Luận văn Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC.  
-----------------------------  
DƯƠNG THỊ HƯỜNG  
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG - KĨ NĂNG  
SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
TRIỆU QUANG PHỤC, TỈNH HƯNG YÊN  
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC  
HÀ NỘI – 2016  
 
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC  
DƯƠNG THỊ HƯỜNG  
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG - KĨ NĂNG  
SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
TRIỆU QUANG PHỤC, TỈNH HƯNG YÊN  
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC  
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC  
Mã số: 60 14 01 14  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. TRẦN QUỐC THÀNH  
HÀ NỘI – 2016  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình học tập, triển khai nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, tôi đã  
nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Giáo  
dục – Đại học Quốc gia Hà Nội và thầy hướng dẫn khoa học. Với tình cảm chân  
thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học,  
lãnh đạo khoa, các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý giáo dục,trường Đại học Giáo  
dục,Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá  
trình học tập và nghiên cứu.  
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến GS.TS Trần Quốc Thành – người  
thày đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn thành luận văn.  
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn đến:  
- Lãnh đạo phòng GD&ĐT huyện Yên Mỹ, chuyên viên Phòng Giáo dục  
Trung học, sở GD&ĐT tỉnh Hưng Yên  
- Cán bộ quản lý cùng giáo viên trường THPT Triệu Quang Phục, tỉnh  
Hưng Yên  
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong  
suốt thời gian qua.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi các hạn chế  
thiếu sót, tác giả kính mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy  
cô giáo và các bạn đồng nghiệp.  
Hà Nội ,tháng 12 năm 2016  
TÁC GIẢ  
Dương Thị Hường  
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
VIẾT TẮT  
BCH  
VIẾT ĐẦY ĐỦ  
Ban chấp hành  
BGH  
Ban giám hiệu  
CBQL  
CMHS  
CNH, HĐH  
CSVC  
GD&ĐT  
GTS  
Cán bộ quản lý  
Cha mẹ học sinh  
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
Cở sở vật chất  
Giáo dục và đào tạo  
Giá trị sống  
GV  
Giáo viên  
GVBM  
GVCN  
HS  
Giáo viên bộ môn  
Giáo viên chủ nhiệm  
Học sinh  
KHCN  
KHXH  
KNS  
Khoa học công nghệ  
Khoa học xã hội  
Kỹ năng sống  
QLGD  
THPT  
UBND  
XHCN  
Quản lý giáo dục  
Trung học phổ thông  
Ủy ban nhân dân  
Xã hội chủ nghĩa  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
Tiểu kết chương 1............................................................................................33  
iv  
Tiểu kết chương 2............................................................................................64  
v
DANH MỤC BẢNG  
vii  
 
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập  
quốc tế đã và đang tạo ra những tác động đa chiều, phức tạp ảnh hưởng đến quá  
trình hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ. Sự phát triển kinh tế - xã hội  
tạo nên sự chuyển đổi các giá trị trong cuộc sống và đòi hỏi con người cần có những  
kỹ năng sống phù hợp. Thực tiễn này khiến các nhà giáo dục của các quốc gia đặc  
biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho thế hệ trẻ. Trong  
đó có học sinh trung học phổ thông. Kỹ năng sống là tất cả những kỹ năng cần thiết  
trực tiếp giúp cá nhân thành công và hiệu quả trong công việc, sống an toàn, khỏe  
mạnh, đáp ứng được những thay đổi của cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng sống gắn  
liền với giá trị sống nên các nhà giáo dục bao giờ cũng gắn hai khái niệm này với  
nhau. Giáo dục kỹ năng sống gắn với giáo dục giá trị sống. Đồng thời, nói đến giáo  
dục giá trị sống là phải nói đến giáo dục kỹ năng sống. Vì kỹ năng sống là biểu hiện  
cụ thể của giá trị sống.  
