Luận văn Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
  
NGUYỄN THANH HIỆP  
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI  
DỰ ĐỊNH CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG  
PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT  
TẠI HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
  
NGUYỄN THANH HIỆP  
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI  
DỰ ĐỊNH CỦA NGƯỜI DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG  
PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT  
TẠI HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG  
Chuyên ngành : Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp)  
Mã số  
:8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. NGUYỄN VĂN GIÁP  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự  
định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện  
Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương” là nghiên cứu do tôi tự thực hiện, dưới sự hướng dẫn  
trực tiếp của TS Nguyễn Văn Giáp.  
Các tham khảo trong luận văn được trích dẫn rõ tên tác giả, tên công trình.  
Các số liệu do tôi thu thập thực tế trên địa bàn nghiên cứu, có tính trung thực và độ  
chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.  
Học viên thực hiện  
Nguyễn Thanh Hiệp  
 
TÓM TẮT  
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự định  
của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt, đồng thời xác định  
các yếu tố và đánh giá mức độ ảnh hưởng đến hành vi dự định của người dân trong  
hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng.  
Trên cơ sở lý thuyết về hành vi dự định (The Theory of Planned Behavior –  
TPB), và các nghiên cứu trước đây, đề tài xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến  
hành vi dự định của người dân trong việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt, đưa ra  
mô hình nghiên cứu, điều chỉnh thang đo để thực hiện nghiên cứu. Nghiên cứu được  
thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với 198 phiếu khảo sát hợp lệ.  
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS đánh giá độ tin cậy của các thang đo qua hệ  
số Cronbach’s alpha; kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích nhân tố khám  
phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) và phân tích hồi qui bội (Multiple  
Regression Analysis). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố cơ bản tác động tích  
cực đến ý định phân loại chất thải rắn của người dân tại huyện Bàu Bàng: thái độ,  
chuẩn chủ quan, và nhận thức có tác động tích cực đến ý định và hành vi phân loại  
chất thải rắn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị chính sách thúc đẩy  
hành vi phân loại chất thải rắn của người dân trên địa bàn nghiên cứu.  
Từ khóa: Nhân tố ảnh hưởng, tham gia của người dân, hành vi phân loại chất  
thải rắn, tại huyện Bàu Bàng.  
ABSTRACT  
The dissertation systematizes the rationale for factors affecting the intended  
behavior of people in the classification of domestic solid waste, and at the same  
time identifies factors and assesses the level of impact on behavior. The intention of  
the people in the activities of sorting solid waste in Bau Bang district.  
Based on the theory of intended theory (The Theory of Planned Behavior -  
TPB), and previous studies, the topic identifies the factors that affect the intended  
behavior of people in the classification of substances. domestic solid waste, research  
model, adjust the scale to conduct research. The study was conducted by  
quantitative research method with 198 valid survey forms.  
The author uses SPSS software to assess the reliability of scales through the  
Cronbach’s alpha coefficient; testing research model by exploratory factor analysis  
(Exploratory Factor Analysis - EFA) and Multiple Regression Analysis. The  
research results show that there are 3 basic factors that positively affect the intention  
of classifying solid waste of Bau Bang district people: attitude, subjective standards,  
and awareness have a positive impact on the intention. and solid waste classification  
behavior. On that basis, the author proposes a number of policy recommendations to  
promote solid waste classification behavior of people in the study area.  
Keywords: Factors influencing, participation of people, behavior of solid  
waste classification, in Bau Bang district.  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
TÓM TẮT - ABSTRACT  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.........................................................................................3  
2.2.2. Môi trường và rác thải............................................................................15  
2.2.4. Hành vi và hành vi phân loại rác............................................................18  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
Ý nghĩa  
CTR  
Chất thải rắn  
CTRSH  
HĐND  
KTXH  
KH&CN  
MTĐT  
TPB  
Chất thải rắn sinh hoạt  
Hội đồng nhân dân  
Kinh tế xã hội  
Khoa học và Công nghệ  
Môi trường đô thị  
Theory of Planned Behavior - Thuyết hành vi dự định  
Theory of Reasoned Action - Thuyết hành động hợp lý.  
