Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu một số tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố của cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
ĐỖ VĂN THÀNH  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA  
THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI VÀ  
PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH,  
HUYỆN BẮC TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM  
Chuyên ngành: Sinh thái học  
Mã số: 60.42.01.20  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Đà Nẵng – Năm 2015  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ PHƯƠNG ANH  
Phản biện 1: TS. Hà Thăng Long  
Phản biện 2: TS. Chu Mạnh Trinh  
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp  
Thạc sĩ Khoa học họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 26 tháng 12  
năm 2015.  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam có diện tích tự nhiên  
823,05km2, là một trong những huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh  
Quảng Nam. Sông Tranh chảy qua các xã Trà Đốc, Trà Bui, Trà  
Tân, Trà Sơn, Trà Giác. Ở các sông suối đa dạng nhiều loài thủy  
sinh vật đặc biệt là cá.  
Tuy nhiên, trong thời gian qua việc đánh bắt ngày càng gia tăng,  
không có quy hoạch, cộng với những tác động của tự nhiên và hình  
thức đánh bắt mang tính chất hủy diệt của con người. Vì vậy, để phát  
triển kinh tế thủy sản thì không thể không quan tâm đến việc sử dụng  
và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản.  
Ngoài ra việc phát triển thủy điện và động đất xuất hiện ở khu vực  
cũng làm ảnh hưởng đến dòng chảy và suy giảm chất lượng nước sẽ  
làm hạn chế khả năng kiếm mồi của cá, mất chỗ sinh sản hoặc làm  
chết cá con và trứng của một số loài cá.  
Trong thời gian qua cũng chưa có nghiên cứu khoa học nào về  
nguồn lợi cá ở sông Tranh. Vì vậy, muốn khai thác hợp lý và sử dụng  
lâu dài nguồn lợi, nhất thiết phải có những nghiên cứu cơ bản và  
những hiểu biết nhất định về nguồn lợi thủy sản này.  
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên  
cứu một số tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố  
của cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam” nhằm  
góp phần giúp cho lãnh đạo địa phương và các nhà quản lí cộng đồng  
các xã ven sông Tranh tham khảo làm cơ sở cho việc xây dựng  
phương án khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội của  
địa phương..  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá được sự biến động thành phần  
loài và sự phân bố của cá do tác động của thủy điện ở sông Tranh,  
2
huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở khoa học cho việc  
xây dựng, quy hoạch, phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh  
học nguồn cá.  
3. Nội dung nghiên cứu  
* Hiện trạng nhà máy thủy điện Sông Tranh 2  
- Khái quát hiện trạng hoạt động của nhà máy thủy điện Sông Tranh  
2 và các sự cố.  
* Nghiên cứu về thành phần loài  
- Lập danh mục thành phần loài cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà  
My, tỉnh Quảng Nam.  
* Nghiên cứu về đặc điểm phân bố  
- Phân tích đặc điểm phân bố theo lưu vực, theo sinh cảnh của các  
loài cá thuộc khu vực nghiên cứu.  
- So sánh thành phần loài cá sông Tranh với một số sông khác  
trong nước và vùng lân cận làm cơ sở cho công tác bảo vệ và quản lý  
cá ở sông Tranh.  
* Tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố của cá  
- Một số tác động của thủy điện lên môi trường và kinh tế - xã hội  
ảnh hưởng đến nguồn lợi cá trên sông Tranh.  
- Đánh giá biến động thành phần loài và sản lượng cá so với thời  
gian trước khi chưa xây dựng nhà máy thủy điện.  
- Đánh giá về phân bố của cá trên đập và dưới đập nhà máy thủy điện.  
- So sánh sự biến động thành phần loài với khu hệ cá sông có tác  
động của nhà máy thủy điện.  
* Một số giải pháp khả thi phục hồi lại hệ sinh thái và nguồn  
lợi cá  
- Đề xuất một số giải pháp khả thi phục hồi lại hệ sinh thái và  
nguồn lợi cá do tác động của thủy điện.  
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu khu hệ cá ở sông  
Tranh là những dẫn liệu khoa học về đa dạng sinh học, về thành  
3
phần loài góp phần làm cơ sở đánh giá tác động, ảnh hưởng của  
việc xây dựng thủy điện đến nguồn lợi cá, quy hoạch phát triển  
bền vững và góp phần cung cấp tài liệu về động vật chí Việt Nam.  
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận văn là những dẫn liệu  
quan trọng giúp chính quyền địa phương, các nhà quản lý cộng  
đồng các xã ven sông Tranh tham khảo làm cơ sở cho việc xây  
dựng phương án khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi  
cá trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.  
