Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu tương quan giữa hàm lượng Chì (Pb), Cadmi (Cd) ở Vẹm xanh (Perma viridis), Sò lông (Anadra subcrenata) và trong trầm tích tại vịnh Đà Nẵng

Công trình ñược hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
NGUYỄN DUY PHƯƠNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ HỒNG HÀ  
Phản biện 1: ……………………………………………..  
Phản biện 2: ……………………………………………..  
NGHIÊN CỨU TƯƠNG QUAN GIỮA HÀM LƯỢNG  
CHÌ (Pb), CADMI (Cd) Ở VẸM XANH (PERMA VIRIDIS),  
SÒ LÔNG (ANADRA SUBCRENATA) VÀ  
TRONG TRẦM TÍCH TẠI VỊNH ĐÀ NẴNG  
Luận văn sẽ ñược bảo vệ trước Hội ñồng chấm luận  
văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học họp tại Đại học Đà Nẵng  
Chuyên ngành : SINH THÁI HỌC  
Mã số  
:
60.42.60  
vào ngày  
tháng  
năm 2011.  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Có thể tìm hiểu Luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng;  
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.  
Đà Nẵng - Năm 2011  
3
4
MỞ ĐẦU  
làm sạch môi trường. Vì vậy nhằm góp phần ñánh giá hiện trạng môi  
trường và nghiên cứu khả năng tích lũy các KLN Pb, Cd trong một số  
loài ñộng vật thân mềm hai mảnh vỏ, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề  
tài: “Nghiên cứu tương quan giữa hàm lượng Chì (Pb), Cadmi (Cd) ở  
Vẹm xanh (Perma viridis), Sò lông (Anadra subcrenata) và trong  
trầm tích tại vịnh Đà Nẵng”.  
1. Lý do chọn ñề tài  
Sự tích lũy và ñào thải kim loại nặng (KLN) trong nhuyễn thể hai  
mảnh vỏ ñã ñược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía  
cạnh khác nhau. Tuy nhiên quá trình tích lũy và ñào thải kim loại ñộc  
hại Chì (Pb), Cadmi (Cd) ñối với Vẹm xanh (Perma viridis) và Sò lông  
(Anadra subcrenata) phụ thuộc vào nồng ñộ KLN trong môi trường  
cũng như bản chất hóa học của từng kim loại thì còn rất ít các công  
trình công bố.  
2. Mục ñích của ñề tài  
- Xác ñịnh hàm lượng Pb, Cd tích lũy trong Vẹm xanh và Sò  
lông tại Vũng Thùng, Cu Đê, Phú Lộc thành phố Đà Nẵng.  
- Đánh giá mức ñộ an toàn của hai loài Vẹm xanh và Sò lông  
trong việc sử dụng làm thực phẩm.  
Do sự phong phú, phân bố rộng, tập tính sống tĩnh và khả năng  
tích lũy KLN ở mức cao hơn hàm lượng ñược tìm thấy trong nước biển,  
Vẹm xanh và Sò lông ñược sử dụng như một sinh vật chỉ thị của việc ô  
nhiễm KLN. Đây là một phương pháp mới ñang ñược phát triển trên thế  
giới. Ngoài ra, phương pháp giám sát ô nhiễm KLN bằng chỉ thị sinh  
học (bioindicator) còn có những ưu ñiểm như: tần suất thu mẫu thấp, có  
khả năng phát hiện và cảnh báo sớm ô nhiễm KLN, ñánh giá ñược các  
tác ñộng của ô nhiễm KLN ñối với hệ sinh thái…  
- Cơ sở khoa học cho việc sử dụng hai loài Vẹm xanh và Sò lông  
làm sinh vật giám sát ô nhiễm.  
3. Nội dung nghiên cứu  
- Khảo sát hàm lượng Pb, Cd trong Sò lông và Vẹm xanh.  
- Xác ñịnh hàm lượng Pb, Cd trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu  
- Phân tích mối tương quan giữa sự tích lũy Pb, Cd trong trầm  
tích và trong mô của 2 loài Sò lông và Vẹm xanh.  
Do ñó thông qua việc phân tích hàm lượng KLN tích lũy trong  
mô một số loài ñộng vật hai mảnh vỏ có thể ñánh giá ñược mức ñộ ô  
nhiễm KLN trong môi trường, qua ñó có thể tìm kiếm các giải pháp  
thích hợp nhằm kiểm soát và phục hồi hiện trạng ô nhiễm môi trường.  
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm phát triển công nghiệp và kinh  
tế trọng ñiểm của khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Với ñiều kiện khí  
hậu và ñịa lý khá thuận lợi, Đà Nẵng có những tiềm năng lớn về du lịch,  
nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hiện nay phát triển công nghiệp và ñô  
thị ở Đà Nẵng ñã có những tác ñộng tiêu cực ñến môi trường như: xả  
các chất thải trong sản xuất và sinh hoạt, giao thông vận tải, gây ảnh  
hưởng tới môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái cảnh quan và tài  
nguyên. Động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) là những loài ñược chú ý ñầu  
tiên do khả năng lọc nước và làm giảm khả năng nở hoa của tảo. Vẹm  
xanh (Perma viridis) và Sò lông (Anadra subcrenata) là những ñối  
tượng có khả năng hấp thụ các muối dinh dưỡng hòa tan và có tác dụng  
4. Ý nghĩa thực tiễn của ñề tài  
-Đề tài nghiên cứu khảo sát hàm lượng Pb, Cd ñược tích lũy trong  
Sò lông và Vẹm xanh, mối quan hệ của chúng với KLN trong trầm tích  
tại vịnh Đà Nẵng, từ kết quả ñóng góp vào nguồn tư liệu về khả năng  
tích lũy KLN của các loài hai mảnh vỏ. Trên cơ sở ñó ñề xuất khả năng  
sử dụng loài Sò lông và Vẹm xanh làm sinh vật giám sát ô nhiễm KLN.  
- Phản ánh hiện trạng ô nhiễm KLN nếu có, qua ñó cảnh báo việc  
sử dụng sinh vật có khả năng tích lũy KLN làm thực phẩm.  
5. Cấu trúc của luận văn: Luận văn có 3 chương  
Luận văn ngoài phần mở ñầu và kết luận có 3 chương  
Chương 1. Tổng quan tài liệu  
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Chương 3. Kết quả và thảo luận  
5
6
CHƯƠNG 1  
vào cơ thể 225µg Pb từ các nguồn khác nhau, tiết ra ngoài 200µg còn  
lại ñược giữ lại trong xương.  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. Tổng quan về ñộc chất Cadmi  
1.3. Tình hình ô nhiễm KLN trên Thế giới và Việt Nam  
1.3.1. Trên Thế giới  
Cadmi có kí hiệu hóa học là Cd, khối lượng nguyên tử 112,411 ñ.v  
có khối lượng riêng d = 8,642 g/cm3, thuộc nhóm phân loại IIB là kim  
loại thuộc nhóm 12, số thứ tự 48 trong bảng tuần hoàn hóa học. Dạng  
tồn tại chủ yếu của Cadmi trong tự nhiên là các muối CdCl2 và CdSO4.  
