Luận án Nghiên cứu trạng thái ứng suất giới hạn trong nền đất tự nhiên dưới tác dụng của tải trọng nền đường đắp và bệ phản áp

BỘ QUỐC PHÒNG  
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ  
NGUYỄN MINH KHOA  
NGHIÊN CỨU TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT GIỚI HẠN  
TRONG NỀN ĐẤT TỰ NHIÊN DƢỚI TÁC DỤNG CỦA  
TẢI TRỌNG NỀN ĐƢỜNG ĐẮP VÀ BỆ PHẢN ÁP  
Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông  
Mã số  
: 62 58 02 05  
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT  
HÀ NỘI - 2013  
CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI  
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ - BỘ QUỐC PHÒNG  
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:  
TS Hoàng Đình Đạm - Học viện Kỹ thuật Quân sự  
Phản biện 1:  
GS. TS Phạm Huy Khang - Đại học GTVT HN  
Phản biện 2:  
GS. TS Nguyễn Văn Lệ - Đại học Thủy lợi  
Phản biện 3:  
GS. TSKH Nguyễn Đăng Bích - Viện KH & CN Xây dựng  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thư viện Học viện Kỹ thuật Quân sự  
- Thư viện Quốc gia  
i
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ  
1. Nguyễn Minh Khoa, Hoàng Đình Đạm (2012), “Trạng thái ứng  
suất trong nền đất dưới tác dụng của tải trọng nền đường đắp”, Tạp chí  
Giao thông vận tải - 5/2012, HN (Tr.23-25).  
2. Nguyễn Minh Khoa, Hoàng Đình Đạm (2012), “Nghiên cứu tải  
trọng giới hạn nền đất chịu tác dụng của tải trọng nền đường đắp”,  
Tạp chí Giao thông vận tải - 6/2012, HN (Tr.21-22 và Tr.32).  
3. Nguyễn Minh Khoa, Hoàng Đình Đạm (2012), “Trạng thái ứng  
suất trong nền đất chịu tải trọng nền đường đắp và bệ phản áp”, Tạp  
chí Cầu đường Việt Nam - 8/2012, HN (Tr.34-36 và Tr.46).  
4. Nguyễn Minh Khoa, Hoàng Đình Đạm (2012), “Tải trọng giới  
hạn nền đất chịu tải trọng nền đường đắp và bệ phản áp”, Tạp chí Cầu  
đường Việt Nam - 9/2012, HN (Tr.18-21).  
5. Nguyễn Minh Khoa, Hoàng Đình Đạm (2013), “Nghiên cứu bệ  
phản áp tăng cường tải trọng giới hạn nền đất yếu chịu tải trọng của  
nền đường đắp”, Tạp chí Cầu đường Việt Nam - 3/2013, HN (Tr.15-  
18).  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Lý thuyết tính toán hiện nay thường giả thiết đất là vật liệu đàn hồi,  
đàn - dẻo, cứng - dẻo để dựa vào lời giải các bài toán đàn hồi, đàn -  
dẻo hoặc dựa theo lý thuyết cân bằng giới hạn với lời giải không xét  
trọng lượng nền đất đối với tải trọng móng cứng của L. Prandtl và các  
phương pháp gần đúng, như phương pháp mặt trượt giả định, xét tới  
trọng lượng nền đất. Các lý thuyết này đã giải quyết được nhiều vấn  
đề cụ thể mà thực tế đặt ra nhưng vẫn còn những hạn chế.  
Tuy vậy, giả thiết đất là một vật liệu mang các tính chất của môi  
trường hạt rời là tương đối phù hợp và sử dụng phương pháp đã có  
xem nền đất ổn định theo điều kiện ứng suất tiếp lớn nhất đạt giá trị  
nhỏ nhất, xét được trọng lượng bản thân để xác định trạng thái ứng  
suất sẽ cho ta kết quả phù hợp hơn, nhưng các nghiên cứu theo  
phương pháp này còn ít.  
Trạng thái ứng suất của nền đất phụ thuộc không những vào tính  
chất địa kỹ thuật của nền đất mà còn phụ thuộc vào đặc tính của công  
trình hay tải trọng ngoài. Do nền đất tự nhiên dưới tác dụng của tải  
trọng nền đắp được xem như là dưới tác dụng của móng mềm, vì thế  
không thể áp dụng cách tính là dưới tác dụng của móng cứng như hiện  
nay sử dụng. Nghiên cứu xây dựng và giải bài toán trạng thái ứng suất  
của nền đất tự nhiên dưới tải trọng móng mềm, đặc biệt nghiên cứu ở  
trạng thái giới hạn để từ đó xác định tải trọng giới hạn của nền đất làm  
cơ sở thiết kế nền đường đắp là vấn đề mới và cấp thiết.  