TRA  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 3.1. Kết quả các yếu tố.....................................................................................35  
 
1
CHƯƠNG 1  
PHẦN MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng, và đe dọa sự tồn tại và phát  
triển của loài người. Trong đó, chất thải rắn là mối đe dọa trực tiếp đến đời sống và  
sức khỏe của người dân ở các đô thị. Theo thống kê của Viện môi trường đô thị và  
công nghiệp Việt Nam, bình quân mỗi năm cả nước phát sinh thêm khoảng 25.000  
tấn rác thải sinh hoạt, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị có xu  
hướng tăng trung bình hàng năm từ 10% – 16%. Trong đó, tỉ lệ thu gom rác thải tại  
các đô thị bình quân trên cả nước chỉ đạt khoảng 70%- 85%.  
Quản lý rác thải sinh hoạt, đặc biệt rác thải rắn, là hoạt động mang tính hệ  
“
thống bao gồm: phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế và tái sử dụng rác  
thải. Hệ thống quản lý rác thải bao gồm các tiểu hệ thống có mối liên hệ tương tác  
và ảnh hưởng lẫn nhau. Hoạt động quản lý rác thải tại các quốc gia đang phát triển  
gặp nhiều khó khăn do yếu kém về thể chế và thực thi chính sách, thiếu sự tham gia  
của người dân, và thiếu sự hợp tác giữa các bên liên quan trong quản lý rác thải.  
Ngoài ra, trang thiết bị và công nghệ lạc hậu, thiếu tài chính cũng là những nguyên  
nhân dẫn đến hoạt động quản lý rác thải kém hiệu quả.  
Các giải pháp từ cộng đồng nhấn mạnh vai trò và sự tham gia của các hộ gia  
đình trong việc thu gom, phân loại, và tái chế rác thải. Mức độ tham gia của hộ gia  
đình phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của các tổ chức cộng đồng trong việc vận  
động người dân tham gia, tổ chức giám sát và kết nối với các bên liên quan tại khu  
dân cư. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương cũng quan trọng trong  
việc thi hành các chính sách, tổ chức giáo dục, và vận động cộng đồng tham gia. Sự  
tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải chịu ảnh hưởng của nhiều  
yếu tố khác nhau, như: yếu tố cá nhân (giới tính, trình độ học vấn, tâm lý), các yếu  
tố xã hội (thói quen cộng đồng, chính sách, thể chế), và các yếu tố về sự tham gia  
trong hoạt động quản lý rác thải.  
 
2
Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, và phát triển mạnh khu  
vực công nghiệp, hiện có 28 khu công nghiệp, và 20 cụm công nghiệp. Phát triển  
công nghiệp ở Bình Dương góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người  
dân trong tỉnh. Khi kinh tế và đời sống người dân cải thiện, lượng rác thải ở Bình  
Dương ngày càng nhiều hơn. Hiện nay, khối lượng rác thải sinh tại Bình Dương là  
khoảng 1.600 tấn/ngày, và rác thải công nghiệp là khoảng 1.400 tấn/ngày (Sở Tài  
nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, 2018).  