Trong điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của tri  
thức và khoa học công nghệ, sự biến đổi mạnh mẽ của kinh tế thị trường, đòi hỏi  
con người phải xác định đánh giá đúng những giá trị ngầm định của bản thân, xác  
định những giá trị sống cần hướng tới phù hợp với định hướng giá trị của xã hội,  
cộng đồng và lựa cho mình lối sống, cách sống, hành vi ứng xử phù hợp. Đó là các  
kỹ năng cần thiết của con người bao gồm: kỹ năng giáo tiếp, kỹ năng làm chủ bản  
thân, kỹ năng ứng phó với xúc cảm, kỹ năng hoạt động xã hội vv... Vì thế, giáo dục  
giá trị sống- kỹ năng sống cho học sinh vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ giáo dục  
cần thiết và quan trọng trong các nhà trường hiện nay.  
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát  
triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế,  
giáo dục phổ thông nước ta đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột giáo dục  
thế kỉ XXI mà UNESCO đã đưa ra. Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI thực chất  
là tiếp cận giáo dục giá trị sống, hình thành kĩ năng sống cho người học: Học để  
biết, Học để làm, Học để khẳng định mình và Học để cùng chung sống.  
1
 
Đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ phải đương  
đầu với nhiều rủi ro thách thức. Một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên thiếu  
hiểu biết về giá trị sống, thiếu kỹ năng sống, có hành vi lệch chuẩn, gây sự bức xúc  
trong dư luận xã hội và sự trăn trở của ngành giáo dục. Do vậy, giáo dục giá trị sống  
và kỹ năng sống cho học sinh đang được các cấp là vấn đề hết sức cần thiết.  
Tuy nhiên, nhận thức về giá trị sống và kỹ năng sống, cũng như việc thể  
chế hóa giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống trong giáo dục phổ thông ở nước ta  
chưa thật cụ thể. Việc hướng dẫn, tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ  
năng sống cho học sinh ở các cấp học còn nhiều hạn chế. Các chương trình giáo dục  
giá trị sống và kĩ năng trong các nhà trường được thực hiện chưa hiệu quả do công  
tác quản lý nhiều hạn chế.  
Cũng như các trường THPT khác của tỉnh Hưng Yên và các địa phương  
khác, việc giáo dục giá trị sống - kĩ năng sống cho học sinh chưa được quan tâm  
đúng mức. Việc xác định nội dung và phương thức giáo dục còn chưa rõ ràng, phù  
hợp. Lãnh đạo các trường còn lúng túng, chưa có kế hoạch quản lý và chỉ đạo thực  
hiện giáo dục giá trị sống - kĩ năng sống một cách triệt để; cách thức tổ chức hoạt  
động giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống còn đơn điệu, chưa thu hút được học sinh  
tích cực tham gia.  
Từ những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “ Quản lý hoạt động  
giáo dục giá trị sống- kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Triệu Quang  
Phục, tỉnhHưng Yên”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống ở  
trường THPT Triệu Quang Phục, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục  
giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục  
toàn diện cho học sinh của nhà trường.  
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu  
Hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung  
học phổ thông  
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu  
Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh ở trường  
trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
4.1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ  
năng sống cho học sinh trung học phổ thông.  
4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống -  
kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh  
Hưng Yên.  
4.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng  
sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.  
5. Phạm vi nghiên cứu  
Nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động giáo  
dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh trong trường THPT.  
Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Triệu Quang Phục ,tỉnh Hưng Yên.  
Khách thể khảo sát:  
CBQL: 06 (Ban giám hiệu trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục,  
tỉnh Hưng Yên )  
Đội ngũ giáo viên: 37  
Học sinh: 125  
Hội cha mẹ học sinh: 16  
Thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2016.  
6. Câu hỏi nghiên cứu  
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của tôi đó là: Cần có những biện pháp  
quản lý như thế nào để hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh ở  
trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên đạt hiệu quả cao hơn.  
