với việc con người trong văn học cũng  
sẽ có sự đổi mới. Cách cảm nhận, cách phân tích con người của nhà văn cũng  
14  
thay đổi kéo theo sự thay đổi của nghệ thuật. “Quan niệm con người là hình  
thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sự tác động  
qua lại của nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác” (Hoàng Trác Việt,  
1992). Cho nên dù ở mỗi thời khác nhau có thể phong phú, đa dạng nhưng  
vẫn mang dấu ấn của bối cảnh xã hội của thời đại đó.  
Văn học trung đại Việt Nam kéo dài xuyên suốt mười thế kỷ là sản phẩm  
của xã hội bị chi phối bởi các hệ tư tưởng phong kiến. Con người trong văn  
học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm ba hệ tư tưởng Nho - Phật -  
Lão. Vì thế con người xuất hiện trong văn học giai đoạn này mang dấu ấn giai  
cấp. Con người luôn được nhìn nhận trong mối quan hệ tương quan với vũ  
trụ, con người là một cá thể của vũ trụ mang dấu ấn của vũ trụ. Từ ngoại hình,  
tính cách, tầm vóc, chiến công, lý tưởng của con người trung đại trong văn  
học đều lấy chuẩn mực từ vũ trụ “sự song hành vũ trụ - con người là cảm thức  
chung của một mô hình văn học, một thời đại văn học” (Trần Đình Sử, 1998).  
Con người trung đại “luôn ở trong cuộc đấu tranh thiện/ác, tốt/xấu, cao đẹp và  
tầm thường, hữu đạo và vô đạo” (Trần Đình Sử, 1998).  
Nền văn học cách mạng Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của  
mình trong việc cổ vũ tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm qua hai cuộc  
chiến ngoan cường của cả dân tộc chống Pháp và chống Mỹ. Chủ nghĩa anh  
hùng cách mạng như tiếp thêm ngọn lửa đấu tranh, mang lại hiệu quả trong  
việc động viên quần chúng. Con người được văn học phản ánh là những con  
người đại diện cho sức mạnh ý chí cho cả dân tộc, trung thành với đường lối  
của Đảng, giữ vững lập trường, kiên định với lý tưởng đấu tranh giải phóng  
dân tộc. Con người cá nhân trong giai đoạn này bị xem là dị biệt, tiếng nói cá  
nhân mờ nhạt, cá tính của con người bị coi nhẹ. Những khát vọng rất đời  
thường của con người như hạnh phúc, tình yêu, tình dục rất ít được đề cập  
đến.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 135 trang yennguyen 27100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trần Nhã Thụy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_niem_nghe_thuat_ve_con_nguoi_trong_truyen_ngan.pdf