Luận văn Tác động của hoạt động quản trị nguồn nhân lực đến niềm tin và động lực phụng sự công của công chức tại các phòng ban thuộc UBND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
-----*-----  
LÊ THỊ QUÝ  
TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG  
QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC ĐẾN NIỀM TIN  
VÀ ĐỘNG LỰC PHỤNG SỰ CÔNG CỦA CÔNG CHỨC  
TẠI CÁC PHÒNG BAN THUỘC UBND HUYỆN PHÙ MỸ,  
TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
-----*-----  
LÊ THỊ QUÝ  
TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG  
QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC ĐẾN NIỀM TIN  
VÀ ĐỘNG LỰC PHỤNG SỰ CÔNG CỦA CÔNG CHỨC  
TẠI CÁC PHÒNG BAN THUỘC UBND HUYỆN PHÙ MỸ,  
TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Người hướng dẫn khoa học : TS. Lưu Trọng Tuấn  
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi tên Lê Thị Quý, tác giả của luận văn tốt nghiệp cao học này. Tôi xin cam  
đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có  
nguồn gốc rõ ràng.  
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những cam kết trên.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày  
tháng 12 năm 2016  
Người thực hiện luận văn  
Lê Thị Quý  
TÓM TẮT  
Qua một thời gian rất dài cải cách dịch vụ công nhưng hiện nay tại các tổ  
chức khu vực công trên cả nước nói chung và huyện Phù Mỹ nói riêng vẫn còn  
nhiều người dân chưa hài lòng với dịch vụ công. Một trong những nguyên nhân cơ  
bản đó là động lực phụng sự công của công chức chưa cao. Để khẳng định nguyên  
nhân dẫn đến thực trạng trên tác giả nghiên cứu “Tác động của hoạt động quản trị  
nguồn nhân lực đến niềm tin và động lực phụng sự công của công chức tại các  
phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định”.  
Trong nghiên cứu tác giả xây dựng bảng câu hỏi điều tra với thang đo Likert  
5 mức độ và tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi để thu thập thông tin từ  
những công chức tại 19 phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình  
Định. Với mẫu điều tra được chọn là 155 phiếu khảo sát và được xử lý dữ liệu bằng  
phần mềm thống kê SPSS-20. Kết quả thu thập được cho thấy bốn giả thuyết được  
đưa ra và chứng minh: Hoạt động quản trị nguồn nhân lực tác động dương đến niềm  
tin vào hệ thống, với hệ số β là 0.596. Hoạt động quản trị nguồn nhân lực tác động  
dương đến niềm tin giữa con người, với hệ số β là 0.505. Niềm tin vào hệ thống tác  
động dương đến động lực phụng sự công, với hệ số β là 0.595. Niềm tin giữa con  
người tác động dương đến động lực phụng sự công, với hệ số β là 0.378.  
Qua kết quả nghiên cứu cho ta thấy, để tăng Động lực phụng sự công của  
công chức cần nâng cao hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại các tổ chức công  
bằng cách tạo niềm tin đến với công chức, để công chức có niềm tin vào tổ chức,  
vào đồng nghiệp và từ đó nâng cao động lực phụng sự công.  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LÒI CAM ĐOAN  
TÓM TẮT  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
TT  
Chữ viết tắt  
Ý nghĩa  
1
ANOVA  
Analysis of Variance  
2
3
4
5
EFA  
KMO  
SPSS  
VIF  
Exploratory Factor Analysis  
Kaiser-Meyer-Olkin  
Statistical Package for the Social Sciences  
Variance Inflation Factor  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
1
CHƯƠNG 1  
MỞ ĐẦU  
Trong chương một tác giả trình bày lý do chọn đề tài, bối cảnh nghiên cứu,  
mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.  