5. Cấu trúc của luận văn  
Luận văn có 3 chương  
Chương 1: Tổng quan tài liệu  
Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên  
cứu  
Chương 3: Kết quả và bàn luận.  
CHƢƠNG 1  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN  
1.1.1. Tác động tích cực  
1.1.2. Tác động tiêu cực  
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG  
NAM  
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam  
Công trình đầu tiên nghiên cứu về phân loại cá nước ngọt ở Việt Nam  
là của H.E. Sauvage được công bố năm 1881. Đó là công trình “Nghiên  
cứu về khu hệ cá Á Châu”. Qua công trình này, H.E. Sauvage đã thống kê  
được 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền  
Bắc Việt Nam. Đến năm 1884, ông thu thập và công bố thêm 10 loài cá  
nước ngọt ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới [17].  
Từ năm 2001 - 2005, Nguyễn Văn Hảo đã xuất bản cuốn sách “Cá  
4
nước ngọt Việt Nam” gồm 3 tập, mô tả các loài nước ngọt điển hình  
và một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước  
lợ của vùng cửa sông, đầm phá ven biển. Theo công bố này, tác giả  
đã thống kê được 1.027 loài và phân loài cá thuộc 427 giống, 98 họ  
và 22 bộ. Đây được xem là bộ sách phân loại cá nước ngọt đầy đủ và  
chi tiết nhất Việt Nam hiện nay [18].  
Các công trình nghiên cứu khu hệ cá ở các hồ chứa và biến động  
thành phần loài do xây dựng các đập, hồ thủy điện còn hạn chế, chỉ  
mới bắt đầu chú trọng từ những năm 1997 trở lại đây. Nguyễn Thành  
Nam, Nguyễn Xuân Huân (2012) cũng nghiên cứu thấy khu hệ cá  
sông Đà địa phận Hòa Bình từ 72 loài chỉ còn 68 loài sau 20 năm nhà  
máy đi vào hoạt động [24].  
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam  
Năm 2008, Nguyễn Kim Sơn, Hồ Thanh Hải (Viện Sinh thái  
và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)  
công bố thành phần loài cá trong hệ thống sông Vu Gia - Thu  
Bồn gồm 107 loài cá, thuộc 31 họ, 9 giống. Trong đó có 8 loài  
nằm trong sách Đỏ Việt Nam. Ngoài ra hai tác giả còn tiến hành  
điều tra tình trạng nguồn lợi cá của hệ thống. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy, nguồn lợi cá đã giảm 50% so với 10 - 15 năm về trước  
[35].  
Gần đây nhất có công trình nghiên cứu của Vũ Thị Phương  
Anh, Trần Thị Thanh Thu (2014), đã công bố thành phần loài cá  
ở sông Đầm, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 91 loài  
thuộc 66, giống nằm trong 32 họ của 13 bộ [4].  
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG  
NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Điều kiện tự nhiên  
1.3.2. Tình hình kinh tế - xã hội  
5
CHƢƠNG 2  
ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU  
- Thành phần loài cá và tình hình khai thác cá ở sông Tranh,  
huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.  
- Tác động của thủy điện liên quan đến thành phần loài và phân bố  
của cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.  
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU  
Đợt 1: Từ ngày 25 - 26 tháng 3 (đi thực địa)  
Đợt 2: Từ ngày 24 - 26 tháng 4 (đi thực địa)  
Đợt 3: Từ ngày 8 - 9 tháng 5 (thu mẫu)  
Đợt 4: Từ ngày 20 - 21 tháng 6 (thu mẫu)  
Đợt 5: Từ ngày 30 - 31 tháng 7 (thu mẫu)  
Đợt 6: Từ ngày 27 - 29 tháng 8 (thu mẫu)  
Đợt 7: Từ ngày 15 - 16 tháng 9 (thu mẫu)  
Đợt 8: Từ ngày 2 - 4 tháng 10 (thu mẫu)  
2.3. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU  
Tiến hành thu mẫu diễn ra ở 11 điểm thu mẫu, các điểm thu mẫu  
được ký hiệu từ M1- M11 trên sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh  
Quảng Nam.  