Tại Bình Dương nói chung và huyện Bàu Bàng nói riêng, sự tham gia của  
người dân vào công tác phân loại rác thải sinh hoạt còn rất hạn chế. Huyện Bàu  
Bàng, là một huyện mới thành lập, có diện tích tự nhiên 34.020 ha, dân số hết năm  
2018 là 93.226 người. Huyện Bàu Bàng, đang chuyển đổi từ địa phương chuyên  
nông nghiệp, sang thành đia phương chủ đạo về công nghiệp, dịch vụ, thương mại,  
và có nhiều tiến bộ về kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống người dân. Cùng với  
chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao thì lượng rác thải sinh hoạt ở  
Bàu Bàng ngày càng gia tăng. Hiện nay, mỗi ngày huyện Bàu Bàng thải ra khoảng  
60 tấn rác thải sinh hoạt, và 30 tấn rác thải rắn công nghiệp. Trên địa bàn huyện,  
người dân chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn. Công tác thu gom rác sinh hoạt  
chủ yếu do Xí nghiệp Công trình công cộng Bàu Bàng phụ trách ở các khu dân cư  
tập trung và các tuyến đường chính trên địa bàn của 07 xã, thị trấn. Tỷ lệ thu gom  
rác sinh hoạt trên toàn huyện đạt 85%, phần còn lại, người dân tự chôn lấp, đốt hoặc  
bỏ tại các khu đất trống chưa có người dân sinh sống. Có nhiều nguyên nhân khiến  
chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn chưa triển khai được: (i) Hoạt động  
phân loại chất thải rắn tại nguồn mới bắt đầu ở quy mô địa phương và thí điểm riêng  
lẻ ở một vài xã, thị trấn; (ii) Thiếu sự chỉ đạo đồng bộ từ tỉnh, huyện xuống các địa  
phương. Thiếu hệ thống văn bản pháp quy, chính sách và cơ chế tài chính hỗ trợ;  
(iii) Các địa phương chưa có kinh nghiệm và thiếu cơ sở vật chất, thiếu tài chính hỗ  
trợ và nhân lực thực hiện. Chính vì thế, việc nghiên cứu hành vi của người dân  
trong công tác quản lý CTRSH ở huyện Bàu Bàng là việc làm cần thiết. Qua đó,  
giúp đánh giá sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của người dân trong công  
3
tác này, đồng thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của người  
dân, đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình, hoàn thiện chính sách của chính  
quyền.  
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự định của  
người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu  
Bàng, tỉnh Bình Dương” là cấp thiết, góp phần xác định và đánh giá mức độ ảnh  
hưởng của các nhân tố đến hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu  
Bàng. Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cải thiện hoạt động phân loại rác thải  
rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Bàu Bàng.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Mục tiêu chung của luận văn là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi  
dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện  
Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự định của người dân trong hoạt  
động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng  
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi dự định của người  
dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng  
- Đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại  
huyện Bàu Bàng  
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu  
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi dự định của người dân trong hoạt  
động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng?  
- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố (nhân tố) đến hành vi phân loại rác thải  
sinh hoạt của người dân tại huyện Bàu Bàng ra sao?  
- Hàm ý chính sách nào cần thiết để tác động đến hành vi phân loại rác thải  
sinh hoạt của người dân tại huyện Bàu Bàng?  
     
4
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự  
định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Về không gian: Nghiên cứu tập trung tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.  
- Về thời gian: Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá số liệu thứ cấp trong  
giai đoạn 2016- 2018, số liệu sơ cấp thu thập trong thời gian 03 tháng, từ tháng 3  
đến tháng 5 năm 2019.  
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp nghiên cứu định tính  
Phương pháp định tính được tiến hành để đánh giá khách quan thực trạng thu  
gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.  
Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong hoạt động  
quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Bàu Bàng. Tác giả thu thập các nghiên  
cứu và báo cáo của Sở Tài nguyên – Môi trường, báo cáo UBND huyện Bàu Bàng  
và các nghiên cứu trước đây.  
- Phương pháp định lượng  
Phương pháp định lượng, sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích  
hồi quy Binary Logistic thông qua cấu trúc của bảng hỏi bao gồm: thông tin cá nhân  
(giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, nhân khẩu, thu nhập) và các câu hỏi liên quan đến  
các biến nghiên cứu.  