Cadmi là một KLN ñược phát hiện lần ñầu tiên vào năm 1817, việc sản  
xuất Cadmi trên thế giới tăng từ 11000 tấn trong năm 1960 lên ñến  
19000 tấn năm 1985. Cadmi ñược dùng chủ yếu trong công nghiệp sản  
xuất pin, ăcquy, dùng trong sản xuất các hợp kim, phụ gia trong các  
chất nhựa, lớp men, tráng men, trong các linh kiện ñiện tử, kể cả trong  
phim ảnh và trong những thanh ñiều khiển của lò phản ứng hạt nhân.  
Ngoài ra Cadmi còn có mặt trong phân bón và một số thuốc trừ sâu bởi  
ñộc tính ñể diệt nấm và côn trùng.  
Trên Thế giới tình hình ô nhiễm KLN ñang ngày càng diễn biến  
theo chiều hướng xấu. Hàng năm hoạt ñộng sản xuất ñưa vào môi  
trường 60.000 tấn As (1975), 25.000 tấn Cd, ngoài ra tự nhiên cũng  
ñóng góp một lượng ñáng kể: 45.00 tấn As, 800 tấn Cd, 33.000 tấn Pb.  
Chì và các kim loại nặng khác ñã ngấm vào máu nhiều thế hệ trẻ  
em ở Tianying (Trung Quốc) và làm giảm chỉ số thông minh. Có tới  
60% nước sinh hoạt ở Sukinda (Ấn Độ) chứa Crom (Cr) hóa trị 6 với  
nồng ñộ lớn hơn hai lần so với các tiêu chuẩn quốc tế. Theo ước tính  
của một nhóm y tế Ấn Độ, 84,75% số người chết ở khu mỏ này ñều liên  
quan ñến các bệnh do Cr gây ra.  
1.3.2. Ở Việt Nam  
Thức ăn và nước uống là con ñường chính mà Cadmi ñi vào cơ  
thể, nhưng việc hút thuốc lá cũng là nguồn gây nhiễm kim loại này.  
Những người hút thuốc lá có thể thấm vào cơ thể lượng Cadmi từ 20 -  
36µg/ngày. Do lượng Cadmi thải ra khỏi cơ thể con người rất chậm  
(0,1% trong một ngày ñêm) nên dễ diễn ra quá trình ngộ ñộc mãn tính.  
Những triệu chứng sớm nhất của nó là tổn thương ở thận và hệ thần  
kinh, có albumin trong nước tiểu, rối loạn chức năng các cơ quan sinh  
dục, sau ñó thấy ñau dữ dội ở xương sống lưng và xương chậu  
1.2. Tổng quan về ñộc chất Chì  
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và quá trình ñô  
thị hóa ngày càng tăng, trong khi chưa có một sự quan tâm ñúng mức  
ñến môi trường ñã dẫn ñến nhiều vấn ñề, ñặc biệt là sự xâm nhập của  
KLN vào môi trường nước.  
Các kết quả quan trắc môi trường cho thấy, hàm lượng KLN tại  
vùng nước ven biển, gần các thị trấn và trung tâm công nghiệp là ñáng  
kể như: Tại Vinh hàm lượng ñồng (Cu) trung bình là 0,025 mg/l, tại  
Vũng Tàu 0,046 mg/l. Hàm lượng Cu này cao hơn từ 30 ñến 60 lần so  
với mức trung bình của hàm lượng Cu trong nước biển ở ngoài khơi là  
0,0008 mg/l, và cao gấp 2,5 ñến 4,6 lần so với TCCP của Việt Nam ñối  
với các vùng nước ven biển.  
Chì có kí hiệu hóa học là Pb, khối lượng nguyên tử 209,2, khối  
lượng riêng d = 11,35 g/cm3, là kim loại thuộc nhóm IV, số thứ tự 82  
trong bảng tuần hoàn hóa học. Trong tự nhiên Pb tồn tại dưới dạng  
quặng PbS, PbCO3, PbSO4.  
Tại Thành phố Đà Nẵng theo ñánh giá hiện trạng môi trường năm  
2005 cho thấy tại vùng cửa sông, ven biển ñang có tình trạng ô nhiễm  
một số KLN. Tại khu vực cửa sông Cu Đê, cửa sông Phú Lộc hàm  
lượng Hg trong nước vượt TCCP từ 0,08 – 0,56 lần, hàm lượng Pb vượt  
0,06 – 0,27 lần TCCP, tại khu vực cửa Mũi Vịnh hàm lượng As, Fe, Zn  
vượt tiêu chuẩn từ 2,17 – 11,4 lần TCCP.  
Chì (Pb) là chất ñộc bản chất, những hợp chất của Pb rất nguy hại  
ñặc biệt là Pb pha trong xăng, ngoài ra còn có từ các nguồn công nghiệp  
khai thác, luyện kim Pb và việc sử dụng sơn chứa Pb, thuốc trừ sâu.. Ở  
những thành phố lớn, tốc ñộ ñô thị hóa cao mỗi ngày một người ñưa  
7
8
1.4. Tình hình nghiên cứu khả năng tích lũy KLN ở các loài 2 mảnh  
vỏ trên Thế giới và Việt Nam  
nhuyễn thể hai mảnh vỏ, theo nghiên cứu của Lê Thị Mùi (2008) tại  
biển Nam Ô sự tích lũy Pb trong loài Hầu sông (Ostrea rivularis Gould)  
là 1,53 µg/g, trong Sò lông (Annadara subcrennata L.) là 2,12 µg/g,  
loài Vẹm xanh (Perma viridis) là 1,65 µg/g,…  
1.4.1. Trên Thế giới  
Động vật hai mảnh vỏ thường ñược sử dụng ñể ñánh giá ô nhiễm  
KLN vì chúng ñă ñược ñịnh loại rõ ràng, dễ nhận dạng, có kích thước  
vừa phải, số lượng nhiều, dễ tích tụ chất ô nhiễm, có thời gian sống dài  
và có ñời sống tĩnh tại. Đặc biệt là khả năng tích lũy các KLN với hàm  
lượng cao trong các bộ phận cơ thể (Simkiss và Taylor 1981).  