Bệ phản áp là một giải pháp lâu đời được sử dụng nhiều, thực tế đã  
chứng minh hiệu quả tăng cường ổn định, đặc biệt làm tăng tải trọng  
giới hạn của nền đất yếu. Với công nghệ thi công đơn giản và tận  
dụng được vật liệu tại chỗ, bệ phản áp đã được xây dựng với nền  
đường đắp qua vùng đất yếu và sửa chữa nền đường mất ổn định. Tuy  
nhiên tính toán thiết kế bệ phản áp của nền đường đắp còn dựa vào  
kinh nghiệm và các phương pháp gần đúng. Do đó có thể dùng cách  
2
tính toán mới về tải trọng giới hạn của nền đất chịu tải trọng móng  
mềm để khảo sát ảnh hưởng của bệ phản áp, hợp lý hoá thiết kế kích  
thước, tìm cách khắc phục nhược điểm để có thể vận dụng tiết kiệm và  
hiệu quả vào thực tế.  
Từ những vấn đề nêu trên đặt ra việc nghiên cứu xác định trạng  
thái ứng suất giới hạn của nền đất yếu nói riêng, nền đất tự thiên nói  
chung với những giả thiết hợp lý hơn với thực tế làm việc của nền đất  
chịu tác dụng của tải trọng nền đường đắp và bệ phản áp sẽ góp phần  
bổ sung lý thuyết nghiên cứu, góp phần tích cực vào thực tế xây dựng  
nền đường đắp, mạng lưới giao thông và sự phát triển ngày nay.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Xác định trạng thái ứng suất giới hạn trong nền đất tự thiên dưới  
tác dụng của tải trọng nền đường đắp và bệ phản áp, với giả thiết nền  
đất mang tính chất của môi trường hạt rời và ổn định theo điều kiện  
ứng suất tiếp lớn nhất đạt giá trị nhỏ nhất, nền đất tự nhiên chịu tác  
dụng của tải trọng móng mềm và tìm phương pháp toán hợp lý để xét  
trọng lượng bản thân nền đất.  
Từ bài toán trạng thái ứng suất giới hạn, nghiên cứu bệ phản áp  
làm tăng tải trọng giới hạn hay sức chịu tải của nền đất yếu.  
3. Phạm vi nghiên cứu  
Bài toán phẳng để xác định trạng thái ứng suất, đặc biệt ở trạng  
thái giới hạn của nền đất tự nhiên đồng nhất có mặt thoáng nằm  
ngang. Trạng thái ứng suất nghiên cứu là ứng suất hữu hiệu.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu lý thuyết, sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn và  
lập trình bằng ngôn ngữ Matlab để giải, với thuật toán được dùng là  
quy hoạch phi tuyến. Bài toán được đánh giá bằng cách so sánh với  
một số kết quả đã có.  
5. Bố cục của luận án  
Luận án bao gồm: phần mở đầu, 4 chương, phần kết luận và kiến  
nghị với 125 trang thuyết minh, nghiên cứu 23 bài toán, cùng với 20  
3
bảng, 61 hình vẽ đồ thị, 62 tài liệu tham khảo và phần phụ lục gồm 3  
chương trình tính với 27 trang viết bằng ngôn ngữ lập trình Matlab.  
CHƢƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT VÀ TẢI TRỌNG  
GIỚI HẠN CỦA NỀN ĐẤT TỰ NHIÊN DƢỚI TÁC DỤNG  
CỦA TẢI TRỌNG NỀN ĐƢỜNG ĐẮP  
1.1. Nền đƣờng đắp  
Nền đường đắp thường là một công trình bằng đất, ổn định toàn  
khối và cường độ của nó phụ thuộc phần lớn vào nền đất tự nhiên ở  
phía dưới. Trắc ngang  
thông thường của nó  
như hình 1.1 với B và  
H - là chiều rộng và  
chiều cao nền đắp;  
Hình 1.1. Trắc ngang của nền đường đắp  
(1 - nền đất tự nhiên; 2 - nền đường đắp)  
1/m - là độ dốc ta luy.  
1.2. Nền đất yếu  
Đất yếu rất phổ biến ở Việt Nam, với đặc điểm cơ lý và trạng thái  
thường gặp của đất yếu thì sức chịu tải hay tải trọng giới hạn nhỏ và  
rất khó đảm bảo chịu được tải trọng nền đường đắp bên trên, khi đó  
hiện tượng mất ổn định theo dạng phình trồi dễ dàng xảy ra nhất.  
Nguy cơ mất ổn định càng lớn khi đất yếu phân bố ngay trên bề  
mặt nền và dễ xảy ra trong hoặc ngay sau quá trình đắp nền đường.  
1.3. Tải trọng của nền đƣờng đắp tác dụng lên nền đất tự nhiên  
Đối với nền đất tự nhiên chịu tác dụng tải trọng nền đường đắp, thì  
tải trọng nền đường đắp được xem là tải trọng móng mềm, áp lực tại  
mỗi điểm trên mặt thoáng chính bằng trọng lượng cột đất ở phía trên.  
1.4. Trạng thái ứng suất và tải trọng giới hạn của nền đất  
- Lý thuyết biến dạng tuyến tính  
Trạng thái ứng suất trong bài toán phẳng, được đặc trưng bằng ba  
thành phần x, z, xz thỏa mãn hai điều kiện:  
4
+ Điều kiện cân bằng tĩnh:  
  
z  
xz  
z
  
(1.4)  
(1.5)  
x  
x xz  
0  
x  
z  
trong đó: - trọng lượng thể tích của đất.  