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.4.1. Phƣơng pháp kế thừa  
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ngoài thực địa  
a. Điều tra theo tuyến khảo sát  
b. Phương pháp thu thập mẫu cá  
c. Xử lý và bảo quản mẫu cá  
d. Phân tích các chỉ tiêu môi trường nước  
e. Phương pháp điều tra qua ngư dân  
6
2.4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
a. Phân tích các chỉ tiêu hình thái  
b. Giám định tên khoa học của loài  
2.4.4. Sử dụng công thức trong tính toán  
2.4.5. Xử lí số liệu  
CHƢƠNG 3  
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN  
3.1. HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN SÔNG  
TRANH 2  
3.1.1. Hiện trạng hoạt động thủy điện Sông Tranh 2  
Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 được đặt tại huyện Bắc Trà My,  
tỉnh Quảng Nam, trên sông Tranh thuộc hệ thống sông Vu Gia - Thu  
Bồn. Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 được khởi công xây dựng vào  
tháng 3/2006 và được hoàn thiện giữa năm 2011. Công suất thiết kế  
của hồ chứa cho nhà máy thủy điện là hơn 730 triệu m3 nước, đây là  
một trong những hồ chứa lớn nhất tại khu vực Miền Trung Việt Nam.  
Trong quá trình hoạt động từ năm 2011 đến nay khu vực nhà máy  
luôn xảy ra hiện tượng động đất, đặc biệt trong năm 2012 với hơn 50  
trận động đất trong khu vực được ghi nhận.  
3.1.2. Những tác động và sự cố của thủy điện Sông Tranh 2  
Sự cố rò rỉ nước  
Sự cố động đất  
3.2. THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG  
TRANH  
3.2.1. Đa dạng thành phần loài  
Qua ghiên cứu chúng tôi đã xác định được thành phần loài cá ở  
sông Tranh có 90 loài, 59 giống, 20 họ thuộc 8 bộ.  
7
Bảng 3.1. Danh mục thành phần loài cá ở sông Tranh  
TT  
I
Tên khoa học  
Tên Việt Nam  
BỘ CÁ THÁT  
LÁT  
OSTEOGLOSSIFORMES  
(1) Notopteridae  
Họ cá Thát lát  
Cá Thát lát  
1
Notopterus notopterus (Pallas, 1769)  
II ANGUILLIFORMES  
(2) Anguillidae  
BỘ CÁ CHÌNH  
Họ cá Chình  
Anguilla marmorata (Quoy & Gaimard,  
1824)  
2
Cá Chình hoa  
Anguilla  
III CYPRINIFORMES  
(3) Cyprinidae  
3
Cá Chình mun  
BỘ CÁ CHÉP  
Họ cá Chép  
Cá Chép  
bicolor (Mc Clelland, 1844)  
4
5
6
7
8
9
Cyprinus carpio Linnaeus,1758  
Cyprinus centralus (Nguyen & Mai, 1994) Cá Dầy  
Carassius auratus (Linnaeus, 1758) Cá Diếc  
Carassioides cantonensis (Heincke, 1892) Cá Dưng  
Esomus metallicus Ahl, 1923  
Elobichthys bambusa (Richardson, 1845) Cá Măng  
Cá Lòng tong sắt  
10 Rasbora argyrotaenia (Bleeker, 1850)  
11 Rasbora cephalotaenia (Bleeker, 1852)  
Cá Lòng tong đá  
Cá Mại sọc  
Rasborinus steineri (Nichols & Pope,  
1927)  
12  
Cá Mại sọc bên  
13 Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1907)  
14 Rasborinus myersi (Brittan, 19h54)  
15 Rasborinus sumatrana (Bleeker, 1852)  
Cá Mại Bầu  
Cá Lòng tong mại  
Cá Lòng tong vạch  
16 Rasborinus trilineata Steindachner, 1870 Cá Lòng tong sọc  
17 Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1907)  
18 Rasborinus formosae (Oshima, 1920)  
Cá Mại  
Cá Mại bạc  
Ctenopharyngodon idellus (Cuvier &  
Valenciennes, 1844)  
19  
Cá Trắm cỏ  
20 Culter alburnus (Günther, 1868)  
21 Paralaubuca barroni (Fowler, 1934)  
22 Paralaubuca riveroi (Fowler, 1935)  
Cá Thiểu  
Cá Thiểu mại  
Cá Thiểu nam  
23 Hemiculter leucisculus (Basilewsky, 1855) Cá Mương  