1.1 Lý do chọn đề tài  
Công chức có vai trò trung tâm trong các hoạt động quản lý nhà nước. Do  
vậy, hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức công luôn được các quốc  
gia quan tâm. Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Luật Cán bộ, công chức năm  
2008 có hiệu lực tháng 1 năm 2010 với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ công  
và quản lý cán bộ, công chức. Tuy nhiên trên thực tế việc triển khai các quy định  
của Luật Cán bộ, công chức cho thấy vẫn còn nhiều bất cập. Các quy định chưa thật  
sự khơi dậy động lực làm việc và đạo đức công vụ của công chức. Một trong những  
nguyên nhân cơ bản đó là mức lương, môi trường làm việc và việc đề bạt chưa phù  
hợp. Để công chức có động lực phụng sự cho tổ chức, cho xã hội trước tiên họ phải  
có niềm tin vào tổ chức mà họ đang làm, để có được điều đó thì hoạt động quản trị  
nguồn nhân lực phải thật tốt.  
Hiện nay niềm tin của công dân đến với dịch vụ công chưa được nâng cao,  
mặt dù qua một thời gian rất dài cải cách dịch vụ công nhưng vẫn còn nhiều người  
dân chưa hài lòng (Chấn Hưng, 2016), điều đó có phải là do năng lực, đạo đức của  
nhiều công chức còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong công tác quản lý  
nhà nước? “Công chức làm công tác văn thư, lưu trữ của cơ quan chuyên môn hách  
dịch, rề rà, gây khó dễ cho các cá nhân đến liên hệ công tác v.v. Bên cạnh đó, tình  
trạng công chức giải quyết công việc sai quy định, hướng dẫn, giải thích công việc  
cho người dân một cách lòng vòng, khó hiểu, thái độ làm việc hời hợt, thiếu nhiệt  
tình và thiếu hẳn tính thân thiện hoặc thiếu nhiệt tình trong việc tiếp công dân. Công  
chức làm công tác địa chính hướng dẫn thủ tục cho người dân không đầy đủ, nhiều  
lần và có hiện tượng vòi vĩnh, ngâm hồ sơ nhằm mục đích vụ lợi. Ngoài ra trong  
việc thực hiện nhiệm vụ, công tác tiếp xúc, tiếp nhận hồ sơ giải quyết công việc cho  
   
2
nhân dân, một số công chức tỏ rõ thái độ hách dịch, nhũng nhiễu khi giải quyết  
công việc, gợi ý, vòi vĩnh trong khi thực hiện nhiệm vụ” (Sở Nội vụ tỉnh Đắk nông,  
2015).  
Tại sao đã cải cách hành chính, chẳng hạn như: cơ chế một cửa, vi tính hóa,  
hiện đại hóa v.v mà vẫn không thay đổi bao nhiêu và vẫn không nâng độ hài lòng  
của người dân lên, có phải người phục vụ người dân vẫn chưa có động lực để phụng  
sự công. Như vậy có thể nói ngoài phần cứng mà chúng ta trang bị cơ sở vật chất,  
công sở sạch đẹp để nâng độ hài lòng cho người dân đó mới chỉ là tài sản hữu hình,  
còn tài sản vô hình là động lực phụng sự công của người công chức đó mang lại cho  
người dân thì lại quá thấp, họ không cảm thấy tình người, không cảm thấy sự ân  
cần, họ cảm thấy người công chức không muốn cống hiến vì xã hội. Theo báo  
Người lao động dẫn lời người dân phản ánh “cải cách hành chính còn phức tạp, đi  
làm thủ tục thành lập doanh nghiệp, dự án v.v bị cán bộ “hành” không làm được”  
(Sỹ Hưng, 2016). Những điều trên là do động lực phụng sự công của công chức  
chưa cao.  
Động lực phụng sự công là động lực mạnh mẽ để thực hiện các công việc có  
ý nghĩa cho cộng đồng và dịch vụ phục vụ xã hội (Berwer và Selden, 1998). Động  
lực phụng sự công là niềm tin, giá trị cá nhân và quan tâm đến sự phát triển của tổ  
chức (Vandenabeele, 2007).  
Vậy chúng ta phải tìm cách nào đó để nâng cao động lực phụng sự công của  
người công chức lên. Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng muốn nâng cao động  
lực phụng sự công của người công chức thì họ phải có niềm tin vào tổ chức cao, họ  
có niềm tin vào lãnh đạo, vào hệ thống cơ quan mà họ đang công tác (Moynihan và  
Pandey, 2007). Nếu niềm tin của người công chức thấp thì họ không có động lực  
phụng sự công cao (Boyneetal, 2012).  