Trên thế giới việc sử dụng ñộng vật hai mảnh vỏ ñể ñánh giá ô  
nhiễm KLN ñã ñược sử dụng rất nhiều và ñã thiết lập ñược một tiêu  
chuẩn Quốc tế về lấy mẫu hai mảnh vỏ. Từ ñó mở rộng nghiên cứu trên  
nhiều loài khác nhau ñã giúp xác ñịnh khả năng tích lũy KLN ở từng  
loài và cho thấy ở các loài hai mảnh vỏ khác nhau có khả năng tích lũy  
KLN khác nhau (Phillip, 1977).  
Sự tích lũy KLN trong loài hai mảnh vỏ chịu ảnh hưởng nhiều  
yếu tố khác nhau, theo Vaughn và Hakenkamp (2001) và nhiều tác giả  
khác, sự tích lũy cao KLN là do chúng có sinh khối lớn, cơ chế lấy thức  
ăn ñặc biệt, tốc ñộ hấp thu hơn tốc ñộ ñào thải. Ngoài ra nhiệt ñộ, pH,  
ñộ mặn, giới tính, kích thước, khối lượng … cũng ảnh hưởng ñến khả  
năng tích lũy KLN (Phillip, 1977; Cossa, 1980; Okumus và Stirling,  
1988; Shindo và Otsuki, 1999).  
1.5. Điều kiện tự nhiên các khu vực nghiên cứu  
Vũng Thùng, Phú Lộc, Cu Đê là một trong những vịnh của Đà  
Nẵng. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt ñới, chia 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và  
mùa khô. Nhiệt ñộ trung bình năm từ 280C – 290C.  
Vùng biển vịnh Đà Nẵng có những ñặc trưng riêng về ñiều kiện  
tự nhiên, có vị thế ñặc biệt quan trọng với tài nguyên biển và an ninh  
quốc phòng trong khu vực. Đó là những ñiều kiện thuận lợi cho việc  
phát triển cảng biển và các ngành kinh tế khác, như nuôi trồng, ñánh bắt  
hải sản, du lịch, dịch vụ. Các hoạt ñộng nhân sinh như: giao thông vận  
tải, xả các chất thải trong sản xuất và sinh hoạt, gây ảnh hưởng tới môi  
trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái cảnh quan và tài nguyên. Do ñó,  
việc giám sát môi trường, ñặc biệt là giám sát ô nhiễm kim loại nặng  
trong trầm tích vùng biển vịnh Đà Nẵng sẽ góp phần làm cơ sở khoa  
học cho phát triển bền vững và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên.  
CHƯƠNG 2  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Sinh vật tích tụ - một phương pháp ñánh giá ô nhiễm kim loại nặng  
2.1.1. Sinh vật tích tụ  
1.4.2. Ở Việt Nam  
Theo nghiên cứu của Phạm Kim Phương và cộng sự trên ñối  
tượng Nghêu tại vùng biển Cần Giờ cho thấy hàm lượng KLN trong thịt  
Nghêu phụ thuộc vào từng KLN. Các KLN khác nhau thì tích lũy ở  
mức ñộ khác nhau trong cơ quan của Nghêu, như Ag tích lũy nhiều  
trong thịt và ruột Nghêu sau ñó ñến Cd và Pb, ở loài Nghêu có khả năng  
tích cao Cd so với môi trường.  
2.1.2. Điều kiện lựa chọn sinh vật tích tụ  
2.1.3. Các sinh vật thường ñược sử dụng ñể ñánh giá ô nhiễm kim  
loại nặng  
2.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng ñến ñộ chính xác của sinh vật chỉ thị  
2.1.4.1. Tốc ñộ hấp thụ và bài tiết  
Theo nghiên cứu của Lê Thị Mùi (2007) về sự tích tụ Pb và Cu  
của một số loài nhuyễn thể tại một số ñiểm ven biển Đà Nẵng cho thấy  
hàm lượng trung bình trong khoảng 1,13 - 2,12 µg/g ñối với Pb và 7,15  
-16,52 µg/g ñối với Cu.  
2.1.4.2. Đặc ñiểm sinh lý của sinh vật chỉ thị  
2.1.4.3. Tuổi và kích thước của sinh vật chỉ thị  
2.1.4.4. Sự ảnh hưởng giữa các chất  
2.1.4.5. Sự biến ñổi của môi trường  
Tại TP.Đà Nẵng cũng có một số nghiên cứu trên ñối tượng  
9
10  
2.1.4.6. Bậc dinh dưỡng  
2.3. Địa ñiểm nghiên cứu  
2.1.5. Lựa chọn kim loại nặng  
Đề tài tiến hành nghiên cứu ở 3 ñịa ñiểm, thành phố Đà Nẵng.  
Mỗi ñịa ñiểm chọn 3 khu vực ñể nghiên cứu.  
2.1.6. Cơ chế tích lũy KLN trong trầm tích vùng cửa sông và biển  
ven bờ  
2.2. Đối tượng nghiên cứu  
Hai ñối tượng ñược lựa chọn nghiên cứu trong ñề tài là loài  
- Địa ñiểm 1: Tại Vũng Thùng, Phường Nại Hiên Đông, Quận  
Sơn Trà, Đà Nẵng. Một vùng tương ñối nhạy cảm, nơi giao thoa giữa  
vùng cửa sông và ven biển.  
Vẹm xanh (Perma viridis ) và loài Sò lông (Anadara subcrennata).  
2.2.1. Vẹm xanh  
- Địa ñiểm 2: Tại kênh Phú Lộc, Quận Thanh Khê, Đà Nẵng.  
- Địa ñiểm 3: Tại cửa sông Cu Đê, Phường Hòa Hiệp Bắc, Quận  
Liên Chiểu, Đà Nẵng  
Tên khoa học: Perma viridis (Linnaeus, 1758) thuộc họ  
Veneridae, thuộc bộ Veneroidea, lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia), ngành  
Thân mềm (Mollusca).  
2.4. Thời gian nghiên cứu  
- Đề tài thực hiện từ tháng 12 năm 2010 ñến tháng 10 năm 2011.  
- Mẫu ñược thu vào 2 ñợt vào các tháng 4/2011, 7/2011.  
2.5. Phương pháp nghiên cứu  
Tên tiếng Anh: Green Mussel  
Syn: Mytilus smaragdinus Gmelin, opalus Lamarck  
Đặc ñiểm hình thái: Loài này sống ở ñộ sâu ñến 10m, tạo thành  
những quần thể rất dày ñặc. Vẹm xanh sống bám trên những giá thể  
khác nhau như vỏ tàu, thuyền, cọc gỗ ñóng ñáy. Vẹm xanh có vỏ lớn  
dạng trái xoài, ñỉnh của vỏ nằm tại ñiểm tận cùng của vỏ. Mặt bụng của  
vỏ hơi lõm cong, mép lưng và mép bụng gặp nhau tại ñỉnh vỏ, tại một  
góc 30o. Vỏ ngoài của vẹm nhỏ thường màu xanh lục, vẹm lớn màu nâu  
ñen. Mặt trong của vỏ màu trắng bạc, trơn láng và óng ánh.  