24 Microphysogobio kachekensis (Oshima, Cá Đục đanh chấm  
8
TT  
Tên khoa học  
Tên Việt Nam  
1926)  
25 Cirrhinus molitorella (Valenciennes, 1844) Cá Trôi  
Squalibarbus curriculus (Richardson,  
26  
Cá Chày  
1846)  
Puntius semifasciolatus ( , 1868)  
Günther  
27  
Cá Cấn  
28 Puntius ocellatus Yen, 1978  
29 Puntius duraphani (Smith, 1929)  
Cá Đong chấm  
Cá Sóc  
30 Osteochilus hasselti (Valenciennes, 1842) Cá Mè lúi  
Osteochilus  
1972)  
salsburyi (Nichols & Pope,  
31  
Cá Dầm đất  
Osteochilus  
Osteochilus  
34 Onychostoma gerlachi(Peters, 1881)  
35 Onychostoma laticeps (Günther, 1896)  
36 Onychostoma fusiforme Kottelat, 1998  
37 Garra orientalis (Nichols, 1925)  
32  
33  
Cá Lúi  
Cá Lúi sọc  
Cá Sỉnh  
Cá Sỉnh gai  
Cá Xanh  
Cá Sứt môi  
Cá Choạc  
prosemion (Fowler, 1934)  
vitttatus (Valenciennes, 1842)  
38 Opsariichthys bidens (Günther, 1873)  
39 Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) Cá Bỗng  
Spinibarbus  
40  
Cá Chày đất  
caldwelli (Nichols, 1925)  
41 Rhodeus ocellatus (Kner, 1866)  
Cá Bướm chấm  
Hypophthalmichthys molitrix  
(Cuvier et Valenciennes, 1844)  
42  
Cá Mè trắng  
43 Aristichthys nobilis (Richarson, 1845)  
Cá Mè hoa  
44 Capoeta semifasciolatus (Günther, 1868) Cá Đòng đong  
45 Toxabramis swinhonis Gunther, 1873 Cá Dầu hồ  
46 Megalobrama skolkovii Dybowsky, 1872 Cá Vền  
47 Hampala macrolepidota Van Hasselt, 1823 Cá Ngựa nam  
48 Puntioplites falcifer (Smith, 1929)  
Cá Dảnh  
49 Systomus binotatus (Valenciennes, 1842) Cá Trẳng  
(4) Cobitidae  
Họ cá Chạch  
50 Misgurnus anguillicaudatus (Cantor, 1842) Cá Chạch bùn  
51 Misgurnus Mizolepis Gunther, 1888  
52 Cobitis sinensis Sauvage et Dabry, 1874  
53 Cobitis arenae (Linnaeus, 1934)  
54 Cobitis taenia Linnaeus, 1758  
Cá Chạch bùn núi  
Cá Chạch hoa  
Cá Chạch hoa chấm  
Cá Chạch đốm tròn  
9
TT  
Tên khoa học  
Tên Việt Nam  
Họ cá vây bằng  
Cá Bám đá  
(5) Balitoridae  
55 Sewellia elongata Robert, 1998  
56 Sewellia lineolata (Valenciennes, 1846)  
Cá Đép thường  
Cá  
thường  
Vây  
bằng  
57 Annamia normani Hora, 1931  
Schistura fasciolata (Nichols & Pope,  
1927)  
58  
Cá Chạch đá  
BỘ CÁ HỒNG  
NHUNG  
IV  
CHARACIFORMES  
(6) Characidae  
Họ cá Hồng nhung  
Cá Chim trắng nước  
ngọt  
59 Colossoma brachypomum (Cuvier, 1818)  
V
SILURIFOMES  
BỘ CÁ NHEO  
Họ cá Nheo  
(7) Siluridae  
60 Wallago attu ( Bloch & Schneider, 1801) Cá Leo  
Pterocryptis cochinchinensis (Cuvier &  
61  
Cá Thèo  
Valenciennens, 1840)  
62 Silurus asotus (Linnaeus, 1758)  
Cá Nheo  
(8) Cranoglanididae  
Họ cá Ngạnh  
63 Cranoglanis bonderius (Richardson, 1846) Cá Ngạnh  
(9) Cldariidae  
Họ cá Trê  
64 Clarias batrachus (Linnaeus, 1758)  
65 Clarias fuscus (Lacépède, 1803)  
66 Clarias macrocephalus ( Gunther, 1864)  
(10) Sisoridae  
Cá Trê trắng  
Cá Trê đen  
Cá Trê vàng  
Họ cá Chiên  
Cá Chiên suối đốm  
lớn  
67 Glyptothorax macromaculatus Li, 1984  
VI CYPRINODONTIFORMES  
(11) Aplocheilidae  
68 Aplocheilus panchax (Hamilton, 1822)  
BỘ CÁ BẠC ĐẦU  
Họ cá bạc đầu  
Cá Bạc đầu  
BỘ CÁ MANG  
LIỀN  
VII SYNBRANCHIFORMES  
(12) Synbranchidae  
69 Monopterus albus (Zouiew, 1793)  
Họ cá Mang liền  
Lươn  
70 Ophistenon bengalense ( Mc Clelland, Cá Lịch đồng  
10  
Tên khoa học  
TT  
Tên Việt Nam  
1844)  
(13) Mastacembelidae  
71 Mastacembelus amatus (Hora, 1924)  