+ Điều kiện liên tục:  
2 (z x ) 0  
với: 2 - toán tử Laplace.  
Điều kiện tăng tải một chiều, các bài toán đàn hồi, ví dụ bài toán  
Boussinesq, bài toán Flamant, bài toán bàn nén…trong lý thuyết đàn  
hồi đều được ứng dụng trong cơ học đất và thường dựa vào điều kiện  
phá hoại Mohr – Coulomb để xác định khu vực biến dạng dẻo.  
Xét bài toán như hình 1.6 với: p và b - là tải trọng và chiều rộng  
đáy móng và q - là tải  
trọng bên. N. P.  
Puzyrevsky đã giải với  
giả thiết ứng suất do  
trọng lượng bản thân  
o
gây ra zo = x hay hệ  
Hình 1.6. Bài toán phẳng  
số áp lực ngang k=1,0.  
Tìm tải trọng giới hạn pgh khi điểm biến dạng dẻo vừa mới xuất hiện ở  
hai mép đáy móng. Nếu xét nền đất có c 0, = 0, = 0 ta có:  
pgh=c  
(1.26)  
với: c - lực dính đơn vị của đất.  
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu khác như của N. N. Maslov; I. V.  
Iaropolxki; V. A. Florin, M. V. Malưsev; M. I. Gorbunov – Poxadov;  
Sakhunhian; Đặng Hữu…  
Hạn chế của lý thuyết này là bởi nếu đất bị trượt thì một phần nền  
đất không còn nằm trong giai đoạn biến dạng tuyến tính nữa. Thực tế,  
để áp dụng được người ta quy định chiều sâu phát triển tối đa của khu  
vực biến dạng dẻo là 1/4 chiều rộng tải trọng.  
5
- Lý thuyết cân bằng giới hạn  
+ Cơ sở của lý thuyết: dùng mô hình cứng - dẻo; công nhận thuyết  
phá hoại Mohr – Coulomb; giả thiết khi khối đất bị phá hoại thì mọi  
điểm của khối đất đều cùng đạt trạng thái ứng suất giới hạn.  
+ Các lời giải của hệ phương trình cơ bản:  
Lời giải của L. Prandtl (móng cứng có chiều rộng b, đáy móng trơn  
nhẵn và không xét trọng lượng nền đất = 0) như hình 1.9.  
I
III  
II  
Hình 1.9. Sơ đồ các vùng cân bằng giới hạn và các mặt trượt  
Nếu xét nền đất có góc ma sát trong = 0, ta có:  
pgh = (+2)c+q  
(1.25)  
và các lời giải điển hình khác của Novotortsev, V. V. Sokolovski …  
Thực tế xây dựng và thí nghiệm mô hình đã chứng tỏ rằng khi khối  
đất bị phá hoại, các điểm của khối đất không đạt trạng thái phá hoại  
cùng lúc mà có nơi đang ở trạng thái cân bằng bền. Mặc dù vậy, lý  
thuyết này vẫn mô phỏng một cách gần đúng sự làm việc của nền khi  
mất ổn định.  
- Lý thuyết đàn - dẻo dùng cho khối đất  
Lý thuyết đàn - dẻo xét đến ứng xử đàn hồi trước khi đất đạt tới  
trạng thái cân bằng giới hạn. Lý thuyết này đã xét đến thực tế ứng xử  
khách quan của khối đất. Các công trình nghiên cứu V. A. Florin, D.  
E. Plosin, I. V. Iaropoxki… đặc biệt là lý thuyết Cam - Clay.  
- Các phương pháp dùng mặt trượt giả định  
Đặc điểm là không căn cứ trực tiếp vào tình hình cụ thể của tải  
trọng và tính chất cơ lý của nền đất quy định mặt trượt cho nền đất,  
như các phương pháp sau:  
+ Phương pháp mặt trượt giả định mặt phẳng;  
+ Phương pháp mặt trượt trụ tròn: được 22TCN262-2000 sử dụng;  
6
+ Phương pháp mặt trượt theo lý luận cân bằng với nền đồng  
nhất: Dựa vào lời giải của Prandtl mà chia khối đất thành ba vùng I, II  
và III (hình 1.9), mỗi vùng được coi như vật thể rắn và kết hợp với  
thực nghiệm. Các nghiên cứu của K. Terzaghi, V. G. Berezansev,  
Vesic, P. D. Ebdokimov, Phan Trường Phiệt… đưa về biểu thức:  
pgh Nb Nqq Ncc  
(1.31)  
với: N, Nq, Nc - là các hệ số không thứ nguyên, phụ thuộc vào .  
Nghiên cứu của P. D. Ebdokimov được TCVN 4253-1986 và SNiP  
– 85 quy định dùng.  
Từ công thức (1.31) có thể thấy tải trọng giới hạn của nền đất còn  
phụ thuộc vào đặc tính của công trình (b và q).  
Tuy nhiên, trong những điều kiện phức tạp của nền đất và tải trọng  
thì phương pháp dùng mặt trượt giả định vẫn được dùng để xác định  
sức chịu tải hay tải trọng giới hạn của nền đất.  