2.2.2. Sò lông  
2.5.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực ñịa  
- Đối với mẫu ñộng vật: Mẫu ñược thu dưới sự giúp ñỡ của ngư dân  
chuyên khai thác Sò lông và Vẹm xanh.  
- Đối với mẫu trầm tích: Lấy mẫu ngay tại nơi thu mẫu ñộng vật,  
mẫu ñược lưu giữ trong chai nhựa 500 ml, cố ñịnh và ñưa về phòng thí  
nghiệm (theo TCVN 6663 – 12:2000)  
2.5.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
- Định loại hình thái ñộng vật theo tài liệu của F. J. Springsteen  
và F.M.Leobrena và theo khóa ñịnh loại hình thái của Thái Trần Bái,  
Đặng Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên (1980).  
Tên khoa học: Anadara subcrennata ( Lischke, 1896, 1869)  
Tên tiếng Anh: Hakf - crenate Ark  
Đặc ñiểm hình thái: là một loài ñộng vật thân mềm thuộc họ  
sò (Arcidae), có hai mảnh vỏ hình bầu dục, ngả về phía trước. Sò lông  
có hình dạng nhỏ hơn và tròn hơn sò huyết. Hai mảnh vỏ không bằng  
nhau trong ñó vỏ bên trái lớn hơn vỏ bên phải. Mặt ngoài vỏ, có từ 30-  
35 ñường gờ, các ñường gờ tỏa ra từ ñỉnh xuống tới mép vỏ ñược cấu  
tạo bởi các vẩy xếp chồng lên nhau trông giống như ngói lợp. Da của vỏ  
màu nâu phát triển thành lông (nên mới gọi là Sò lông). Bản lề hẹp và  
hướng về phía sau. Sò lớn khoảng 48 mm chiều dài, 38 mm chiều cao  
và 32 mm bề ngang.  
- Xác ñịnh khối lượng mô bằng phương pháp cân ño thông thường.  
- Xử lí mẫu ñộng vật: mẫu ñược sấy khô ñến ñộ khô tuyệt ñối,  
nghiền thành bột sau ñó cân 5g và vô cơ hóa mẫu ñộng vật bằng dung  
dịch HClO4 + HNO3 ñặc + H2O2 .  
- Xử lý mẫu trầm tích: ñể khô tự nhiên, nghiền, rây, cân 5g mẫu  
khô, vô cơ hóa bằng axit HNO3 + HClO4 + H2O2 trong bình Kendan.  
- Xác ñịnh hàm lượng Pb, Cd tổng số trong mẫu ñộng vật và trầm  
tích bằng phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử AAS tại phòng  
11  
12  
Thí nghiệm Phân tích Môi trường khu vực II – Đài Khí tượng Thủy văn  
Trung Trung Bộ.  
3.1.1.1. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại Vũng Thùng  
Hàm lượng Pb (µg/g) trong trầm tích qua hai ñợt thu  
mẫu tại Vùng Thùng  
2.5.3. Phương pháp xử lí số liệu  
Xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm MS Excel, mô tả và so  
sánh giá trị trung bình bằng phân tích phương sai với mức ý nghĩa α =  
0,05. Phân tích và vẽ biểu ñồ so sánh tương quan bằng phần mềm  
Origin version 5.0. Các giá trị trong phân tích tương quan ñược chuyển  
về dạng công thức α’ = log10(x+10).  
100  
80  
KV1  
60  
40  
20  
0
KV2  
KV3  
CHƯƠNG 3  
Đợt 1  
32.27  
Đợt 2  
23.94  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
KV1  
KV2  
KV3  
18.37  
20.63  
51.56  
85.01  
3.1. Hàm lượng Pb, Cd trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu  
Nhằm ñánh giá mức ñộ ô nhiễm Pb, Cd trong môi trường tại khu vực  
nghiên cứu, chúng tôi tiến hành xác ñịnh hàm lượng Pb, Cd trong trầm tích  
bề mặt qua 2 ñợt thu mẫu. Kết quả ñược trình bày ở bảng 3.1 và bảng 3.2.  
3.1.1. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu  
Bảng 3.1. Số liệu phân tích hàm lượng Pb trong trầm tích  
(µg/g) tại các khu vực nghiên cứu.  
Hình 3.1. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại Vũng Thùng  
So sánh với tiêu chuẩn ISQG (Canaña) và so với tiêu chuẩn US  
EPA của Mỹ thì hàm lượng Pb trung bình trong trầm tích tại khu vực 2  
và khu vực 3 ñã vượt TCCP. Khu vực 1 tuy hàm lượng Pb nằm trong  
giới hạn cho phép nhưng cũng gần ñạt ngưỡng cho phép.  
Địa  
Đợt 1 (n=9) Đợt 2 (n=9) Trung bình  
Khu vực  
3.1.1.2. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại Phú Lộc  
ñiểm  
M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g)  
Vũng  
KV1 (n=3) 32,27± 7,39 23,94±8,79 28,11±5,89  
Thùng KV2 (n=3) 18,37±2,64 51,56±0,21 34,97±23,47  
KV3 (n=3) 20,63±7,46 85,01±20,19 52,82±45,52  
Trung bình 23,76±7,46a 53,5±30,58b 38,63±21,02a’  
Hàm lượng Pb (µg/g) trong trầm tích qua hai ñợt thu  
mẫu tại Phú Lộc  
Phú Lộc KV1 (n=3) 27,15±3,5  
22,67±3,90 24,91±3,17  
18,91±2,45 19,58±0,95  
30  
25  
KV2 (n=3) 20,25±1,5  
KV3 (n=3) 27,03±7,37 23,93±6,16 25,48±2,19  
Trung bình 24,81±3,94c 21,84±2,61d 23,32±2,10c’  
Cu Đê KV1 (n=3) 29,88±6,21 33,67±4,83 31,77±2,67  
KV2 (n=3) 22,62±4,97 29,47±4,73 26,04±4,84  
KV3 (n=3) 25,21±4,71 26,27±6,61 25,74±0,75  
Trung bình 25,90±3,68e 29,80±3,71f 27,85±2,76e’  
20  
KV1  
15  
10  
5
KV2  
KV3  
0
Đợt 1  
27.15  
Đợt 2  
22.67  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, b hoặc c, c’, d hoặc e, e’, f  
không khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
KV1  
KV2  
KV3  
20.25  
18.91  
23.93  
27.03  
Hình 3.2. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại Phú Lộc  
13  
14  
Cu Đê  
KV1 (n=3) 1,57±0,24  
KV2 (n=3) 1,10±0,57  
KV3 (n=3) 1,07±0,44  
Trung bình 1,24±0,28e  
1,86±0,69  
1,71±0,20  
1,09±0,01  
1,42±0,50  
1,41±0,23e'  
So sánh với tiêu chuẩn ISQG (Canaña) và so với tiêu chuẩn US  
EPA của Mỹ thì hàm lượng Pb tại 3 khu vực này cũng nằm trong  
TCCP. Khu vực 2, 3 tuy hàm lượng Pb cũng gần ñạt ngưỡng cho phép.  
