Luận văn Rèn luyện kỹ năng giải phương trình mũ, logarit cho học sinh THPT thông qua việc phát hiện và sửa chữa sai lầm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả  
nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015  
Tác giả luận văn  
Lăng Thị Thành  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
i
 
MỤC LỤC  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
ii  
 
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN  
STT  
Viết tắt  
Viết đầy đủ  
1
2
3
4
5
GV  
Giáo viên  
HS  
Học sinh  
Nxb  
SGK  
THPT  
Nhà xuất bản  
Sách giáo khoa  
Trung học phổ thông  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
iii  
 
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và  
công nghệ đang đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động. Để thực hiện  
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, người  
lao động phải năng động, sáng tạo, có trình độ, có kiến thức chuyên môn và kỹ  
năng thành thạo. Chuẩn mực của người giỏi ngày nay được “đo” bằng năng lực  
chuyên môn, năng lực giải quyết các vấn đề. Đây là những phẩm chất không  
phải có sẵn ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá  
trình giáo dục.  
Học sinh (HS) Trung học phổ thông (THPT) là những người đang trưởng  
thành, chuẩn bị tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất, phát triển xã hội. Việc  
trang bị cho các em những kỹ năng, những phẩm chất của người lao động ngay  
từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là hết sức cần thiết. Luật Giáo dục năm  
2005 [14]: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự  
giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi  
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng  
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,  
hứng thú học tập cho HS”.  
Trong dạy học môn Toán, dạy học giải bài tập được xem là một trong  
những tình huống điển hình. Nội dung kiến thức môn Toán cần trang bị cho HS  
không chỉ bao gồm các khái niệm, định lí mà còn bao gồm các kỹ năng, phương  
pháp, mà giải bài tập toán chính là phương tiện không thể thiếu trong việc giúp  
HS nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Thực tế cho thấy kỹ năng giải  
toán của HS còn nhiều hạn chế. Mà một trong những biểu hiện có thể kể đến đó  
là HS còn mắc phải nhiều sai lầm khi giải. Có những sai lầm do HS chưa nắm  
vững kiến thức cơ bản, xét thiếu trường hợp, hoặc cũng có những sai lầm rất tinh  
vi... Trước những sai lầm đó, GV cần phải kịp thời phát hiện để sửa chữa, uốn  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
1
   
nắn ngay trong giờ học. Mặt khác, GV cũng cần phải xem xét, dự đoán trước  
những sai lầm mà HS có thể mắc phải. HS sẽ học được rất nhiều và nhớ rất lâu  
kiến thức khi học qua các sai lầm, đồng thời cũng rèn luyện cho HS tính cẩn  
thận, kiên trì, nhẫn nại trong cuộc sống. Như vậy, việc khắc phục và sửa chữa sai  
lầm cho HS là cần thiết và có thể thực hiện được.  
Hiện nay, nội dung phương trình mũ và logarit được đưa vào chương  
trình lớp 12 THPT. Từ khi ra đời, hàm số mũ và logarit đóng vai trò là một  
công cụ đơn giản hóa các phép tính nhân, chia và khai căn thành các phép tính  
đơn giản hơn. Theo tiến trình phát triển của lịch sử, lý thuyết về mũ và logarit  
ngày càng hoàn thiện và ứng dụng của nó ngày càng được làm rõ nét. Ví dụ  
logarit được biết đến trong ứng dụng giải phương trình, bất phương trình mũ,  
đếm số các chữ số của một số nguyên dương, đo độ PH của dung dịch, độ lớn  
của âm thanh... hoặc hàm số mũ dùng để mô tả một số hiện tượng trong vật lý  
như biểu diễn định luật phân rã phóng xạ… Nội dung phương trình mũ và  
logarit trong chương trình toán phổ thông hiện hành với hệ thống bài tập khá  
phong phú và mức độ khó dễ khác nhau, đây là một lĩnh vực có thể khai thác để  
phân tích làm rõ những sai lầm mà HS có thể mắc phải nhằm rèn luyện kỹ năng  
giải toán, phát triển tư duy cho HS trong quá trình dạy học. Mặc dù đã có nhiều  
công trình nghiên cứu liên quan, nhưng đây vẫn là vấn đề cần được tiếp tục  
nghiên cứu cả về phương diện lý luận và triển khai trong thực tiễn dạy học.  
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Rèn  
luyện kỹ năng giải phương trình mũ, logarit cho HS THPT thông qua việc  
phát hiện và sửa chữa sai lầm”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu xác định vai trò của việc rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS  
và phân tích một số sai lầm thường mắc phải của HS khi giải phương trình mũ  
và logarit. Từ đó, đề xuất một số biện pháp sư phạm để hạn chế và khắc phục  
những sai lầm này nhằm rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS.  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
2
 