72 Macrognathus aculeatus (Bloch, 1786)  
VIII PERCIFORMES  
Họ cá Chạch sông  
Cá Chạch sông  
Cá Chạch lá tre  
BỘ CÁ VƢỢC  
Họ cá Chẽm  
(14) Centropomidae  
73 Lates calcarifer (Bloch, 1790)  
(15) Eleotridae  
74 Oxyeleotris marmoratus (Bleeker, 1852)  
Cá Chẽm  
Họ cá Bống đen  
Cá Bống tượng  
Eleotris oxycephalves (Temmike  
Cchrgen, 1845)  
&
75  
Cá Bống đen nhỏ  
(16) Gobiidae  
Họ cá Bống trắng  
Cá Bống đá  
Cá Bống mắt  
Cá Bống đá khe  
Họ cá Rô  
76 Rhinogobius giurinus (Rutter, 1897)  
77 Rhinogobius ocellatus (Fowler, 1937)  
78 Ctenogobius leavelli Herre, 1935  
(17) Anabantidae  
79 Anabas testudineus (Bloch, 1792)  
(18) Belontidae  
Cá Rô đồng  
Họ cá Sặc  
80 Macropodus opercularis Linnaeus, 1758 Cá Đuôi cờ  
81 Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770)  
Cá Sặc bướm  
Cá Sặc rằn  
Cá Sặc điệp  
Cá Thia ta  
Cá Thia xiêm  
Họ cá Rô phi  
Trichogaster  
Trichogaster  
82  
83  
pertoralis (Regan, 1910)  
microlepis (Gunther, 1861)  
84 Betta taeniata Regan, 1910  
85 Betta Splendens Regan, 1910  
(19) Cichlidae  
86 Oreochromis mossambicus (Peters, 1852) Cá Rô phi  
Oreochromis  
88 Oreochromis sp.  
(20) Channidae  
89 Channa striata (Bloch, 1797)  
90 Channa gachua (Hamilton, 1822)  
87  
Cá Rô phi vằn  
Cá Diêu hồng*  
Họ cá Quả  
Cá Quả  
niloticus (Linnaeus, 1758)  
Cá Quả suối  
11  
3.2.2. Các loài cá quý hiếm  
Trong 90 loài cá thu được ở khu vực sông Tranh, có 4 loài cá quý  
hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam 2007, chiếm 4,44% tổng số  
loài cá thu được ở khu vực.  
Bảng 3.3. Các loài cá quý hiếm ở sông Tranh  
Tình  
TT  
Tên khoa học  
Tên Việt Nam  
trạng  
Anguilla marmorata Quoy & Gaimard,  
1824  
1
Cá Chình hoa  
VU  
2
3
4
Anguilla bicolor (Mc Clelland, 1844)  
Cá Chình mun  
Cá Măng  
VU  
VU  
VU  
(Richardson,1845)  
Elobichthys bambusa  
Onychostoma laticeps (Gunther, 1896)  
Cá Sỉnh gai  
3.2.4. Mối quan hệ giữa thành phần loài cá ở khu hệ sông  
Tranh với khu hệ khác  
Khoảng cách về mặt địa lý và điều kiện sinh thái là những yếu tố  
có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ thành phần loài của các khu hệ cá.  
Hình 3.4. Biểu đồ hệ số gần gũi giữa thành phần loài cá sông Tranh  
với một số khu hệ khác  
Xem xét mối quan hệ thành phần loài của khu hệ cá sông Tranh so  
với các khu hệ khác (Hình 3.4) dựa trên hệ số gần gũi Sorencen,  
chúng tôi nhận thấy khu hệ cá sông Tranh có mức gần gũi hơn với 2  
khu hệ: sông Đầm và sông Ô Lâu còn các khu hệ khác có mức độ gần  
gũi thấp hơn.  
12  
Như vậy, thành phần loài cá sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh  
Quảng Nam vừa có phân bố loài cá phía Bắc, vừa có phân bố loài cá  
phía Nam. Điều này chứng tỏ nó mang tính chất chung giữa hai miền,  
nơi giao thoa của hai luồng cá phía Bắc và phía Nam.  
3.2.5. Đặc điểm phân bố của các loài cá khu vực sông Tranh  
Huyện Bắc Trà My là huyện miền núi tỉnh Quảng Nam nên hệ  
thống sông ngòi ở đây đặc trưng cho kiểu thủy vực nước chảy và  
thủy vực nước đứng.  
Nhóm cá phân bố chủ yếu thủy vực nước chảy  
Nhóm cá phân bố thủy vực nước đứng  
Theo kết quả điều tra của chúng tôi, sự phân bố của 90 loài cá ở  
sông Tranh có 51 loài phân bố thủy vực nước đứng chiếm 56,67% ,  
có 39 loài chỉ phân bố ở vùng sông suối miền núi nước chảy chiếm  
43,33% (Hình 3.5).  