- Phương pháp phân tích giới hạn  
Nhờ dùng hai định lý phân tích giới hạn mà không cần đi sâu vào  
phân tích dẻo cho phép không những xác định được tải trọng giới hạn  
của nền đất mà cả trạng thái ứng suất giới hạn.  
- Phương pháp xác định ứng suất theo điều kiện ứng suất tiếp lớn  
nhất đạt giá trị nhỏ nhất trong nền đất  
Nghiên cứu đất với giả thiết là vật liệu hạt rời, xem nền đất ổn  
định theo điều kiện ứng suất tiếp lớn nhất đạt giá trị nhỏ nhất, Ngô Thị  
Thanh Hương đã bổ sung điều kiện (1.32) để xác định trạng thái ứng  
suất. Đây là phương pháp mới, mô tả tương đối phù hợp điều kiện làm  
việc của nền đất.  
1
(1.32)  
m2 axdV min  
Z   
V G  
trong đó: max - ứng suất tiếp lớn nhất tại điểm đang xét;  
G - mô đun trượt của đất;  
V - miền lấy tích phân hoặc thể tích khối đất được xét.  
Trong bài toán phẳng thì kết hợp (1.32) với (1.4). Bài toán này đã  
chứng tỏ có nghiệm duy nhất. Tuy vậy, các nghiên cứu theo phương  
7
pháp này còn ít.  
1.5. Giải pháp tăng cƣờng sức chịu tải (tải trọng giới hạn) của nền  
đất yếu  
Giải pháp công nghệ xây dựng nền đắp trên đất yếu có thể chia  
thành hai nhóm: nhóm 1 - các giải pháp tác động đến nền đường đắp;  
nhóm 2 - các giải pháp tác động đến nền đất yếu.  
Bệ phản áp thuộc nhóm 1, là một giải pháp lâu đời được sử dụng  
nhiều để làm tăng tải trọng giới hạn nền đất yếu dưới nền đường đắp,  
giải pháp này có nhiều tác dụng và ưu điểm. Tuy vậy, tính toán thiết  
kế còn dựa vào kinh nghiệm và các phương pháp gần đúng.  
1.6. Kết luận  
Nghiên cứu trạng thái ứng suất nền đất tự nhiên dưới tác dụng của  
tải trọng nền đường đắp, với giả thiết tải trọng nền đường đắp là móng  
mềm. Đặc biệt là nghiên cứu ở trạng thái ứng suất giới hạn, với giả  
thiết đất là vật liệu hạt rời, tìm phương pháp toán xét được đầy đủ  
trọng lượng bản thân nền đất để thiết kế nền đường đắp, bao gồm cả  
việc thiết kế bệ phản áp là vấn đề mới, mang ý nghĩa khoa học và tính  
thực tế cấp thiết.  
CHƢƠNG 2  
NGHIÊN CỨU TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT TRONG NỀN ĐẤT  
TỰ NHIÊN DƢỚI TÁC DỤNG CỦA TRỌNG LƢỢNG  
BẢN THÂN VÀ TẢI TRỌNG NỀN ĐƢỜNG ĐẮP  
2.1. Đặt vấn đề  
Đất là vật liệu hạt rời, liên kết giữa các hạt rất yếu nên độ bền kéo  
rất nhỏ và thường cho bằng không. Vì vậy, nghiên cứu trạng thái ứng  
suất hữu hiệu trong nền đất, bằng việc bổ sung điều kiện ổn định  
(1.32) là phù hợp quá trình hình thành và tồn tại của nền đất tự nhiên.  
Trên nền đường đắp thường có xe cộ chạy. Tuy nhiên, khi nền  
đường đắp đủ chiều cao có thể xem tải trọng của nền đường đắp trên  
nền đất tự nhiên là tải trọng tĩnh, có phương thẳng đứng.  
8
2.2. Xây dựng bài toán trạng thái ứng suất trong nền đất tự nhiên  
dƣới tải trọng của nền đƣờng đắp  
- Việc bổ sung điều kiện (1.32) với hệ phương trình (1.4) tạo thành  
bài toán quy hoạch có ràng buộc. Bài toán này có thể xem là bài toán  
biến phân, thực hiện phép tính biến phân sẽ nhận được ba phương  
trình xác định ba ẩn x, z, xz như sau:  
2
z x 0  
z zx  
  
(2.26)  
z  
x  
x xz  
0  
x  
z  
Tuy vậy, khi xây dựng các bài toán sau này còn có chứa các bất  
đẳng thức và để có thể sử dụng những thành tựu mới về toán quy  
hoạch, ta chọn cách giải trực tiếp hàm mục tiêu (1.32) với ràng buộc là  
hệ phương trình (1.4) để xác định trạng thái ứng suất hữu hiệu.  
- Xét bài toán phẳng như hình 2.3,  
trong đó tải trọng nền đường đắp là  
tải trọng phân bố đều, có cường độ p,  
’z  
phương thẳng đứng, chiều rộng b.  