3. Giả thuyết khoa học  
Nếu làm sáng tỏ được những sai lầm và đề xuất được một số biện pháp  
sư phạm thích hợp để hạn chế, khắc phục sai lầm cho HS thì có thể giúp HS  
nâng cao kỹ năng giải toán, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn  
toán ở trường phổ thông.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Nghiên cứu một số sai lầm phổ biến của HS THPT khi giải phương  
trình mũ và logarit.  
- Đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS  
thông qua việc phát hiện và sửa chữa sai lầm khi giải phương trình mũ và logarit.  
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của giả thuyết  
khoa học.  
5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu  
về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn.  
- Phương pháp điều tra, quan sát: Nghiên cứu thực trạng dạy học nội  
dung phương trình mũ và logarit tại một số trường THPT thông qua hình thức  
dự giờ, sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp GV.  
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm tại một số  
trường THPT để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các nội dung nghiên cứu  
đã đề xuất. Xử lý các số liệu thực nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học.  
6. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo”, nội  
dung của luận văn được trình bày trong ba chương:  
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn  
Chương 2: Một số biện pháp sư phạm nhằm góp phần rèn luyện kỹ năng  
giải phương trình mũ và logarit cho HS THPT thông qua việc phát hiện và sửa  
chữa sai lầm  
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
3
       
Chƣơng 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
1.1. Kỹ năng, kỹ năng giải toán  
1.1.1. Kỹ năng  
Theo từ điển Tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến  
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [19].  
Tâm lý học đại cương cho rằng: “Kỹ năng là năng lực sử dụng các dữ  
liệu, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện  
những thuộc tính bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ  
lý luận hay thực hành xác định” [18].  
Theo nhà tâm lí học Liên Xô K.K.Platơnôp: “Cơ sở tâm lí của kỹ năng là  
sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương  
thức hành động”.  
“Kỹ năng là một nghệ thuật, là khả năng vận dụng hiểu biết có được ở  
bạn để đạt được mục đích của mình, kỹ năng còn có thể đặc trưng như toàn bộ  
thói quen nhất định, kỹ năng là khả năng làm việc có phương pháp” [25].  
Bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn khác nhau, có nhiều định nghĩa khác  
nhau về kỹ năng. Dù phát biểu theo góc độ nào, hầu hết chúng ta đều thừa nhận  
rằng kỹ năng được hình thành khi chủ thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Để sở  
hữu kỹ năng, chúng ta phải trải qua quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm  
hành động nhất định nào đó. Nói đến kỹ năng là nói đến năng lực của chủ thể  
thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết để đạt  
được mục đích đã định. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng.  
Để hiểu rõ hơn về kỹ năng, cần phân biệt kỹ năng với một số dấu hiệu  
gần giống kỹ năng:  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
4
     
- Kỹ năng khác phản xạ: Phản xạ là phản ứng của cơ thể với môi trường.  
Phản xạ mang tính thụ động. Ngược lại, kỹ năng là phản ứng có ý thức và  
mang tính chủ động.  
- Kỹ năng khác với thói quen: Hầu hết thói quen được hình thành một  
cách vô thức và khó kiểm soát, trong khi kỹ năng được hình thành một cách có  
ý thức qua quá trình luyện tập.  
- Kỹ năng khác với kiến thức: Kiến thức là sự hiểu biết nhưng chưa từng  
làm. Còn kỹ năng là hành động trên nền tảng kiến thức.  
1.1.2. Kỹ năng giải toán  
a) Khái niệm  
“Trong toán học kỹ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng  
minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được” [24].  
Theo tác giả Hoàng Chúng: “Kỹ năng giải toán là khả năng vận dụng các tri  
thức toán học để giải các bài tập toán học (bằng suy luận, chứng minh…)” [3].  
Như vậy, cơ sở của kỹ năng giải toán là các tri thức toán học, khi giải  
một bài toán tức là thực hiện một hệ thống hành động có mục đích. Do đó, chủ  
thể hành động cần phải nắm vững tri thức về hành động, thực hiện theo các yêu  
cầu cụ thể của tri thức đó. Kỹ năng giải toán của HS có thể hiểu là khả năng  
vận dụng có mục đích những tri thức, kinh nghiệm đã có vào giải những bài  
toán cụ thể, thực hiện một hệ thống hành động để tìm ra lời giải bài toán một  
cách khoa học. Kỹ năng có thể được rút ngắn, bổ sung và thay đổi trong quá  
trình hoạt động.  
b) Một số biểu hiện của kỹ năng giải toán của HS  
Để tìm hiểu về một số biểu hiện của kỹ năng giải toán của HS, cần lưu ý  
một số đặc điểm của kỹ năng như sau:  
- Kỹ năng là mặt kỹ thuật của một hay một nhóm hành động nhất định.  
Khi nói đến kỹ năng là nói đến hành động đúng đắn, thành thạo nhất định,  
không có kỹ năng chung chung, tách rời hành động.  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
5
 