- Mẫu nghiên cứu  
Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu thuận tiện, vì hạn chế về  
thời gian và kinh phí. Tổng quan sát trong đề tài dự kiến là 260 phiếu điều tra. Tiêu  
chuẩn lấy mẫu là các hộ dân trên địa bàn 6 xã và 01 thị trấn của huyện. Thời gian  
phát phiếu điều tra thu thập dữ liệu từ tháng 03/2019 đến tháng 5/2019  
       
5
- Tiến hành thu thập dữ liệu  
Bước 1: Sau khi hình thành khung phân tích, tác giả tiến hành thiết kế bảng  
câu hỏi và in ấn các bảng câu hỏi.  
Bước 2: Thông qua UBND các xã, thị trấn của huyện Bàu Bàng, tác giả gửi  
bảng câu hỏi cho các hộ dân thông qua cán bộ phụ trách môi trường và có giải thích  
cách trả lời câu hỏi trong bảng câu hỏi gửi kèm.  
Bước 3: Tiến hành nhận lại bảng câu hỏi đã được trả lời của các hộ dân; đối  
với những trường hợp chưa rõ sẽ loại trừ hoặc gặp trực tiếp người dân để trao đổi  
thông tin.  
- Phương pháp phân tích dữ liệu  
Phân tích độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha: Sử dụng hệ số tin  
cậy Cronbach’s Alpha làm cơ sở cho việc kiểm định mức độ tương quan của các  
câu hỏi. Theo Nunnally và Burnstein (1994): “Khi Cronbach’sAlpha từ 0,8 lên đến  
gần 1 thì thang đo lường tốt, từ 0,7 đến 0,8 là sử dụng được và từ 0,6 trở lên có thể  
sử dụng được trong trường hợp khái niệm đo lường là mới với người trả lời”. Đồng  
thời, hệ số tương quan giữa biến và Cronbach’s Alpha tổng phải lớn hơn 0,3, nếu  
nhỏ hơn 0,3 thì biến không phù hợp và bị loại bỏ. Kết quả đánh giá độ tin cậy thang  
đo Cronbach’s Alpha của các nhân tố chất lượng dịch vụ và đo lường mức sẵn lòng  
tham gia của người dân đối với việc quản lý thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt  
trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, đáp ứng các điều kiện trên sẽ được  
sử dụng trong phân tích hồi quy.  
1.5. Kết cấu luận văn  
Luận văn gồm 5 chương  
Chương 1. Phần mở đầu  
Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối  
tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của  
nghiên cứu.  
 
6
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
Trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan đến các khái niệm nghiên cứu bao  
gồm: Khái niệm sự tham gia, môi trường, rác thải, chất thải rắn, phế liệu, lưu giữ  
chất thải rắn, xử lý chất thải rắn. Cùng với đó, chương này trình bày cơ sở lý thuyết  
về hành vi con người, hành động xã hội, lối sống, kiểm soát xã hội, thuyết hành vi  
dự định và các yếu tố liên quan, tổng quan các nghiên cứu trước đây của các tác giả  
trong nước và nước ngoài có liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài, sau  
đó tổng hợp, đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến hành vi và đưa ra mô hình  
nghiên cứu đề xuất của bài nghiên cứu.  
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu  
Trong chương này, tác giả tập trung giới thiệu quy trình nghiên cứu và phương  
pháp thực hiện các bước nghiên cứu; các thành phần và biến quan sát được sử dụng  
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi phân loại chất thải rắn của  
người dân. Các yếu tố bao gồm: Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát  
hành vi của người dân trong phân loại chất thải rắn.  
Chương 4. Kết quả nghiên cứu  
Chương này trình bày kết quả kiểm định mô hình thang đo và mô hình nghiên  
cứu. Qua các bước kiểm định mô hình thang đo và mô hình nghiên cứu đã khẳng  
định: 3 yếu tố cơ bản có mối quan hệ tác động tích cực đến ý định phân loại chất  
thải rắn của người dân tại huyện Bàu Bàng, bao gồm các yếu tố: thái độ, chuẩn chủ  
quan và nhận thức kiểm soát hành vi đồng thời yếu tố ý định có tác động tích cực  
đến hành vi phân loại chất thải rắn.  