’x  
’  
Xác định trạng thái ứng suất hữu hiệu  
’x, ’z và ’xz là bài toán tìm cực  
tiểu của hàm mục tiêu:  
Hình 2.3. Bài toán phẳng  
2  
1
' '  
'2 dV min  
z
x   
Z   
xz   
(2.28)  
V G  
2
thỏa mãn các ràng buộc sau:  
+ Điều kiện cân bằng tĩnh:  
' 'xz  
z
  
z  
x  
'x 'xz  
(2.27)  
(2.29)  
0  
x  
z  
+ Đất là vật liệu không chịu kéo:  
’x ≥ 0 và ’z ≥ 0  
9
+ Điều kiện bền Mohr – Coulomb:  
' '  
'z '  
2  
'2xz   
x sinccos0  
z
x   
f (k)   
(2.30)  
(2.31)  
2
2
+ Điều kiện biên mặt thoáng của bài toán:  
b
là ẩn số  
x   0 'z 0; 'xz 0; 'x
2
b
x   0 'z p; 'xz 0; 'x
l
à
ẩ
n số  
2
Đây là bài toán quy hoạch phi tuyến.  
2.3. Phƣơng pháp giải bài toán trạng thái ứng suất trong nền đất  
tự nhiên dƣới tải trọng của nền đƣờng đắp  
- Lời giải bằng phương pháp sai phân hữu hạn và lập trình bằng  
ngôn ngữ Matlab với thuật toán được dùng là quy hoạch phi tuyến.  
Chương trình có tên là Damk1.  
Nghiệm của bài toán xác định trạng thái ứng suất trong đất ở trạng  
thái chưa giới hạn. Đồng thời tính được giá trị bền f(k), theo phương  
trình 2.30 và xác định được vùng biến dạng dẻo (vùng có f(k) = 0).  
2.4. Trạng thái ứng suất trong nền đất tự nhiên  
2.4.1. Trạng thái ứng suất trong nền đất tự nhiên chịu trọng lượng  
bản thân  
Khảo sát nền đất tự nhiên có mặt thoáng nằm ngang, khi không  
chịu tải trọng ngoài, cho thấy:  
- So sánh ’z với z cho sai lệch rất nhỏ, ’xz 0. Do đó, có thể coi  
trong nền đất tự nhiên đồng nhất có mặt thoáng nằm ngang thì ’z =  
’x = z, ’xz = 0;  
- Giá trị bền f(k) < 0, khi đất có = 0 thì f(k) = -c tại mọi điểm  
trong nền đất, còn khi ≠ 0 thì f(k) càng xuống sâu càng giảm (giá trị  
âm) cho thấy trong nền đất không có điểm bị biến dạng dẻo và đất  
càng ổn định khi ở độ sâu càng lớn.  
Nhận thấy, kết quả phản ánh thực tế điều kiện làm việc của nền  
đất, đồng thời so sánh với một số kết quả đã có và thấy là việc xây  
10  
dựng mô hình, lời giải bài toán hợp lý và có thể sử dụng để nghiên  
cứu các trường hợp khác.  
2.4.2. Trạng thái ứng suất trong nền đất tự nhiên dưới tải trọng của  
nền đường đắp  
Xét nền đất tự nhiên có c = 15 kPa, = 5o và = 10 kN/m3; tải  
trọng nền đắp có b = 8 m và p = 2c.  
Kết quả được biểu đồ ứng suất ’z và ’x như hình 2.14.  
0
1
0
1
n0  
n0  
n0-1  
n0-2  
n0-3  
n0-1  
n0-2  
n0-3  
2
2
3
3
4
4
5
5
6
6
7
7
8
8
9
9
10  
11  
10  
11  
0
20  
40  
60  
80 100 120 140 160 180 200 220 240  
0
20  
40  
60  
80 100 120 140 160 180 200 220 240  
’z (kPa)  
’x (kPa)  
Hình 2.14. Biểu đồ ứng suất ’z và ’x  
(n0; n0-1;n0-2 và n0-3 – phương đứng tương ứng tại tim, mép, cách  
mép tải trọng nền đường đắp b/2 và b)  
2.4.3. Khảo sát sự xuất hiện và phát triển vùng biến dạng dẻo  
Xét nền đất tự nhiên có c = 10 kPa; = 0 và = 0; tải trọng nền  
đắp có chiều rộng b. Cho p tăng dần từ 0 lên để khảo sát sự xuất hiện  
và thay đổi của vùng biến dạng dẻo. Kết quả như sau:  
- Khi p = 0 đến 3,00c  
0
2
-4  
-2  
0
0
-9  
-1  
-3  
-9  
trong nền đất không có  
điểm biến dạng dẻo; khi p  
= 3,01c thì xuất hiện đầu  
tiên hai điểm biến dạng  
dẻo dưới hai mép tải trọng  
ở độ sâu b/2, đồ thị đường  
đẳng bền như hình 2.15.  