Niềm tin được coi là chất bôi trơn giúp cho tổ chức hoạt động hiệu quả  
(Bennis và Nanus, 1985), là một cơ chế tích hợp tạo ra và duy trì các hệ thống xã  
hội (Barber, 1983; Blau, 1964) và là nguồn gốc của việc tăng hiệu suất và hiệu quả  
3
trong công việc (Culbert và McDonough, 1986; Golembiewski và McConkie, 1975;  
Zand, 1972).  
Làm sao để người công chức có niềm tin vào hệ thống, niềm tin vào đồng  
nghiệp và tin vào lãnh đạo của mình, là bắt nguồn từ cơ quan đó phải có một cơ chế  
quản trị nguồn nhân lực rất hữu hiệu. Nếu cơ chế quản trị nguồn nhân lực giúp cho  
họ phát triển trong nghề nghiệp, giúp họ đủ sống để khỏi phải lo cơm áo gạo tiền  
hàng ngày thì quản trị nguồn nhân lực đó mới có thể mang lại niềm tin và từ đó dẫn  
đến động lực phụng sự công cho họ. Bởi vì quản trị nguồn nhân lực bao gồm các  
hoạt động như: tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo và phát triển, đánh giá hiệu quả công  
việc, đãi ngộ v.v và chính các hoạt động này hòa quyện lại thành một mối để cho  
người nhân viên cảm thấy tin hơn và có động lực hơn vào tổ chức hiện tại. Đâu đó  
trên đất nước vẫn còn hiện tượng hoạt động quản trị nguồn nhân lực tổ chức công  
kém hiệu quả, ví dụ tuyển chọn, tuyển mộ không chọn người tài, mà theo cơ cấu  
con ông cháu cha, ví dụ báo người lao động có bài viết “Pháp luật hiện hành quy  
định khá chặt chẽ về tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức trong tổ chức, cơ  
quan, doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Thế nhưng, tình trạng lợi dụng quyền lực  
để cài cắm, đưa người thân vào làm việc gây mất dân chủ, đoàn kết nội bộ diễn ra ở  
nhiều nơi” (Phan Anh, 2015). Ngoài ra chính sách đãi ngộ hoặc đánh giá hiệu quả  
công việc chủ yếu dựa vào bằng cấp, thâm niên, không dựa vào chính thực lực  
người đó đóng góp cho tổ chức.  
Tuy có chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 15/8/2013 của Ủy ban nhân dân huyện  
Phù Mỹ về việc đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính nhà nước trên địa bàn  
huyện giai đoạn 2011-2015, nhưng các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù  
Mỹ vẫn còn tình trạng một số bộ phận công chức chưa đề cao trách nhiệm trong  
thực thi công vụ, ý thức kỷ luật kém, gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức, công dân  
trong thực hiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính, nhiều công chức vi phạm về  
sử dụng thời gian làm việc như làm việc riêng trong giờ hành chính, đi muộn, về  
sớm từ đó làm mất lòng tin đối với nhân dân. Đó là một trong những nguyên nhân  
do hoạt động quản trị nguồn nhân lực ở các cơ quan hành chính của huyện chưa thật  
4
sự quan tâm đúng mức đến động lực phụng sự công của công chức. Chính những  
điều đó dẫn đến động lực tôi làm nghiên cứu “Tác động của hoạt động quản trị  
nguồn nhân lực đến niềm tin và động lực phụng sự công của công chức tại các  
phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” để khảo sát  
mức độ quản trị nguồn nhân lực tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định có cao hay chưa,  
có hiệu quả chưa, và tác động của nó để tạo niềm tin và động lực phụng sự công của  
công chức tại các phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ như thế nào.  
1.2. Bối cảnh nghiên cứu  
1.2.1. Vị trí địa lý  
Huyện Phù Mỹ là một huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía Đông Bắc tỉnh  
Bình Định, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn về hướng Bắc khoảng 60km.  
Huyện sở hữu cùng lúc 2 đầm lớn với hai hệ sinh thái biển đặc thù khác nhau và có  
đường bờ biển dài 34km. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 55.592,01 ha, dân số năm  
2015 khoảng 173.093 người (niên giám thống kê huyện Phù Mỹ, 2015).  
- Về tọa độ địa lý  
+ Kinh độ Đông: 108056’00’’ - 109013’00’’.  