7. Giả thuyết khoa học  
Trường THPT Triệu Quang Phục đã quan tâm quản lý hoạt động giáo dục giá  
trị sống - kỹ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn  
chế. Nếu nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục giá trị sống  
và kỹ năng sống cho học sinh và áp dụng một số biện pháp quản lý phù hợp từ lập  
3
kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá sẽ góp phần nâng cao chất lượng  
hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học phổ  
thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.  
8. Ý nghia khoa học và thực tiễn của đề tài  
8.1. Ý nghĩa lý luận  
Khái quát lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống  
cho học sinh ở trường trung học phổ thông qua nghiên cứu cụ thể ở trường THPT  
Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.  
8.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho quản lý hoạt động giáo dục giá  
trị sống - kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học phổ thông khác có  
điều kiện tương tự.  
9. Phương pháp nghiên cứu  
9.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận  
Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lí  
các hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh trong các trường  
trung học phổ thông;phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách,  
tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho  
đề tài.  
9.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
- Điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn  
đề hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho học sinh trong các trường  
trung học phổ thông, quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng sống cho  
học sinh trong các trường THPT. Đối tượng khảo sát sẽ là cán bộ quản lí, giáo viên,  
học sinh và hội cha mẹ học sinh trường THPT Triệu Quang Phục,tỉnh Hưng Yên.  
- Phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin sâu về  
một số vấn đề cốt lõi của đề tài. Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập  
trung vào giáo viên và cán bộ quản lý.  
10. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,  
luận văn được trình bày trong 3 chương:  
4
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ  
năng sống cho học sinh trong các trường THPT.  
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng  
sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.  
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kỹ năng  
sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.  
5
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC  
GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH  
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề  
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước  
Giá trị sống- Kỹ năng sống và vấn đề giáo dục GTS-KNS cho con người đã  
xuất hiện và được nhiều người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói, học gói, học  
mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên  
nhiên. Đó là những giá trị và kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm,  
phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau.  
KNS có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO, WHO ,  
UNICEF cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong  
và ngoài nước. Ở hướng tiếp cận này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ  
năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện,  
quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó … Trong chương trình  
này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp,  
Kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định. [43]  
Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận  
nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong  
chương trình giáo dục chính quy. Năm 2007 giáo dục KNS ở Lào được mở rộng  
sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh sản, vệ sinh cá nhân,  
giáo dục môi trường vv..[43]  
Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của  
con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là  
giáo dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng  
nghề nghiệp [43]  
Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các  
kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời  
sống gia đình.  
6
           
Ở Bangladesh: Giáo dục KNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt  
động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai. [43]  
Ở Ấn Độ: Giáo dục KNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho  
con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng  
lực người. Các KNS được khai thác giáo dục là các kỹ năng: Giải quyết vấn đề, tư  
duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân  
cách vv…[43]  
Trong công trình "Về tâm lý học tồn tại' của A.Maslow đã được xuất bản ở  
Mỹ vào năm 1968, ông cho rằng tồn tại ba mức độ giá trị: Thứ nhất - đó là mức độ  
chung cho toàn thể mọi người. Thứ hai, mức độ giá trị của một nhóm người nhất  
định. Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù. Như vậy, giá trị là tình huống  
chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các  
nhu cầu hay các giá trị lại được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển.  
Những nhu cầu cơ bản này hay các giá trị này có thể được xem xét như mục đích  
hay như những bậc thang để dẫn đến mục đích duy nhất cuối cùng.  
Như vậy, tổ chức cũng như các nước trên thế giới có sự quan tâm nhất định  
đến các hiệu quả GD GTS-KNS cho con người nói chung và học sinh nói riêng. Tác  
giả sẽ tiếp thu có chọn lọc các hướng nghiên cứu trên nhằm xây dựng cơ sở lý luận  
cho đề tài.  