Hình 3.5. Phân bố cá theo thủy vực  
3.3. TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN ĐẾN THÀNH PHẦN LOÀI  
VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG TRANH  
3.3.1. Những tác động liên quan  
a. Ngăn cản sự di cư của cá  
Đập thủy điện Sông Tranh 2 đã tạo nên rào cản di cư của các loài  
cá. Sự kết nối theo chiều dọc sông là cần thiết vì cá thường di chuyển  
dọc theo chiều dài sông để đẻ trứng và nuôi dưỡng con, vùng nước  
sâu là nơi ẩn náu khi mực nước sông hạ thấp.  
Khu vực tác động của thủy điện Sông Tranh 2 có một số loài di cư  
như cá Lăng (Hembgrus elongates), cá Măng (Elobichthys bambusa),  
13  
cá Chình hoa (Anguilla marmorata)...Trong khi đó loài cá Chình hoa  
(Anguilla marmorata) về mùa sinh sản di cư ra biển đẻ. Loài cá này  
phân bố chủ yếu phía trên của đập vì vậy đập là rào cản đường di cư  
đi sinh sản của chúng nên đã làm giảm số lượng những loài này.  
64.5  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
50.3  
44.5  
Thường gặp  
Ít gặp  
33  
Không gặp  
5.2  
2.5  
Trước xây  
đập  
Sau xây đập  
Hình 3.6. Tần số bắt gặp cá Chình hoa điều tra qua người dân  
Qua hình 3.6 cho thấy tần số bắt gặp của loài cá Chình hoa ngoài  
tự nhiên đã giảm nhiều, từ mức thường gặp chiếm 64,5% trong thời  
gian trước theo ý kiến được hỏi nay chỉ còn ít gặp chiếm 50,3% và  
không gặp chiếm 44,5%.  
b. Thay đổi dòng chảy của sông  
Sau khi xây dựng đập, mực nước hồ chứa sẽ dâng cao làm cho tốc  
độ dòng chảy ở thượng nguồn yếu đi do giảm độ cao của thác ghềnh  
trong khi đó diện tích mặt hồ tăng làm giảm chiều dài đoạn sông từ  
thượng nguồn đổ về hạ lưu. Dòng chảy ở hạ lưu thì phụ thuộc vào  
công xuất hoạt động của nhà máy.  
Hệ sinh thái sông chuyển thành hệ sinh thái hồ chứa  
Xuất hiện bậc thang thủy điện đã làm thay đổi chế độ thủy văn từ  
chế độ thủy văn sông ngòi sang chế độ thủy văn hồ chứa, các loài cá  
thích ứng được với hệ sinh thái hồ chẳng hạn cá Chép  
(Cyprinuscarpio), cá Bỗng (Spinibarbus denticulatus), cá Mương  
(Hemiculter leucisculus), cá Ngạnh (Cranoglanis bonderius)...phát  
triển mạnh do có hàm lượng mùn bã hưu cơ là nguồn thức ăn dồi dào.  
Qua điều tra ngư dân, với 31 loài cá phổ biến, kích thước lớn có  
trong vùng hồ mà người dân thường khai thác thấy có 13 loài sản  
14  
lượng giảm chiếm 41,94% sống môi trường nước chảy, 14 loài có sản  
lượng tăng chiếm 45,16% sống môi trường nước đứng, 4 loài sống  
đáy bùn chiếm 12,9% không còn xuất hiên trong hồ (Hình 3.7).  
Hình 3.7. Biến động sản lượng của một số loài khảo sát  
Môi trường sống, nơi ở, các bãi đẻ trứng của một số loài cá đều chìm  
sâu dưới đáy hồ như các loài: cá Bám đá (Swellia elongata), cá Leo  
(Wallago attu), các loài thuộc họ Balitoridae, vì vậy các loài cá này đã  
giảm nhanh về số lượng.  
Sự lắng đọng của các chất trầm tích làm cho nền đáy của hồ chứa  
bị vô cơ hóa, từ đó làm mất môi trường sống của những loài sống đáy  
bùn có trong hồ mà chúng tôi điều tra đươc như Lươn (Monopterus  
albus), cá Chạch bùn (Misgurnus anguillicaudatus), cá Trê vàng  
(Clarias macrocephalus).  
Môi trường sống của các loài cá sống chảy bị mất đi do bồi lắng trâm  
tích nền đáy, nơi ở và đẻ trúng bị ngập xâu dưới hồ nên những loài cá  
thích nghi với môi trường sống nước chảy trong hồ suy giảm số lượng.  