+ Vĩ độ Bắc: 14004’23” - 14023’00’’.  
- Về ranh giới địa lý hành chính  
+ Phía Đông giáp biển Đông.  
+ Phía Tây giáp huyện Hoài Ân và huyện Phù Cát.  
+ Phía Bắc giáp huyện Hoài Nhơn.  
+ Phía Nam giáp huyện Phù Cát.  
Huyện được chia thành 19 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn  
Phù Mỹ, Thị trấn Bình Dương và 17 xã: Mỹ Đức, Mỹ Châu, Mỹ Thắng, Mỹ Lộc,  
Mỹ Lợi, Mỹ An, Mỹ Phong, Mỹ Trinh, Mỹ Thọ, Mỹ Hòa, Mỹ Thành, Mỹ Chánh,  
   
5
Mỹ Chánh Tây, Mỹ Quang, Mỹ Hiệp, Mỹ Tài, Mỹ Cát (Ủy ban nhân dân huyện  
Phù Mỹ, 2015).  
Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, đường tỉnh  
ĐT.631, đường tỉnh ĐT.632, đường tỉnh ĐT.639, ĐT.639B và các tuyến đường liên  
xã, liên huyện, liên thôn tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế, xã  
hội đồng thời góp phần quan trọng trong bảo vệ an ninh, quốc phòng hướng biển  
(Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, 2015).  
Vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi để huyện Phù Mỹ khai thác các thế  
mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên và các sản phẩm đặc thù  
trên địa bàn huyện, phục vụ cho việc mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản  
phẩm, giao lưu thông thương với các huyện trong tỉnh và với cả nước. Trên cơ sở  
đó đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, hòa nhịp với xu thế phát  
triển chung của cả tỉnh để Phù Mỹ trở thành một trong những huyện phát triển ở  
vùng ven biển Bình Định (Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, 2015).  
1.2.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội  
1.2.2.1. Đặc điểm về kinh tế  
Kinh tế của huyện Phù Mỹ chủ yếu là nông nghiệp. Ngoài ra các xã ven biển  
làm nghề diêm nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Công nghiệp chưa phát  
triển, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp chỉ nổi tiếng trong địa phương, ít tạo được  
thương hiệu lớn. Một số di tích lịch sử và tự nhiên tuyệt đẹp nhưng chưa được chú ý  
để phát triển du lịch như: Chùa Hang, Mũi Vi Rồng, Hòn Đụn v.v. Hiện nay công  
nghiệp của huyện đang hình thành và phát triển. Các cụm công nghiệp đã hình  
thành: Cụm công nghiệp Diêm Tiêu (thị trấn Phù Mỹ), Cụm công nghiệp Bình  
Dương (thị trấn Bình Dương), Cụm công nghiệp Đại Thạnh (xã Mỹ Hiệp). Đặc biệt  
là công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản titan (ở các xã: Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ  
Thành) nhưng việc khai thác này chủ yếu là khai thác thô (Ủy ban nhân dân huyện  
Phù Mỹ, 2015).  
   
6
Trong những năm vừa qua kinh tế của huyện đã có sự tăng trưởng khá ổn  
định. Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 13,03%. Trong đó, nông - lâm - thủy  
sản tăng 7,51%, công nghiệp và xây dựng tăng 15,86%, thương mại - dịch vụ tăng  
22,72%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Trong năm 2015, giá trị sản xuất  
nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 41,07%, công nghiệp - xây dựng 35,16%, thương  
mại dịch vụ 23,77%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 16,429 triệu đồng năm  
2010 lên 27,49 triệu đồng năm 2015 (Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, 2015).  
1.2.2.2.Đặc điểm xã hội  
- Dân số: Năm 2015, toàn huyện có 173.093 người. Trong đó nam chiếm  
48,9%, nữ chiếm 51,1%. Mật độ dân số trung bình cả huyện khoảng 311 người/km2.  
Dân cư tập trung ở hai thị trấn và vùng đồng bằng là chính.  
- Lao động: Lao động trong độ tuổi toàn huyện có 124.020 người. Tham gia  
làm việc thường xuyên trong nền kinh tế có 113.974 người. Hàng năm có khoảng  
3.000 đến 4.000 người bước vào độ tuổi lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào  
tạo rất thấp, chỉ đạt là 21%, quỹ thời gian nhàn rỗi ở địa phương còn chiếm tỷ lệ  
lớn, chưa được sử dụng.  