- Thành phần của kỹ năng bao gồm: tri thức, kinh nghiệm, quá trình thực  
hiện hành động, sự kiểm soát và hiệu chỉnh trực tiếp của ý thức, kết quả của  
hành động.  
- Tiêu chuẩn xác định sự hình thành và mức độ phát triển của kỹ năng là  
tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và kết hợp nhịp nhàng, ăn khớp với  
các hành động. Hành động còn vụng về sẽ chưa thể trở thành kỹ năng.  
Kỹ năng giải toán của HS biểu hiện qua hoạt động giải bài tập toán và  
được biểu hiện:  
- Có tri thức về hành động đó.  
- Kỹ năng phân tích, tổng hợp: HS cần có kỹ năng phân tích bài toán,  
thiết lập mối liên hệ và phụ thuộc giữa các yếu tố đã cho và yếu tố cần tìm, liên  
hệ với những tri thức đã có để tìm ra phương pháp giải đúng đắn, hiệu quả và  
nhanh nhất.  
- Kỹ năng thực hành: Sau khi đã phát hiện cách giải, HS cần phải tính  
toán cẩn thận, chính xác. Sau đó sắp xếp các bước giải và trình bày một cách  
khoa học, phải thể hiện từng bước rõ ràng, mạch lạc.  
- Kỹ năng vận dụng các quy tắc suy luận logic, các định lý, tính chất, hệ  
quả, mệnh đề… Yêu cầu HS vận dụng linh hoạt, chính xác, tránh máy móc.  
- Kỹ năng vẽ hình, vẽ đồ thị hàm số.  
- Nhóm kỹ năng tư duy: tư duy logic, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo.  
- Kỹ năng toán học hóa các tình huống thực tiễn: Kỹ năng này giúp HS  
nắm được bản chất kiến thức đã học, biết vận dụng kiến thức Toán vào giải  
quyết các vấn đề trong cuộc sống, gây hứng thú học tập cho HS. Tránh tình  
trạng hiểu vấn đề một cách hình thức, xa rời với thực tiễn.  
- Kỹ năng tìm ra vấn đề và giải quyết vấn đề: Trong cuộc trò chuyện với  
GS Ngô Bảo Châu, GS Đàm Thanh Sơn chia sẻ: “Có lẽ trong ngành khoa học  
nào cũng vậy, muốn thành công ít nhất phải có hai kỹ năng: tìm ra vấn đề hay  
và giải quyết được vấn đề.”  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
6
- Kỹ năng tự học, tự kiểm tra, tự đánh giá lời giải và tránh sai lầm khi  
giải toán. Theo Polya “Con người phải biết học ở những sai lầm và những  
thiếu sót của mình”. Trong giải bài tập toán, việc phát hiện sai lầm và sửa chữa  
sai lầm đó là một thành công của người học toán. Do vậy, GV cần giúp HS có  
khả năng và thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá lời giải sau mỗi bài tập. Việc  
hình thành kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh cho HS sẽ góp phần  
nâng cao chất lượng dạy và học.  
c) Nhu cầu phát triển kỹ năng giải toán cho HS ở trƣờng THPT  
Trong dạy học môn Toán, dạy học giải bài tập được xem là một trong  
những tình huống điển hình. Chất lượng giải toán sẽ phản ánh rõ nhất trình độ  
học toán của HS. Vì vậy, hoạt động rèn luyện kỹ năng giải toán là hoạt động  
không thể thiếu của HS.  
Thực tế có không ít HS gặp khó khăn khi lĩnh hội một số khái niệm, định  
lí. HS có thể học thuộc nhưng không giải thích được đầy đủ, chính xác ý nghĩa  
và bản chất của nó. Việc nắm kiến thức và kỹ năng thiếu vững chắc là nguyên  
nhân dẫn đến vận dụng một cách máy móc, không biết hướng vận dụng hoặc  
mắc phải sai lầm trong quá trình vận dụng. Hơn nữa, các bài toán đưa ra  
thường được trừu tượng hóa hoặc bị che lấp bởi một số yếu tố nhằm đánh lạc  
hướng tư duy của HS. Do vậy, HS cần có cách nhìn linh hoạt, sáng tạo trước  
một bài toán cụ thể.  
Sở hữu kỹ năng thành thạo sẽ giúp HS làm việc độc lập, sáng tạo không  
chỉ trong nội bộ môn toán, mà còn có ứng dụng trong các ngành khoa học khác  
và trong thực tiễn đời sống.  
1.2. Thực trạng của việc dạy và học phƣơng trình mũ, logarit ở trƣờng THPT  
1.2.1. Nội dung phương trình mũ, logarit trong chương trình THPT  
Trong chương trình THPT, theo phân phối chương trình chuẩn lớp 12,  
nội dung phương trình mũ và logarit được thực hiện cụ thể như sau:  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
7
   