3.1.1.3. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại Cu Đê  
1,09±0,43  
1,78±0,30  
1,57±0,42f  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, b hoặc c, c’, d hoặc e, e’, f  
không khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
Tại Cu Đê, hàm lượng Pb cao nhất tại khu vực số 1 và thấp nhất  
tại khu vực số 3. Tại khu vực số 1 hàm lượng Pb trung bình là 31,77 ±  
2,67 µg/g. Tại khu vực số 2 là 26,04 ± 4,84 µg/g. Tại khu vực số 3 là  
25,74 ± 0,75 µg/g.  
3.1.2.1. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại Vũng Thùng  
Hàm lượng Cd (µg/g) trong trầm tích qua hai ñợt thu  
mẫu tại Vũng Thùng  
Hàm lượng Pb (µg/g) trong trầm tích qua hai ñợt thu  
mẫu tại Cu Đê  
2
40  
1.  
5
30  
KV1  
KV2  
KV3  
KV1  
1
20  
10  
0
KV2  
KV3  
0.  
5
0
Đợt 1  
29.88  
Đợt 1  
Đợt 2  
33.67  
29.47  
26.27  
KV1  
KV2  
KV3  
1.03  
1.3  
0.54  
1.05  
0.79  
KV1  
KV2  
KV3  
22.62  
25.21  
1.58  
Hình 3.3. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại Cu Đê  
3.1.2. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu  
Bảng 3.2. Số liệu phân tích hàm lượng Cd trong trầm tích  
(µg/g) tại các khu vực nghiên cứu  
Hình 3.4. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại Vũng Thùng  
So sánh với tiêu chuẩn ISQG (Canaña) và so với QCVN 03:  
2008/BTNMT thì hàm lượng Cd tại 1 số khu vực ñã vượt TCCP.  
3.1.2.2. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại Phú Lộc  
Đợt 1 (n=9) Đợt 2 (n=9) Trung bình  
M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g)  
Địa ñiểm Khu vực  
So sánh với tiêu chuẩn ISQG (Canaña) và so với QCVN 03:  
2008/BTNMT thì hàm lượng Cd tại 3 khu vực này cũng gần ñạt ngưỡng  
cho phép.  
Vũng  
Thùng  
KV1 (n=3) 1,03± 0,12  
KV2 (n=3) 1,30±0,13  
KV3 (n=3) 1,58±0,18  
Trung bình 1,30±0,28a  
0,54±0,23  
1,05±0,05  
0,79±0,22  
0,79±0,26b  
1,01±0,18  
1,10±0,40  
1,10±0,54  
1,07±0,05d  
0,79±0,35  
1,17±0,18  
1,18±0,59  
1,14±0,23a'  
1,15±0,20  
1,19±0,13  
1,33±0,33  
1,23±0,22c'  
Phú Lộc KV1 (n=3) 1,29±0,24  
KV2 (n=3) 1,28±0,15  
KV3 (n=3) 1,57±0,23  
Trung bình 1,38±0,16c  
15  
16  
Hàm lượng Cd (µg/g) trong trầm tích qua hai ñợt thu  
mẫu tại Phú Lộc  
Hàm lượng Cd trong trầm tích tại các khu  
vực nghiên cứu (µg/g)  
2
1.8  
1.6  
1.4  
1.2  
1
1.5  
KV1  
KV2  
KV3  
1
0.5  
0
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
0
Đợt 1  
1.29  
Đợt 2  
1.07  
KV1  
KV2  
KV3  
1.28  
1.57  
1.1  
1.1  
Đợt 1  
Đợt 2  
Hình 3.5. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại Phú Lộc  
3.1.2.3. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại Cu Đê  
Hình 3.7. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu.  
Theo QCVN 03: 2008/BTNMT mức giới hạn cho phép của Cd  
trong trầm tích là ≤ 2 mg/kg thì hàm lượng Cd ở các khu vực nghiên  
cứu ñều nằm trong giới hạn cho phép. Theo TC ISQG (Canaña) về giới  
hạn cho phép của Pb trong trầm tích là ≤ 30,2 mg/kg thì chỉ có hàm lượng  
Pb trung bình ở Vũng Thùng là cao hơn TCCP.  
Hàm lượng Cd (µg/g) trong trầm tích qua hai ñợt thu  
mẫu tại Cu Đê  
2
1.5  
KV1  
Hàm lượng Pb trong trầm tích tại các khu  
vực nghiên cứu (µg/g)  
KV2  
KV3  
1
0.5  
0
60  
50  
Đợt 1  
Đợt 2  
1.86  
1.57  
1.1  
KV1  
KV2  
KV3  
40  
1.09  
1.78  
Vũng Thùng  
1.07  
30  
20  
10  
0
Phú Lộc  
Cu Đê  
Hình 3.6. Hàm lượng Cd trong trầm tích tại Cu Đê  
So sánh với tiêu chuẩn ISQG (Canaña) về hàm lượng Cd trong  
trầm tích thì hàm lượng Cd trung bình trong trầm tích tại khu 3 khu vực  
ñã vượt TCCP; so với QCVN 03: 2008/BTNMT thì hàm lượng Cd tại  
khu vực 1 này cũng gần ñạt ngưỡng cho phép.  
Đợt 1  
Đợt 2  
Hình 3.8. Hàm lượng Pb trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu  
17  
18  
Bảng 3.3. Chỉ số pH của các mẫu trầm tích tại các ñiểm nghiên cứu.  