- Về giáo dục đào tạo: Huyện Phù Mỹ có số học sinh trong độ tuổi đi học  
tiểu học 99,8%, trung học cơ sở 97,3%, trung học phổ thông 80%; đã hoàn thành và  
được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục  
không đồng đều, tỷ lệ trẻ em bỏ học tại vùng miền núi, ven biển còn cao.  
- Lĩnh vực Y tế: hiện nay 100% số xã, thị trấn có trạm y tế. Năm 2015 tỷ lệ  
trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 13,31%. Thực hiện có hiệu quả  
Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 – 2020, toàn huyện có 13/19 xã, thị  
trấn đạt; 100% các xã, thị trấn có bác sỹ.  
- Lĩnh vực Văn hoá: Toàn huyện có 93,5% số hộ được công nhận gia đình  
văn hóa; 77,3% số thôn, 27,7% số xã, thị trấn và 76% cơ quan, đơn vị, trường học  
đạt danh hiệu văn hóa.  
 
7
- Các vần đề xã hội khác: Toàn huyện có 10.459 đối tượng chính sách người  
có công, có hơn 5.000 người bị các dạng khuyết tật; Trên 6.000 đối tượng cao tuổi  
đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên, chiếm trên 15% dân số, đặt ra cho chính  
quyền và nhân dân trong huyện nhiều thách thức trong giải quyết chính sách xã hội.  
1.3 Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động:  
- Mối quan hệ giữa hoạt động quản trị nguồn nhân lực và niềm tin vào hệ  
thống.  
- Mối quan hệ giữa hoạt động quản trị nguồn nhân lực và niềm tin giữa con  
người.  
- Mối quan hệ giữa niềm tin vào hệ thống và động lực phụng sự công.  
- Mối quan hệ giữa niềm tin giữa con người và động lực phụng sự công.  
1.4 Câu hỏi nghiên cứu  
Từ những mục tiêu nghiên cứu trên tác giả xây dựng 4 câu hỏi nghiên cứu  
sau:  
- Hoạt động quản trị nguồn nhân lực tác động như thế nào đến niềm tin vào  
hệ thống?  
- Hoạt động quản trị nguồn nhân lực tác động như thế nào đến niềm tin giữa  
con người?  
- Niềm tin vào hệ thống tác động như thế nào đến động lực phụng sự công?  
- Niềm tin giữa con người tác động như thế nào đến động lực phụng sự  
công?  
   
8
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản trị nguồn nhân lực, niềm  
tin và động lực phụng sự công của công chức tại các phòng ban thuộc Ủy ban nhân  
dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.  
Đối tượng khảo sát nhằm thu thập dữ liệu cho đề tài là những công chức  
đang làm việc tại các phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình  
Định.  
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện trong vòng 5 tháng, từ tháng 6/2016 đến tháng  
10/2016 tập trung vào các phòng ban thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh  
Bình Định.  
1.6 Bố cục luận văn  
Luận văn này gồm 5 chương  
Chương 1: Mở đầu  
Trình bày lý do chọn đề tài, bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu  
hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.  
Chương 2: Lược sử đề tài  
Trình bày cơ sở lý thuyết, định nghĩa các khái niệm: Hoạt động quản trị  
nguồn nhân lực, niềm tin, niềm tin vào hệ thống, niềm tin giữa con người, động lực  
phụng sự công; các nghiên cứu trước và đưa ra giả thuyết.  
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu  
Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu và các thước đo để thu thập  
dữ liệu. Ngoài ra chương ba cũng nêu lên cách xử lý dữ liệu đó bao gồm: độ tin cậy  
của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA và cách xử lý hồi quy tuyến tính để  
xác định mối quan hệ giữa các biến.  
Chương 4: Phân tích dữ liệu và bình luận  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 106 trang yennguyen 20940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tác động của hoạt động quản trị nguồn nhân lực đến niềm tin và động lực phụng sự công của công chức tại các phòng ban thuộc UBND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tac_dong_cua_hoat_dong_quan_tri_nguon_nhan_luc_den.pdf