Phân phối  
chương trình  
Tiết 31, 32  
Tên bài dạy  
Nội dung  
I. Phương trình mũ, - Nêu dạng phương trình cơ bản.  
phương trình logarit - Giúp HS nhận dạng và giải được  
Bài tập  
phương trình mũ và logarit cơ bản.  
Tiết 33, 34  
II. Phương trình mũ, - Hướng dẫn HS giải phương trình mũ  
phương trình logarit và logarit bằng một số phương pháp  
Bài tập  
được đề cập. Bước đầu giúp HS nhận  
dạng, giải thành thạo những phương  
trình mẫu mực.  
- Tạo cơ hội cho HS vận dụng các tính  
chất của hàm số mũ và logarit để giải  
những bài toán không mẫu mực.  
Tiết 11, 12 Bài tập phương trình - Hệ thống lý thuyết, phân dạng bài tập.  
(tự chọn)  
mũ, logarit  
- Luyện tập giải các phương trình mẫu  
mực lẫn phương trình không mẫu mực.  
- Có thể mở rộng, đưa vào thêm một số  
phương pháp giải mà trong sách chưa đề  
cập tới, chẳng hạn dùng bất đẳng thức.  
1.2.2. Mục đích, yêu cầu khi dạy học chủ đề phương trình mũ, logarit ở  
trường THPT  
a) Về kiến thức  
- HS nắm vững khái niệm phương trình mũ và logarit cơ bản, nắm vững  
những đặc điểm đặc trưng cho một khái niệm. Chẳng hạn phương trình mũ cơ  
ax  
bản  
nếu có nghiệm thì nghiệm đó là duy nhất.  
- Nắm được những khái niệm có liên quan: nghiệm phương trình, tập  
nghiệm, phép biến đổi tương đương, hệ quả… Thông qua đó, củng cố và đào  
sâu một số kiến thức về tập hợp và logic toán, cụ thể: khái niệm tập hợp, phần  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
8
 