3.2. Sự tích lũy KLN Pb, Cd trong 2 loài Sò lông và Vẹm xanh  
Bảng 3.4: Số liệu phân tích hàm lượng Cd trong Sò lông (µg/g) tại  
các khu vực nghiên cứu  
Địa ñiểm  
Vũng  
Thùng  
Khu vực  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
Đợt 1 (n=9)  
8,17±0,28  
8,03±0,14  
8,4±0,003  
Đợt 2 (n=9)  
7,27±0,14  
6,97±0,07  
7,27±0,07  
7,17±0,17b  
7,52±0,3  
7,36±0,17  
7,33±0,06  
7,4±0,10d  
7,18±0,18  
7,21±0,12  
7,40±0,12  
7,26±0,12f  
Trung bình  
7,72±0,64a’  
7,5±0,75a’  
7,84±0,8 a’  
7,68±0,72a’’  
7,51±0,02c’  
7,36±0,01c’  
7,1±0,33c’  
7,31±0,12c’’  
7,32±0,20e’  
7,34±0,18e’  
7,39±0,01e’  
7,34±0,12e’’  
Đợt 1 (n=9)  
M±Sd(µg/g)  
0,64± 0,15  
0,65±0,38  
0,21±0,26  
0,50±0,25a  
0,71±0,08  
0,48±0,14  
0,33±0,14  
0,50±0,19c  
1,87±0,34  
1,25±0,24  
1,76±0,60  
1,62±0,33e  
Đợt 2 (n=9)  
M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g)  
Trung bình  
Địa ñiểm  
Khu vực  
Trung bình 8,2±0,19a  
Vũng  
Thùng  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
Trung bình  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
Trung bình  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
Trung bình  
0,52±0,08  
1,92±0,03  
0,39±0,03  
0,94±0,84b  
0,55±0,08  
0,36±0,08  
0,30±0,25  
0,40±0,13d  
1,30±0,80  
1,51±0,29  
1,48±0,83  
1,43±0,11f  
0,58±0,08a’  
1,28±0,89a’  
0,30±0,12a’  
0,72±0,31a’’  
0,63±0,11c’  
0,42±0,08c’  
0,32±0,02c’  
0,45±0,07c’’  
1,58±0,40e’  
1,38±0,18e’  
1,62±0,20e’  
1,53±0,13e’’  
Phú Lộc  
Cu Đê  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
7,49±0,01  
7,35±0,06  
6,86±0,17  
Phú Lộc  
Cu Đê  
Trung bình 7,23±0,33c  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
7,45±0,08  
7,47±0,33  
7.38±0,01  
Trung bình 7,43±0,05e  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, a’’, b hoặc c, c’, c’’, d hoặc e,  
e’,e’’, f không khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, a’’, b hoặc c, c’, c’’, d hoặc e,  
e’,e’’, f không khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
Chỉ số pH của các mẫu trầm tích tại các khu  
nghiên cứu  
8.4  
8.2  
8
Hàm lượng Cd trong Sò lông (µg/g) tại các khu vực  
nghiên cứu  
7.8  
1.8  
1.6  
1.4  
1.2  
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
7.6  
7.4  
7.2  
7
6.8  
6.6  
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
1
Đợt  
Đợt 2  
7.17  
7.4  
1
8.2  
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
0.8  
7.23  
7.43  
0.6  
0.4  
0.2  
0
7.26  
Hình 3.9. Chỉ số pH trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu  
Chỉ số pH trong trầm tích qua 2 ñợt là tương ñối ổn ñịnh, có tính  
kiềm yếu. Tại mỗi ñiểm qua 2 ñợt có sự chênh lệch rõ rệt. Có sự khác  
nhau rõ rệt của pH giữa 2 ñợt thu mẫu là do ảnh hưởng mạnh của chế ñộ  
thủy triều và ñiều kiện thủy văn làm thay ñổi ñộ mặn, ñộ pH và tính chất  
của trầm tích cũng như dạng tồn tại của các KLN trong trầm tích  
Đợt 1  
Đợt 2  
Hình 3.10. Hàm lượng Cd trong Sò lông tại các khu vực nghiên cứu.  
Phân tích hàm lượng Cd trong Sò lông cho thấy có sự khác nhau  
ở 3 khu vực nghiên cứu. Trong ñó hàm lượng Cd trung bình trong Sò  
19  
20  
lông ñạt mức cao nhất tại khu vực Cu Đê (1,53 ± 0,13 µg/g), tiếp ñến là  
khu vực Vũng Thùng (0,72 ± 0,31 µg/g), và thấp nhất trong mẫu Sò  
lông thu tại khu vực Phú Lộc (0,45 ± 0,07 µg/g).  
Vẹm xanh ñạt mức cao nhất tại khu vực Cu Đê (0,37 ± 0,02 µg/g), tiếp  
ñến là khu vực Vũng Thùng (0,31 ± 0,04 µg/g), và thấp nhất trong mẫu  
Vẹm xanh thu tại khu vực Phú Lộc (0,27 ± 0,03 µg/g).  
Bảng 3.6. Số liệu phân tích hàm lượng Pb trong Sò lông (µg/g)  
tại các khu vực nghiên cứu  
Bảng 3.5. Số liệu phân tích hàm lượng Cd trong Vẹm xanh (µg/g) tại  
các khu vực nghiên cứu  
Đợt 1 (n=9) Đợt 2 (n=9) Trung bình  
M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g) M±Sd(µg/g)  
Đợt 1 (n=9)  
M±Sd(µg/g)  
1,13± 0,35  
0,94±0,77  
Đợt 2 (n=9)  
M±Sd(µg/g)  
3,32±0,83  
3,55±0,33  
3,83±0,34  
3,56±0,25b  
1,83±0,32  
1,71±0,5  
1,46±0,48  
1,67±0,19d  
0,99±0,21  
1,76±0,25  
1,28±0,58  
1,34±0,38f  
Trung bình  
M±Sd(µg/g)  
2,22±1,55  
2,24±1,84  
2,44±1,96  
2,30±1,78a’  
1,87±0,06  
1,61±0,15  
1,54±0,11  
1,68±0,01c’  
0,96±0,05  
1,51±0,36  
0,99±0,41  
1,15±0,26e’  
Địa ñiểm  
Khu vực  
Địa ñiểm  
Khu vực  
Vũng  
Thùng  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
0,16± 0,05  
0,30±0,16  
0,39±0,02  
0,21±0,07  
0,38±0,04  
0,45±0,05  
0,34±0,12b  
0,27±0,12  
0,24±0,05  
0,26±0,24  
0,25±0,02d  
0,50±0,12  
0,23±0,02  
0,42±0,10  
0,38±0,14f  
0,19±0,03  
0,34±0,05  
0,42±0,04  
0,31±0,04a’  
0,27±0,01  
0,26±0,03  
0,28±0,03  
0,27±0,03c’  
0,48±0,02  
0,26±0,05  
0,37±0,07  
0,37±0,02e’  
Vũng  
Thùng  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
1,06±0,99  
Trung bình 0,28±0,12a  
Trung bình 1,04±0,09a  
Phú Lộc  
Cu Đê  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
0,28±0,03  
0,29±0,12  
0,30±0,08  
Phú Lộc  
Cu Đê  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
1,91±0,32  
1,50±0,53  
1,62±0,50  
Trung bình 0,29±0,01c  
Trung bình 1,68±0,21c  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
0,47±0,07  
0,30±0,12  
0,32±0,19  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
0,92±0,14  
1,25±0,43  
0,70±0,19  
Trung bình 0,36±0,10e  
Trung bình 0,96±0,28e  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, b hoặc c, c’, d hoặc e, e’, f không  
khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, b hoặc c, c’, d hoặc e, e’, f  
không khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
Dựa vào kết quả nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng hàm lượng  
KLN tích lũy trong trầm tích và trong mô loài Sò lông và Vẹm xanh qua  
các ñợt nghiên cứu. Có sự gia tăng hàm lượng Pb của ñợt 2 so với ñợt 1  
là do: ñợt 1 lấy mẫu vào mùa mưa, lượng nước từ các sông ñổ ra nhiều,  
lưu lượng dòng chảy lớn hơn, mức pha trộn mạnh và sâu hơn, do ñó  
hàm lượng KLN sẽ bị phân tán hơn; còn vào ñợt 2 (mùa khô) nên ít có  
sự xáo trộn hơn, hàm lượng KLN ít bị phân tán. Điều này cho thấy khả  
năng tích lũy KLN của loài Sò lông (Anadara subcrennata), Vẹm xanh  
(Perma viridis) tăng khi hàm lượng KLN trong trầm tích tăng.  