Trên hình 2.15 ta thấy  
-5  
-6  
-7  
4
-8  
6
-9  
8
10  
-10  
-8  
-6  
-4  
-2  
0
2
4
6
8
10  
x (b/2)  
Hình 2.15. Đường đẳng bền f(k)  
điểm bị biến dạng dẻo có giá trị bền f(k) = 0 và càng xa hai vị trí này  
thì giá trị bền f(k) càng giảm (giá trị âm) cho thấy đất càng ổn định;  
11  
Điểm biến dạng dẻo đầu tiên xuất hiện khác vị trí (độ sâu) so với  
vị trí hai mép móng của N. P. Puzyrevski nhưng giá trị tải trọng giới  
hạn sai lệch nhỏ (khoảng 4,1%);  
- Khi tăng dần p = 3,01c đến p = 4,29c thì sơ đồ xuất hiện và phát  
triển của các điểm bị biến dạng dẻo lần lượt là a, b, c, d, e, f, g trên  
hình 2.16.  
Hình 2.16. Sơ đồ các điểm chảy dẻo  
(- điểm bị biến dạng dẻo)  
Trên hình 2.16 ta thấy khi tải trọng p tăng lên thì các điểm biến  
dạng dẻo bắt đầu phát triển rộng ra mọi phía để nhập vào làm một  
vùng, diện tích lớn dần lên và phát triển lên mặt thoáng ngay dưới tải  
trọng nền đường đắp.  
CHƢƠNG 3  
NGHIÊN CỨU TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT GIỚI HẠN TRONG  
NỀN ĐẤT TỰ NHIÊN DƢỚI TÁC DỤNG CỦA TẢI TRỌNG  
NỀN ĐƢỜNG ĐẮP VÀ BỆ PHẢN ÁP  
3.1. Nghiên cứu trạng thái ứng suất trong nền đất tự nhiên dƣới  
tác dụng của tải trọng nền đƣờng đắp và bệ phản áp  
12  
3.1.1. Xây dựng bài toán  
Bài toán phẳng như hình 3.1,  
trong đó tải trọng bệ phản áp phân bố  
đều có cường độ q (kPa) và chiều  
rộng L (m). Xét trạng thái ứng suất  
hữu hiệu, gồm ’x, ’z và ’xz .  
’z  
’xz  
’x  
Nhận thấy, trước khi chịu tải  
trọng ngoài, nền đất tự nhiên ổn định  
và chịu các ứng suất do trọng lượng  
Hình 3.1. Bài toán phẳng  
bản thân gây ra, gồm ’o ; ’o ’o . Chọn hệ so sánh là trạng thái ứng  
x
z
xz  
suất này và sử dụng phương pháp nguyên lý cực trị Gauss, ta được:  
o
o
('z 'z ) ('xz 'xz )  
0  
z  
x  
('x 'ox ) ('xz 'oxz )  
(3.5b)  
0  
x  
z  
Giả sử, đã biết ’o , ’o , ’o thì hệ phương trình (3.5b) có vô số  
x
z
xz  
nghiệm. Do đó, ta kết hợp hệ này với điều kiện (2.28).  
Như vậy, bài toán xác định trạng thái ứng suất là tìm cực tiểu của  
hàm mục tiêu (2.28) với các ràng buộc:  
- Hệ phương trình (3.5b): sử dụng kết quả nghiên cứu ở mục 2.4.1  
của chương 2 ta có ’o = ’o = z; ’oxz = 0;  
x
z
- Các điều kiện (2.29); (2.30) và điều kiện biên mặt thoáng.  
3.1.2. Xây dựng phương pháp giải bài toán  
- Lời giải bằng phương pháp sai phân hữu hạn, khối đất được chia  
thành sơ đồ lưới sai phân  
hữu hạn như hình 3.3.  
Trong hình 3.3 ký  
hiệu: x, z và na; ma -  
kích thước của ô lưới và  
của lưới sai phân; n0 -  
điểm giữa của lưới ở mặt  
thoáng, với n0=(1+ na)/2;  
Hình 3.3. Sơ đồ lưới sai phân hữu hạn  
13  
i và j - vị trí hàng i và cột j của nút trong lưới sai phân.  
Viết các phương trình bài toán dạng sai phân hữu hạn (gồm cả điều  
kiện biên của khối đất được viết dưới dạng bình phương tối thiểu) và  
lập trình tính bằng ngôn ngữ Matlab với thuật toán được dùng là quy  
hoạch phi tuyến. Chương trình có tên là Damk3.  
3.1.3. Trạng thái ứng suất trong nền đất tự nhiên  
Để so sánh với nghiên cứu ở mục 2.4.2 và 2.4.3 ta khảo sát các bài  
toán có chỉ tiêu tương tự về nền đất (c, , ) và tải trọng nền đường  
đắp (p, b), chỉ khác là có thêm tải trọng bệ phản áp với L = b/2 và q =  
c. Cho thấy, theo sự tăng lên của p, điểm biến dạng dẻo xuất hiện đầu  
tiên trên trục tim tải trọng nền đắp ở độ sâu b/2 trong nền đất, sau đó  
phát triển rộng ra các phía và phát triển lên mặt thoáng ngay dưới tải  
trọng nền đường đắp.  
3.2. Nghiên cứu trạng thái ứng suất giới hạn trong nền đất tự  
nhiên dƣới tác dụng của tải trọng nền đƣờng đắp và bệ phản áp  
3.2.1. Đặt vấn đề  
Giá trị lớn nhất của tải trọng ngoài tương ứng với một cơ cấu phá  
hỏng cho phép chính là tải trọng giới hạn, chẳng hạn như căn cứ vào  
phát triển vùng biến dạng dẻo. Cách làm này là tiêu chuẩn phá hoại  
khó xác định và có nhiều quan điểm khác nhau. Vì vậy, để xác định  
tải trọng giới hạn và trạng thái ứng suất tương ứng hay trạng thái ứng  
suất giới hạn ta sử dụng định lý giới hạn dưới.  