1.1.2. Nghiên cứu trong nước  
Giáo dục nói chung và giáo dục GTS-KNS là yếu tố quan trọng góp phần đổi  
mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với 4 mục tiêu quan trọng của giáo dục: học  
để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình.  
Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau hội  
thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF, Viện chiến lược và  
chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó  
người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống.  
Từ năm học 2002-2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông  
trong cả nước. Trong chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng  
sống thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, Tự  
7
 
nhiên-Xã hội (ở lớp 1-3) và môn Khoa học (ở lớp 4-5). Kỹ năng sống được giáo dục  
thông qua một số chủ đề: “Con người và sức khoẻ”.  
Đề tài cấp bộ tác giả Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về “Thực trạng kỹ  
năng sống cho học sinh và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kỹ năng sống cho  
học sinh”  
Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành  
niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh [29]; Giáo dục GTS-KNS của tác giả Nguyễn Kỳ  
Anh – giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng; Một số vấn  
đề chung về KNS và giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường phổ thông của Bộ  
Giáo dục và Đào tạo tháng 3/2010;  
- Tác giả Hà Nhật Thăng với bài “Hoạt động giáo dục ở trường THPT”. [39]  
- Tác giả Từ Thanh Nguyên với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản  
lý và tổ chức văn hoá – giáo dục “Những biện pháp quản lý giáo dục Kỹ năng sống  
cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Trà Vinh”, năm (2009). Tác  
giả đã khái quát về thực trạng giáo dục kỹ năng sống các trường THPT tỉnh Trà  
Vinh trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp về nâng cao nhận thức, tổ chức hình thức  
quản lý, tăng cường đánh giá chất lượng GD KNS...[28]  
- Tác giả Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục:  
“Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho  
học sinh ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp”, (2010) [41]  
Tác giả Đinh Tuyết Mai (2007) có thực hiện đề tài “Kỹ năng sống và giáo  
dục kỹ năng sông cho sinh viên các trường cao đẳng thành phố Đà Nẵng”. Luận  
văn thạc sĩ giáo dục, trường Đại học sư phạm Vinh. [26]  
Tác giả Nguyễn Xuân Hùng (2009) nghiên cứu đề tài “Biện pháp giáo dục  
kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng  
sự phạm Nha Trang – Khánh Hòa”. Đề tài đã phân tích thực trạng và đưa ra một số  
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho sinh viên nội trú như nâng cao  
nhận thức, cải tiến hình thức giáo dục, phương thức và tăng cường nội dung giáo  
dục KNS cho sinh viên.  
Tác giả Nguyễn Kiều Duyên, trong luận văn Thạc sĩ “Biện pháp quản lý  
giáo dục giá trị sống- kỹ năng sống cho học sinh ở một số trường THCS Quận  
8
Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã chỉ ra những thực  
trạng trong công tác quản lý của các nhà trường dành cho hoạt động quản lý giáo  
dục GTS-KNS trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa ra một số biện pháp khả thi  
trong việc quản lý hoạt động giáo dục GTS-KNS phù hợp, sáng tạo và hiệu quả  
[18];…  
Tác giả Lữ Thị Kim Hoa (2012) có thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý giáo  
dục giá trị sống-kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học quận Liên Chiểu,  
Thành phố Đà Nẵng”. Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục. Tác giả đã phân tích thực  
trạng quản lý giáo dục GTS-KNS trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp như giải  
pháp phát huy tiềm năng của cán bộ, giáo viên và nhu cầu rèn luyện của học sinh,  
kế hoạch hóa công tác giáo dục GTS-KNS cho học sinh...  