Hàm lượng Cd trong Vẹm xanh (µg/g) tại các  
nghiên cứu  
0.4  
0.35  
0.3  
0.25  
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
0.2  
0.15  
0.1  
0.05  
0
Đợt 1  
Đợt 2  
Hình 3.11. Hàm lượng Cd trong Vẹm xanh tại các khu vực nghiên cứu  
Phân tích hàm lượng Cd trong Vẹm xanh cho thấy có sự khác  
nhau ở 3 khu vực nghiên cứu. Trong ñó hàm lượng Cd trung bình trong  
21  
Hàm lượng Pb trong Sò lông (µg/g) tại các khu vực  
nghiên cứu  
22  
Hàm lượng Pb trong Vẹm xanh (µg/g) tại các khu vực  
nghiên cứu  
5
4.5  
4
4
3.5  
3
3.5  
3
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
2.5  
2
2.5  
2
Vũng Thùng  
Phú Lộc  
Cu Đê  
1.5  
1
1.5  
1
0.5  
0
0.5  
0
Đợt 1  
Đợt 2  
Hình 3.13. Hàm lượng Pb trong Vẹm xanh tại các khu vực nghiên cứu  
3.3. Tương quan giữa hàm lượng Pb, Cd trong trầm tích và trong  
mô loài Sò lông (Anadara subcrennata), Vẹm xanh (Perma viridis)  
tại các khu vực nghiên cứu  
Đợt 1  
Đợt 2  
Hình 3.12. Hàm lượng Pb trong Sò lông tại các khu vực nghiên cứu.  
Bảng 3.7. Số liệu phân tích hàm lượng Pb trong Vẹm xanh  
(µg/g) tại các khu vực nghiên cứu  
3.3.1. Tương quan giữa hàm lượng Cd, Pb trong trầm tích và trong  
loài Sò lông (Anadara subcrennata)  
Địa  
ñiểm  
Vũng  
Thùng  
Đợt 1 (n=9)  
M±Sd(µg/g)  
1,51± 0,41  
1,79±0,59  
Đợt 2 (n=9)  
M±Sd(µg/g)  
4,43±0,66  
4,46±0,58  
4,92±0,34  
4,60±0,27b  
1,25±0,36  
1,52±0,32  
1,20±0,29  
1,32±0,17d  
1,33±0,23  
1,50±0,72  
1,53±0,67  
1,45±0,11f  
Trung bình  
M±Sd(µg/g)  
2,97±2,06  
3,13±1,89  
3,15±2,51  
3,08±2,15a’  
1,32±0,09  
1,62±0,13  
1,19±0,01  
1,38±0,08c’  
1,04±0,41  
1,03±0,66  
1,30±0,32  
1,16±0,41e’  
Khu vực  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
Sự tích lũy Cd trong cơ thể loài Sò lông (Anadara subcrennata)  
tương quan thuận với hàm lượng Cd có trong môi trường trầm tích, với  
hệ số tương quan r = 0,4735 và pvalue = 0,197. Sự tích lũy Pb trong loài  
này cũng tương quan tương ñối chặt với hàm lượng Pb có trong môi  
trường ñất, với r = 0,54 và pvalue = 0,139  
1,37±0,54  
Trung bình 1,56±0,21a  
Phú  
Lộc  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
1,39±0,41  
1,71±0,15  
1,19±0,17  
1.8  
Trung bình 1,43±0,26c  
Cu Đê  
KV1 (n=3)  
KV2 (n=3)  
KV3 (n=3)  
0,75±0,48  
0,57±0,18  
1,08±0,43  
1.6  
1.4  
1.2  
Trung bình 0,87±0,37e  
Ghi chú: Các giá trị có cùng kí tự a, a’, b hoặc c, c’, d hoặc e, e’, f  
không khác nhau có ý nghĩa ở mức α=0,05  
1.0  
y=1.03239x + 0.2137  
n=9  
Qua kết quả phân tích hàm lượng Pb trong trầm tích so sánh với  
tiêu chuẩn ISQG Canaña, tiêu chuẩn US EPA của Mỹ, ñồng thời hàm  
lượng Pb trong mẫu ñộng vật với TCCP của Bộ Y Tế cho thấy chúng  
ñều cao hơn TCCP. Chứng tỏ tại một số khu vực nghiên cứu bị ô nghiên  
cứu nhiễm KLN Pb.  
0.8  
r=0.47355; p=0.19788  
0.2  
0.4  
0.6  
0.8  
1.0  
1.2  
1.4  
1.6  
1.8  
Hàm lượng Cd trong trầm tích (µg/g)  
Hình 3.14. Tương quan giữa hàm lượng Cd trong trầm tích và trong  
cơ thể loài Sò lông  
23  
24  
55  
50  
45  
40  
35  
30  
25  
20  
15  
55  
50  
45  
40  
35  
30  
25  
20  
15  
y=13.3483x + 9.6869  
n=9  
r=0.54; p=0.139  
y=17.6337x + 6.6099  
n=9  
r=0.6417; p=0.0624  
0.8  
1.0  
1.2  
1.4  
1.6  
1.8  
2.0  
2.2  
2.4  
2.6  
Hàm lượng Pb trong trầm tích (µg/g  
)
1.0  
1.5  
2.0  
2.5  
3.0  
3.5  
Hình 3.15. Tương quan giữa hàm lượng Pb trong trầm tích và trong  
cơ thể loài Sò lông  
Hàm lượng Pb trong trầm tích (µg/g  
)
3.4.2. Tương quan giữa hàm lượng Cd và Pb trong trầm tích và  
trong loài Vẹm xanh (Perma viridis)  
Hình 3.17. Tương quan giữa hàm lượng Pb trong trầm tích và trong  
cơ thể loài Vẹm xanh.  