Tạo khúc sông chết từ đập đến ngã ba sông Tranh và sông  
Trường  
Công trình thủy điện Sông Tranh 2 để nâng cao hiệu quả phát  
điện, đã dùng đường ống áp lực dẫn nước từ hồ chứa đến nhà máy  
thủy điện nên sẽ hình thành đoạn sông chết với chiều dài 7,8km trong  
đó có 3,7km ngay sau đập là chịu tác động mạnh nhất, lưu lượng  
dòng chảy đo được là 0,5m3/s dưới 10% dòng chảy năm, so sánh theo  
phương pháp Tennant thì điều kiện sinh thái vùng này suy giảm  
15  
không thuận lợi cho sự phát triển sinh vật.  
Kết quả thu mẫu cho thấy do điều kiện sống không thuận lợi nên  
phía dưới đập (chỉ tính từ đập đến ngã ba sông Tranh và sông  
Trường) có 27 loài cá chiếm 30% so với toàn khu hệ nghiên cứu.  
Thành phần chủ yếu là một số loài cá nhỏ như cá Mại sọc (Rasbora  
cephalotaenia), cá Lòng tong vạch (Rasbora sumatrana), cá Quả  
(Channa striata), Rô đồng (Anabas testudineus)...số lượng ít.  
Qua kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy đoạn sông này đang  
suy giảm nghiêm trọng về sinh thái, về cả mặt môi trường lẫn đa  
dạng loài, mà ở đây trực tiếp là thành phần loài cá.  
Thay đổi môi trường sống hạ lưu  
Hồ chứa được hình thành sẽ làm biến đổi dòng chảy và gây xói lở  
vùng hạ lưu (Nguyễn Hữu Dực và cs, 2008). Như vậy sẽ ảnh hưởng  
đến nhiều loài cá vì ở đây số các loài phân bố ven bờ và tầng đáy  
nhiều hơn so với các tầng khác như cá Quả (Channa striata), cá Trê  
đen (Clarias fuscus), cá Chày (Squalibabus curriculus), Lươn  
(Monopterus albus), cá Diếc (Carassius auratus).  
c. Gây xói lở bờ sông  
Hồ tích nước, dạng địa hình trũng ngập nước được mở rộng quy  
mô diện tích (thủy điện Sông Tranh 2 đã làm ngập 2.446,9ha đất sau  
khi tích nước) kéo theo quá trình xâm thực, tích tụ, xói lở, sạt lở bờ.  
Quá trình này tạo ra một lượng phù sa tham gia vào việc tạo trầm  
tích bùn đáy hồ. Trầm tích lắng động lại làm ảnh hưởng đến đời sống  
các loài sống đáy như cá Trê đen (Clarias fuscus), Lươn (Monopterus  
albus), cá Bám đá (Sewellia elongata)...  
Dòng phù sa thay đổi theo từng đoạn sông khiến nhiều bờ sông hạ  
lưu suy yếu và sụt đáy sông do “hiệu ứng nước trong”. Mặt khác, công  
tác vận hành tích - xả của hồ chứa đã làm cho mực nước hạ lưu dao  
động lớn gây mất ổn định hai bờ sông dẫn đến xói lở ở hạ lưu đập.  
Xói lở bờ sẽ làm giảm lượng cây gần bờ và các cây sống ven sông  
do đó làm giảm lượng thức ăn của cá, cũng làm mất nơi đẻ trứng  
16  
hoặc trứng bị vùi lấp.  
d. Chất lượng nước sông Tranh giảm  
Kết quả đo và kiểm tra thực tế chất lượng nước cho thấy các chỉ  
tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên chất lượng nước suy  
giảm so với thời gian chưa có thủy điện. Hàm lượng ôxy hòa tan  
(DO) biểu thị cho độ phồn thịnh chung của chất lượng nước đã thay  
đổi qua các mùa khác nhau và thấp hơn thời kì chưa có thủy điện  
chứng tỏ chất lượng nước đã giảm.  
Hình 3.8. Thành phần nhóm loài cá ở các lưu vực theo hàm lượng DO  
Qua hình 3.8 cho thấy phần phía trên thượng nguồn chỉ số DO cao  
trên 6,5mg/l nên thích hợp với các loài cá sống môi trường nước chảy  
ở khe suối (chiếm 66,67% số loài ở đây) như Leo (Wallago attu), cá  
Chạch (Micronemachilus taenia), cá Sỉnh (Onychostoma gelarchi),  
cá Chạch đá (Schistura fasciolata).  