3.2.2. Xây dựng bài toán trạng thái ứng suất giới hạn  
Theo định lý phân tích giới hạn, khi tăng tải trọng ngoài p (là tải  
trọng nền đường đắp) thì trạng thái ứng suất tăng lên. Giả sử mỗi điểm  
trong đất đều có khả năng đạt trạng thái ứng suất giới hạn, theo điều  
kiện bền Mohr – Coulomb thì f(k) = 0, trạng thái ứng suất giới hạn  
trong nền đất được xác định dưới dạng bình phương tối thiểu như sau:  
2  
1
' '  
'z 'x  
2  
'2xz   
sinccosdV  
z
x
Zmax  
G  
(3.11)  
2
2
V
p min  
14  
trong đó: p - giá trị lớn nhất của tải trọng nền đường đắp để nền đất tự  
nhiên ở trạng thái giới hạn.  
Kết hợp phương trình (3.11) với bài toán ở mục 3.1.1 được bài toán  
xác định trạng thái ứng suất giới hạn là tìm cực tiểu của hàm mục tiêu:  
2  
1
' '  
'2 dV  
z
x
Z   
xz   
V G  
2
2  
(3.12)  
2  
1
' '  
'z 'x  
'2xz   
sinccosdV  
z
x
G  
2
2
V
p min  
Hàm mục tiêu (3.12) cần thỏa mãn các ràng buộc sau:  
- Hệ phương trình (3.5b);  
- Các điều kiện (2.29); (2.30);  
- Điều kiện biên mặt thoáng của bài toán, như sau:  
b
là ẩn số  
L ' 0; ' 0; '
x   
z
xz  
x
2
b
b
x   
L ' q; ' 0; '
(3.13)  
là ẩn số  
z
xz  
x
2
2
b
x  ' 0; ' p '
là ẩn số  
là ẩn số  
xz  
z
x
2
Đây cũng là bài toán quy hoạch phi tuyến, tính phi tuyến thể hiện ở  
hàm mục tiêu (3.12) và phương trình (2.30).  
3.2.3. Phương pháp giải bài toán trạng thái ứng suất giới hạn  
- Lời giải bằng phương pháp sai phân hữu hạn và lập trình bằng  
ngôn ngữ Matlab với thuật toán được dùng là quy hoạch phi tuyến.  
Chương trình có tên là Damk4.  
3.3. Trạng thái ứng suất giới hạn trong nền đất tự nhiên dƣới tác  
dụng của tải trọng nền đƣờng đắp và bệ phản áp  
15  
3.3.1. Khảo sát ảnh hưởng của lưới sai phân hữu hạn đến tải trọng  
giới hạn  
Tải trọng giới hạn sai lệch nhỏ khi thay đổi kích thước ô lưới (x  
và z ) và lưới sai phân hữu hạn (na và ma), hay số nút trên lưới trên  
hình 3.3 (sai lệch nhỏ hơn 1%). Cho thấy được lời giải bài toán bằng  
phương pháp sai phân hữu hạn là ổn định và để thuận tiện có thể chọn  
x = z = 1 m và na = 25, ma = 13 để cho các tính toán sau.  
3.3.2. Khảo sát đánh giá kết quả bài toán trạng thái ứng suất giới hạn  
Không xét trọng lượng nền đất tự nhiên (= 0) và chiều rộng tải  
trọng nền đường đắp, khảo sát bài toán để so sánh với của L. Prandtl.  
Cho thấy trường hợp = 0 còn q = 0 ÷ 3c thì sai lệch từ +1,41% đến  
+13,96%; trường hợp q = 0 và = 0 ÷ 25o thì sai lệch +1,41% đến -  
16,88% và càng lớn thì tải trọng giới hạn càng nhỏ hơn của Prandtl.  
Có thể coi sự sai lệch này không lớn. Tuy nhiên, ở trạng thái giới hạn  
0
-3  
trong nền đất chỉ xuất  
hiện một vùng biến dạng  
dẻo hữu hạn như hình  
3.11, là khác với của  
Prandtl khi coi mọi điểm  
trong nền đất đều bị biến  
dạng dẻo. Những điều đó  
có thể thấy được tính hợp  
lý của bài toán và lời giải  
chính xác.  