Đối với loài Perma viridis, qua kết quả phân tích tương quan cho  
thấy, sự tích lũy KLN Cd và Pb trong mô cơ thể tương quan thuận với sự  
tích lũy Cd và Pb môi trường trầm tích tại các khu vực nghiên cứu. Trong  
ñó, sự tích lũy Cd trong Perma viridis tương quan chặt với hàm lượng Cd có  
trong môi trường trầm tích với hệ số tương quan r = 0,807 và pvalue =0,0084.  
Sự tích lũy Pb trong Perma viridis tương quan tương ñối chặt với hàm  
Kết quả phân tích tương quan cho thấy, sự tích lũy Pb trong mô  
cơ thể loài Sò lông (Anadara subcrennata ) và Vẹm xanh (Perma  
viridis ) tương quan thuận với sự tích lũy Pb trong trầm tích tại các khu  
vực nghiên cứu. Đối với sự tích lũy Cd trong mô loài Sò lông (Anadara  
subcrennata ) và Vẹm xanh (Perma viridis ) cũng tương quan thuận với  
sự tích lũy Cd trong trầm tích tại các khu vực nghiên cứu.  
lượng Pb có trong môi trường trầm tích với r = 0,6417 và pvalue= 0,0624.  
1.8  
1.6  
1.4  
1.2  
1.0  
y=0.5176x + 2.2201  
n=9  
0.8  
r=0.8071; p=0.0084  
0.15  
0.20  
0.25  
0.30  
0.35  
0.40  
0.45  
0.50  
Hàm lượng Cd trong trầm tích (µg/g)  
Hình 3.16. Tương quan giữa hàm lượng Cd trong trầm tích và trong  
cơ thể loài Vẹm xanh  
25  
26  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
e. Hai loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ Sò lông (Anadara  
subcrennata) và Vẹm xanh (Perma viridis) có khả năng tích lũy cao  
hàm lượng Cd và Pb trong cơ thể, mức ñộ tích lũy phản ánh ñược hàm  
lượng Cd và Pb có trong môi trường. Do ñó có thể ñề xuất sử dụng hai  
loài này ñể chỉ thị ô nhiễm KLN Cd và Pb trong môi trường trầm tích.  
2. Kiến nghị  
1. Kết luận  
a. Trong môi trường nghiên cứu chỉ số pH dao ñộng từ 6,86 –  
8,4. Tại khu vực Phú Lộc tuy chưa bị ô nhiễm Pb nhưng ñã bị ô nhiễm  
Cd với hàm lượng trung bình 1,23 ± 0,22 µg/g . Khu vực Vũng Thùng,  
Cu Đê có dấu hiệu ô nhiễm Pb và Cd. Ô nhiễm Pb cao nhất tại khu vực  
Vũng Thùng, gấp 1,28 lần TCCP [TC ISQG (Canaña) ≤ 0,7 µg/g].  
b. Tích lũy Cd trong loài Sò lông (Anadara subcrennata) cao  
hơn trong loài Vẹm xanh (Perma viridis). Hàm lượng Cd tích lũy trong  
loài Sò lông (Anadara subcrennata) lần lượt là 0,72 ± 0,31 µg/g (tại  
Vũng Thùng); 0,45 ± 0,07 µg/g (tại Phú Lộc); 1,53 ± 0,13 µg/g (tại Cu  
Đê) và trong mô cơ thể loài Vẹm xanh (Perma viridis) lần lượt là: 0,31  
± 0,04 µg/g (tại Vũng Thùng); 0,27 ± 0,03 µg/g (tại Phú Lộc); 0,37 ±  
0,02 µg/g (tại Cu Đê).  
a. Quá trình thực hiện ñề tài nghiên cứu diễn ra trong thời gian  
ngắn và mới chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu sự tích lũy Cd và Pb trong  
hai loài Sò lông (Anadara subcrennata) và Vẹm xanh (Perma viridis),  
do ñó ñể xác ñịnh một cách ñầy ñủ khả năng chỉ thị ô nhiễm KLN ở hai  
loài này cần có thêm nhiều nghiên cứu về sự tích lũy KLN trong những  
loài nhuyễn thể khác cũng như các yếu tố ảnh hưởng ñến khả năng tích  
lũy Cd và Pb trong ñối tượng nghiên cứu.  
b. Đề tài mới chỉ tiến hành nghiên cứu ở một số khu vực thuộc  
quận Thanh Khê, quận Sơn Trà, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng với  
2 KLN là Cd và Pb. Do ñó, cần có những nghiên cứu ñánh giá bồ sung ở  
quy mô lớn hơn, ở nhiều khu vực khác nhau với nhiều KLN khác ñể có  
ñầy ñủ cơ sở ñưa loài nhuyễn thể vào ứng dụng trong ñánh giá ô nhiễm  
môi trường tại thành phố Đà Nẵng cũng như khu vực miền Trung.  
c. Các khu vực nghiên cứu ñều có hàm lượng Cd, Pb vượt  
ngưỡng giới hạn cho phép, do ñó cần phải khuyến cáo người dân không  
nên khai thác, sử dụng nhiều loài Sò lông (Anadara subcrennata) và  
Vẹm xanh (Perma viridis) cho mục ñích thực phẩm.  
c. Tích lũy Pb trong loài Sò lông (Anadara subcrennata) thấp  
hơn trong loài Vẹm xanh (Perma viridis). Hàm lượng Pb tích lũy trong  
mô cơ thể loài Sò lông (Anadara subcrennata) tại Vũng Thùng là 2,30  
± 1,78 µg/g; tại Phú Lộc 1,68 ± 0,01 µg/g; tại Cu Đê là 1,15 ± 0,269  
µg/g. Hàm lượng Pb tích lũy trong mô cơ thể loài Vẹm xanh (Perma  
viridis) tại Vũng Thùng là 3,08 ± 2,15 µg/g; tại Phú Lộc 1,38 ± 0,03  
µg/g ; tại Cu Đê là 1,16 ± 0,41 µg/g.  
d. Hàm lượng KLN Cd và Pb trong trầm tích và trong các loài  
nhuyễn thể hai mảnh vỏ có mối tương quan thuận. Cd, Pb tích lũy trong  
Sò lông (Anadara subcrennata) ở mức tương quan “tương ñối chặt” với  
Cd, Pb tích lũy trong trầm tích (r = 0,473 và r= 0,54; pvalue = 0,19 và  
0,13). Cd, Pb tích lũy trong Vẹm xanh (Perma viridis) ở mức “tương  
quan chặt” với Cd và Pb tích lũy trong trầm tích (r = 0,807 và r = 0,641;  
pvalue = 0,0084 và 0,062).  
pdf 13 trang yennguyen 12200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu tương quan giữa hàm lượng Chì (Pb), Cadmi (Cd) ở Vẹm xanh (Perma viridis), Sò lông (Anadra subcrenata) và trong trầm tích tại vịnh Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_tuong_quan_giua_ham_luong_chi_pb.pdf