Có thể nhận thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công  
trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục GTS-KNS và công tác quản lý giáo dục  
GTS-KNS trong nhà trường, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực  
nội dung và phương thức giáo dục GTS-KNS, một số đề tài đã đề cập đến hình  
thức giáo dục GTS-KNS và đề xuất các biện pháp giáo dục GTS-KNS trong nhà  
trường,…Song, có không nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động  
giáo dục GTS-KNS đồng bộ ở cả môi trường trong và ngoài nhà trường. Hơn  
nữa, việc đưa giáo dục GTS-KNS vào các trường THPT hiện nay chưa thực sự  
được sự quan tâm và đầu tư chưa thích đáng cho việc xây dựng kế hoạch, đầu tư  
các nguồn lực và chưa tập trung vào những giải pháp, biện pháp quản lý tích cực  
dành cho hoạt động giáo dục này. Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu  
của các tác giả, thông qua đề tài nghiên cứu này, tác giả dành sự quan tâm và  
mong muốn nâng cao chất lượng giáo dục GTS-KNS cho học sinh trường THPT  
Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay.  
1.2. Một số khái niệm cơ bản  
1.2.1. Giá trị sống và giáo dục giá trị sống  
Giá trị và giá trị học được nghiên cứu từ lâu và được tiếp cận bởi nhiều khoa  
học khác nhau. Thời cổ đại và trung đại những tri thức về GT học gắn liền với Triết  
học. Cuối thế kỉ XIX, GT học mới tách ra thành một khoa học độc lập và thuật ngữ  
GT được dùng như một khái niệm khoa học.  
9
   
Lúc đầu khái niệm GT được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế. GT gắn liền  
hàng hoá, GT không đồng nhất với giá thành, giá cả. “Khi gạt bỏ thuộc tính GT sử  
dụng của hàng hoá thì hàng hoá là sự kết tinh sự hao phí sức lao động của người sản  
xuất hàng hoá lao động mới biểu hiện dưới hình thức GT. Vì thế GT phản ánh quan  
hệ sản xuất của mọi người”  
GT kinh tế là thuật ngữ chỉ sức mạnh của vật chất này khống chế những vật  
khác khi trao đổi. Để bộc lộ GT, vật phẩm phải có giá trị ích lợi tức là có khả năng  
thoả mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người. Do đó, trong phân tích kinh tế,  
GT là vị trí tương đối của hàng hoá trong trật tự ưu tiên, vị trí của nó càng cao thì  
GT của nó càng lớn. GT kinh tế lệ thuộc vào tình hình thị trường vào tình trạng  
khan hiếm của hàng hoá.  
Triết học nghiên cứu GT với nội dung rộng, nghiên cứu chung nhất các mối  
quan hệ qua lại giữa chủ thế và đối tượng. Tuy nhiên, trong Triết học vẫn biết tồn tại  
những quan niệm khác nhau về GT. Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu :  
Khác với Triết học, Xã hội học coi khái niệm GT bao gồm các hiện tượng  
GT của một xã hội cụ thể. Xã hội học không nhằm giải thích các GT chung mà xác  
định nội dung, sự phân bố nguyên nhân và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể hình  
thành nên hệ thống GT nhất định của xã hội, sau đó xếp thứ bậc các GT rồi diễn tả  
chúng bằng các thang đo. Bằng cách đó có thể phân tích được ĐHGT của con người  
trong xã hội.  
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “GT là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng  
quý, có ích của các đối tượng với chủ thể” [21, tr.22].  
Theo tác giảLê Hương: “GT là một hiện tượng xã hội điển hình biểu thị các  
sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực và các tư tưởng chuẩn  
mực, mục đích, lý tưởng được loài người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ  
của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người” [22, tr.11]  
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang cho rằng:  
“Cần phải hiểu khái niệm GT trong mối quan hệ với các thuật ngữ liên quan nhu  
cầu, sở thích, động cơ...Song GT không đồng nhất với nhu cầu…các GT không phải  
là những động cơ... GT là những cái cần và có ích cho chủ thể” [44, tr.21].  
10  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 124 trang yennguyen 22760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống - kĩ năng sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_ly_hoat_dong_giao_duc_gia_tri_song_ki_nang_son.pdf