0
-4  
-0.5  
-1.5  
-2.5  
-1  
-2  
-4  
-5  
-5  
2
-5  
-5  
4
-5.5  
-5  
-5 -5.5  
-5  
-
6
-5  
-5  
-5  
8
-5  
-5 -5  
-5  
-5  
-5  
10  
-5  
-5  
-10  
-5  
-5  
-8  
-5  
-6  
-4  
-2  
0
2
4
6
8
10  
x (m)  
Hình 3.11. Đồ thị đường đẳng bền f(k)  
3.3.3. Khảo sát ảnh hưởng của chiều rộng tải trọng nền đắp đến tải  
trọng giới hạn  
Khi thay đổi chiều rộng tải trọng nền đường đắp b = 2 ÷ 18 m ứng  
với trường hợp nền đất có = 0 ÷ 10 kN/m3 và = 0 ÷ 10o thì tải  
trọng giới hạn thay đổi nhỏ hơn 1,69%. Như vậy, có thể coi tải trọng  
giới hạn không phụ thuộc vào chiều rộng tải trọng nền đường đắp b,  
kể cả việc có xét ;  
16  
3.3.4. Khảo sát ảnh hưởng của trọng lượng nền đất đến tải trọng  
giới hạn  
Xét nền đất có = 0 ÷ 10o thì tải trọng giới hạn tăng lên khi có xét  
. Tuy vậy mức độ tăng phụ thuộc vào . Khi nhỏ (  0) thì tải  
trọng giới hạn tăng tuyến tính với c mà không phụ thuộc vào .  
3.3.5. Khảo sát đường đẳng bền và vùng biến dạng dẻo  
Xét nền đất có = 0 ÷ 10 kN/m3 và = 0 ÷ 10o, tải trọng bên có q  
= 0 ÷ c và L = 0 ÷ +thì ở trạng thái giới hạn thì vùng biến dạng dẻo  
liên tục sát mặt thoáng dưới tải trọng nền đắp có chiều rộng lớn nhất  
từ 2b ÷ 5b, chiều sâu từ b ÷ 1,5b. Một số ví dụ về đường đẳng bền f(k)  
và vùng biến dạng dẻo f(k)=0 như sau:  
- Khi xét c = 10 kPa, = 0, = 0; b; q = 0 và L = 0, hình 3.15.  
0
-5  
0
-
-0.5  
2
4
-1  
-2  
-1.5  
-2.5  
-3.5  
-3  
-4  
-4.5  
-5  
-5  
-5  
-5  
6
-5  
-5  
-5  
-
8
-5  
-5  
10  
-10  
-8  
-6  
-4  
-2  
0
2
4
6
8
10  
x (b/2)  
Hình 3.15. Đồ thị đường đẳng bền f(k)  
- Khi xét c = 10 kPa, = 0, = 10o; b; q = c và L = b/2, hình 3.20.  
-1  
-1  
0
0
0
-1  
-2  
0
2
-5  
-3  
-4  
4
-5  
6
-5  
-5  
8
-5  
-5  
8
-5  
4
-6  
-6  
10  
-5  
0
-10  
-8  
-6  
-4  
-2  
2
6
10  
x (b/2)  
Hình 3.20. Đồ thị đường đẳng bền f(k)  
- Khi xét c = 10 kPa, = 10 kN/m3, = 10o; b; q = c và L = +,  
hình 3.24.  
17  
0
2
-6  
-6  
0
-6  
-2  
-8  
-4  
4
-10  
6
8
10  
-12  
-4  
-12  
-10  
-8  
-6  
-2  
0
2
4
6
8
10  
x (b/2)  
Hình 3.24. Đồ thị đường đẳng bền f(k)  
Dưới đáy tải trọng nền đường đắp không thấy tồn tại "lõi đất" hay  
"nêm đất". Cho thấy sự khác biệt so với dưới móng cứng.  
3.3.6. Khảo sát ảnh hưởng của tải trọng bệ phản áp đến vùng biến  
dạng dẻo  
Xét nền đất có c 0, = 0, = 0, cho q = c và L tăng lên thì chiều  
rộng và chiều sâu lớn nhất của vùng biến dạng dẻo (bd và hd) tăng lên  
nhưng sau đó lại giảm xuống và tồn tại L để phạm vi tải trọng ngoài  
bằng với bd, còn khi cho L = b/2 và q tăng lên thì bd và hd tăng lên.  
Mặc dù xét một trường hợp riêng nhưng cũng có thể thấy tải trọng  
bệ phản áp ảnh hưởng phức tạp đến vùng biến dạng dẻo nền đất tự  
nhiên nói chung.  
CHƢƠNG 4  
NGHIÊN CỨU BỆ PHẢN ÁP ĐỂ LÀM TĂNG TẢI TRỌNG  
GIỚI HẠN CỦA NỀN ĐẤT YẾU DƢỚI TẢI TRỌNG  
NỀN ĐƢỜNG ĐẮP  
4.1. Đặt vấn đề  
Với quan điểm tăng cường sức chịu tải hay làm tăng tải trọng giới  
hạn, sử dụng bài toán trạng thái ứng suất giới hạn ở trên để nghiên cứu  
bệ phản áp cho nền đường đắp trên đất yếu.  
Lưu ý một số kết quả ở chương 3.  
- Khi xét thì pgh của nền đất tăng lên. Tuy nhiên nếu trong nhỏ  
thì mức độ tăng rất ít. Nếu nền đất có = 10o, thì tải trọng giới hạn ở  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 20780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu trạng thái ứng suất giới hạn trong nền đất tự nhiên dưới tác dụng của tải trọng nền đường đắp và bệ phản áp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_trang_thai_ung_suat_gioi_han_trong_nen_da.pdf