Chương 5. Kết luận và hàm ý chính sách  
Tóm tắt kết quả của nghiên cứu; các đóng góp của nghiên cứu về thực tế; trình  
bày các nhóm giải pháp nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đế hành vi dự định  
của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt và các hạn chế cũng  
như hướng nghiên cứu mới của đề tài.  
7
CHƯƠNG 2  
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1. Lý thuyết hành vi  
2.1.1. Các lý thuyết liên quan  
2.1.1.1. Lý thuyết hành vi của con người  
“
Các nhà tâm lý học hành vi tin rằng phản ứng của con người đối với kích thích  
từ môi trường tạo nên hành vi. Hành vi có thể được học tập một cách có hệ thống và  
được quan sát một cách rõ ràng từ bên ngoài, không đi sâu vào diễn biến tâm lý nội  
tâm. Về cơ bản, người ta chỉ xét đến những hành vi quan sát được – những thứ như  
nhận thức, cảm xúc và tâm trạng khó được xem xét. Các nhà tâm lý học hành vi tin  
rằng bất kỳ ai cũng có khả năng được đào tạo để thực hiện một công việc nào đó dù  
nền tảng di truyền, tính cách và suy nghĩ nội tâm có thể khác nhau. Thuyết hành vi  
ra đời năm 1913 với xuất bản của John B. Watson Psychology as the Behaviorist  
Views It. (Tâm lý học qua cái nhìn của nhà hành vi học). Những nhà tâm lý học  
hành vi tin rằng tất cả các hành vi đều là kết quả của trải nghiệm. Bất kỳ ai, dù nền  
tảng xuất thân học vấn có khác nhau, vẫn có thể được đào tạo theo một cách thức  
nào đó với các điều kiện phù hợp.  
Từ khoảng năm 1920 đến giữa những năm 1950, thuyết hành vi bắt đầu trở  
thành trường phái tư tưởng thống trị trong tâm lý học. Một số người cho rằng sự  
phổ biến của tâm lý học hành vi đã vượt ra khỏi khuôn khổ mong muốn đơn thuần  
là xây dựng tâm lý học như một ngành học khách quan và có thể đo lường được.  
Các nhà nghiên cứu chú trọng vào việc tạo ra các học thuyết có thể mô tả được một  
cách rõ ràng và đo lường được dựa trên thực nghiệm nhưng vẫn phải tạo được nhiều  
đóng góp mang sức ảnh hưởng lên cuộc sống thường ngày của con người.  
Có 2 loại điều kiện hóa: (i) Điều kiện hóa cổ điển là kỹ thuật thường được sử  
dụng trong huấn luyện hành vi. Tại đây, một kích thích trung tính được thực hiện  
kết hợp với kích thích tự nhiên xuất hiện trước đó. Kết quả là kích thích trung tính  
sẽ đưa đến phản ứng tương tự như kích thích tự nhiên trước đó, thậm chí nó đưa đến  
phản ứng ngay cả khi không có mặt kích thích tự nhiên từ trước. Kích thích kết hợp  
     
8
này được gọi là kích thích có điều kiện và hành vi được biết đến với tên gọi phản  
ứng có điều kiện; (ii) Điều kiện hóa từ kết quả (còn được gọi là điệu kiện hóa  
phương tiện) là một phương thức học tập thông qua các tác nhân củng cố và trừng  
phạt. Với điều kiện hóa từ kết quả, một liên kết được hình thành giữa một hành vi  
và kết quả của hành vi đó. Khi một kết quả tích cực có được sau khi thực hiện một  
hành động, hành động đó có khả năng xuất hiện trở lại trong tương lai. Ngược lại,  
các phản ứng theo sau bởi kết quả tiêu cực sẽ ít có khả năng lặp lại trong tương lai  
2.1.1.2. Lý thuyết hành động xã hội  
Hành động xã hội mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định. Trong hành  
động xã hội bao giờ cũng phải có sự tham gia của ý thức, mà theo M.Werber đó là ý  
nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích. Khởi điểm của hành động xã hội là nhu  
cầu và lợi ích cá nhân, đó là những động cơ thúc đẩy hành động hay nói cách khác  
mọi người hành động đều có mục đích.  
Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động tùy theo hoàn cảnh hoạt  
động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với mình.  
”
Hoàn cảnh  
Phương  
tiện  
công cụ  
Nhu  
cầu  
Mục  
đích  
Động  
cơ  
Chủ thể  
Hình 2.1. Tổng quan lý thuyết hành động xã hội  
Nguồn: Trần Hữu Quang, 2019  
“
Lý thuyết này cho rằng ở xã hội phát triển, hành động của con người sẽ tuân  
theo hành động hợp lý về giá trị và hợp lý về mục đích, thay vì hành động theo  
truyền thống hay theo cảm xúc.  
Lý thuyết hành động xã hội thể hiện, một người dân bỏ rác ra khỏi nhà mình  
mà không quan tâm bỏ có đúng nơi quy định hay không với những suy nghĩ chỉ cần  
 
9
trong nhà sạch sẽ và không có rác là được nhưng gia đình họ vẫn có thể bị ô nhiễm  
bởi mùi hôi thối từ rác thải họ bỏ không đúng nơi quy định bay vào nhà và làm cho  
gia đình họ cũng phải chịu ô nhiễm. Hay đó là một hành động tuân theo khi thấy  
mọi người xung quanh ai cũng vứt rác bừa bãi, không đúng nơi quy định hay không  
bao giờ phân loại rác thì họ không bao giờ tự mình thực hiện mà làm theo đám  
đông.  
Qua lý thuyết hành động xã hội cho ta biết được để giảm bớt những hậu quả  
không chủ định thì cần tăng cường hiểu biết về bản thân đồng thời cần phải biết chú  
ý hơn về hoàn cảnh, điều kiện, môi trường hành động, chỉ có như vậy chúng ta mối  
giảm bớt được tính duy ý chí trong hành động người dân nhờ đó sẽ tăng cường sự  
phù hợp giữa chủ thể hoàn cảnh và hoàn cảnh trên thực tế.  
Từ lý thuyết và thực tế, huyện Bàu Bàng là một đô thị đang phát triển về nhiều  
mặt kinh tế, văn hóa và xã hội… nhóm đưa ra giả thuyết người dân trong phạm vi  
nghiên cứu sẽ thực hiện giữ gìn vệ sinh môi trường để đảm bảo mục đích của họ  
(một đời sống khỏe mạnh, sạch sẽ) và hợp với giá trị của họ, tức hợp với địa vị xã  
hội mà họ đang có  
2.1.1.3. Lý thuyết lối sống  
Lối sống là một khái niệm có tính đồng bộ và tổng hợp. Nó gồm quan hệ kinh  
tế, xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, văn hóa và quan hệ khác, đặc trưng sinh học  
của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định ( Lê Như  
Hoa).  
Lối sống được qui định bởi các điều kiện khách quan và chủ quan.  
Điều kiện khách quan: Điều kiện kinh tế xã hội, chính trị xã hội, tư tưởng và  
văn hóa, điều kiện về nhân khẩu, điều kiện về sinh thái.  
Lối sống là phương thức hoạt động của con người bao gồm: Nếp sống, thói  
quen, phong tục, tập quán, cách sống, cách làm, cách ăn, cách mặc, cách ở, cách  
sinh hoạt...  
Điều kiện chủ quan: Điều kiện tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức con  
người, thái độ của họ đối với môi trường xung quanh trực tiếp.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 87 trang yennguyen 13560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_cac_yeu_to_anh_huong_den_hanh_vi_du_dinh.pdf