Hồ chứa đi vào hoạt động đã nhấn chìm một diện tích đất đai  
trong nước làm tiêu hao hàm luợng ôxy sẵn có. Lượng ôxy hòa tan  
trong hồ và dưới đập giảm còn chỉ (5 - 5,5)mg/l, trong khi trước khi  
xây dựng đập trung bình đạt 6,11 mg/l nên các loài cá phân bố ở đây  
chủ yếu là các loài sống nước đứng, ở hồ chiếm 69,1%, còn ở đoạn sông  
chết sau đập chiếm 81,48% nhưng kích thước nhỏ.  
e. Áp lực sinh kế của người dân lên môi trường sống  
Vì khan hiếm đất đai và vùng đất mới tái định cư thì không thuận  
lợi cho canh tác. Điều này dẫn đến tình trạng bấp bênh và những thay  
đổi lớn trong sinh kế khi khoản tiền đền bù được sử dụng hết. Sinh kế  
17  
của người dân tái định cứ hoàn toàn không ổn định.  
Vì vậy các hộ gia đình phụ thuộc vào đánh bắt cá, khai thác  
khoáng sản và tài nguyên rừng. Việc đánh bắt cá trên sông khó khăn  
hơn do đó người dân sử dụng các biện pháp đánh bắt mang tính hủy  
diệt như rớ giàn, kích điện và đánh mìn đã làm suy giảm nguồn cá  
nghiêm trọng.  
Hình 3.9. Số hộ khai thác các tài nguyên theo xã  
Qua hình 3.9 cho thấy số hộ gia đình còn phụ thuộc vào khai thác  
tài nguyên nhiều, trong đó xã Trà Bui có số hộ khai thác rừng là 75  
còn khai thác cá là 93 cao nhất trong các xã nghiên cứu.  
Những điều này đã làm giảm môi trường sống của các loài thủy  
sinh vật và đặc biệt nguồn lợi cá rất lớn.  
f. Phát triển nuôi trồng thủy sản  
Diện tích lòng hồ mở rộng nên viêc nuôi trồng thủy sản tăng  
nhanh, các loài cá nuôi thoát ra đã thích ứng tốt với môi trường tự  
nhiên, nên quần thể ngoài tự nhiên phát triển mạnh.  
Trong vùng nghiên cứu thấy có xuất hiện 7 loài cá nuôi du nhập  
vào như cá Diêu hồng (Oreochromis sp.), cá Chim trắng nước ngọt  
(Colossoma brachypomum), cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus),  
cá Mè hoa (Aristichthys nobilis)...  
3.3.2. Đánh giá mức độ ảnh hƣởng  
a. Biến động thành phần loài cá  
18  
Qua nghiên cứu và phỏng vấn 155 người dân có liên quan đến  
khai thác cá, với các bản ảnh các loài cá có tên loài theo tên địa  
phương và tên phổ thông chúng tôi xác định được những thay đổi  
thành phần loài như sau:  
Thành phần loài mới bổ sung và mất đi trong toàn khu hệ cá  
sông Tranh  
Hình 3.12. Tỷ lệ % loài cá mới xuất hiện và mất đi trong toàn khu hệ  
Qua hình 3.12 thấy rằng chỉ trong thời gian ngắn từ khi nhà máy  
thủy điện đi vào hoạt động đã có sự xuất hiện những loài cá mới du  
nhập vào và đồng thời cũng làm mất đi một số loài cá đáng kể.  
Trong vùng nghiên cứu thấy có xuất hiện 7 loài cá nuôi nhập nội  
trong đó có 5 loài là xuất hiện sau khi có đập thủy điện chiếm 5,56%  
tổng số loài toàn khu hệ gồm: cá Diêu hồng (Oreochromis sp.), cá  
Chim trắng nước ngọt (Colossoma brachypomum), cá Trắm cỏ  
(Ctenopharyngodon idellus), cá Mè hoa (Aristichthys nobilis), cá Mè  
trắng (Hypopthalmichthys molitrix).  
Hai loài cá không còn thấy xuất hiện trong 4 năm gần đây chiếm  
2,22% trong tổng số loài của khu hệ, là cá Chiên (Bagarius bagarius)  
và cá Lăng (Hembagrus elongates) trong khi trước đây hai loài này  
cũng là loài cá có giá trị kinh tế cao của vùng. .  
Giảm sản lượng cá trên sông  
Kết quả điều tra cho thấy sản lượng cá đánh bắt ngoài tự nhiên  
giảm nhiều so với trước khi xây đập thủy điện và giảm dần qua từng  
năm. (Hình 3.13).  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 19760 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu một số tác động của thủy điện đến thành phần loài và phân bố của cá ở sông Tranh, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_mot_so_tac_dong_cua_thuy_dien_de.pdf