tử, quan hệ bao hàm, các phép toán tập hợp, các phép toán logic “kéo theo” và  
“tương đương”.  
Ví dụ 1.1: Phép chuyển đổi từ phương trình  
logh(x) f(x) (x) (1)  
sang phương trình f (x) ) gọi là phép mũ hóa và phép chuyển từ (2)  
sang (1) gọi là phép logarit hóa. Căn cứ vào định nghĩa và tính chất của hàm số  
mũ và hàm số logarit, qua những ví dụ cụ thể cần cho HS thấy rõ: phép mũ hóa  
làm mở rộng tập nghiệm và phép logarit hóa làm thu hẹp tập nghiệm, hay nói  
cách khác (2) là hệ quả của (1).  
b) Về kỹ năng  
Tùy thuộc vào từng “mảng” kiến thức, từng nội dung môn học, có nhiều  
kiểu phân chia kỹ năng phù hợp. Đối với chủ đề phương trình, ta cần rèn luyện  
cho HS những kỹ năng thuộc về nhóm kỹ năng nhận thức và vận dụng. Có thể  
kể ra một số kỹ năng sau:  
- Kỹ năng tính toán: Trước hết, cần phải khẳng định học toán gắn liền  
với tính toán. Yêu cầu tính chính xác, nhanh, ngắn gọn là những yêu cầu cơ  
bản, đầu tiên để học tốt môn Toán. Đồng thời, kỹ năng này có ý nghĩa vô cùng  
quan trọng trong thực tế của đời sống, sản xuất kinh doanh, trong kỹ thuật. Khi  
giải toán phương trình tính toán có tính số và tính biểu thức, đặc biệt với các  
bài toán chứa tham số với mức độ yêu cầu cao, khó và trừu tượng thì chỉ cần  
tính toán sai một bước sẽ dẫn đến tất cả đều sai. Do đó cần rèn luyện cho HS  
khả năng tính toán ở nhiều mức độ khác nhau.  
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, cần rèn luyện khả năng tính toán theo  
những hướng sau:  
+ Đặc biệt chú ý những kỹ năng nào của kỹ năng tính toán cần thiết cả trong  
trường hợp không dùng máy tính lẫn bằng máy tính: tính nhẩm, tính ước chừng…  
+ Về mặt tính viết: Không cần thiết phải bỏ công sức cho HS tập luyện  
tính toán trên những số liệu quá cồng kềnh, phức tạp.  
+ Từ bỏ việc tính toán với những phương tiện đã lỗi thời.  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
9
Chúng tôi cho rằng rèn luyện khả năng tính toán khi giải phương trình  
thể hiện ở các mặt sau:  
+ Rèn kỹ năng tính nhẩm và tính nhanh: Việc tính nhẩm và tính nhanh  
rất phù hợp với những bài có số liệu đơn giản (có thể trực tiếp nhẩm ra đáp số  
mà không cần viết ra giấy) hoặc những bài toán chứa căn thức biến đổi đưa về  
hằng đẳng thức (tính nhanh)…  
+ Nhớ những số hay dùng, có thể nhớ máy móc hay nhớ theo quy luật  
chẳng hạn: Bình phương các số từ 1 đến 20; các số lập phương từ 1 đến 10; các  
giá trị log2, log3, log5, log2 4, log2 8… để thuận lợi khi giải phương trình mũ  
và logarit.  
Bên cạnh việc rèn luyện kỹ năng tính toán cho HS, cần chú ý rèn luyện  
cho HS các đức tính như cẩn thận, kiên trì, nhanh trí, tiến tới thói quen tính  
toán chính xác. Đồng thời có thể đề ra nhiều cách giải khác nhau để HS có cơ  
hội tính toán linh hoạt đa dạng, tìm ra những cách giải ngắn và độc đáo.  
- Kỹ năng vận dụng các phương trình mẫu mực, nhận dạng và giải thành  
thạo các phương trình cơ bản hoặc quy về dạng cơ bản, giải phương trình theo  
thuật giải hoặc theo một hệ thống quy tắc biến đổi xác định. Kỹ năng phân tích,  
tổng hợp để tìm ra mối liên hệ giữa yếu tố đã biết và yếu tố cần tìm, linh hoạt  
vận dụng tri thức đã có để tìm ra phương pháp giải đúng và nhanh nhất.  
3x
Ví dụ 1.2: Để chứng minh phương trình  
ta làm như sau:  
Đặt  
có nghiệm duy nhất,  
g(x)
và  
. Ta thấy f(x) là hàm số luôn đồng biến trên  
f(x)
f (x) 
và g(x) là hàm số luôn nghịch biến trên  
nên phương trình  
có  
nhiều nhất một nghiệm trên . Nhận thấy  
là một nghiệm của phương  
x
trình đã cho nên phương trình có nghiệm duy nhất là  
.
x
- Kỹ năng biến đổi các biểu thức mũ và logarit, kết hợp rèn luyện và nắm  
vững một số phương pháp giải phương trình mũ, logarit thường gặp. Kỹ năng  
giải phương trình nói chung.  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
10  
- Kỹ năng sử dụng đồ thị: Nhiều HS thắc mắc giải toán phương trình tại  
sao cần dùng đến đồ thị, họ cho rằng kỹ năng này chỉ cần khi học nội dung  
“hàm số”. Thực ra, nhiều bài toán giải phương trình, nhất là những bài toán  
biện luận số nghiệm khi giải bằng phương pháp này thì sẽ nhận được kết quả  
nhanh chóng và trực quan. HS cần biết cách giải phương trình bằng phương  
pháp đồ thị để thấy mối liên hệ giữa phương trình và hàm số.  
1
3x  
Ví dụ 1.3: Giải phương trình:  
2x
Điều kiện: 
x
log x
Phương trình đã cho tương đương với:  
2
2x
Ta có nhận xét: Số nghiệm của phương trình chính là số giao điểm của 2  
x
y
đồ thị hàm số: y và  
2x
Vẽ đồ thị 2 hàm số này trên cùng mặt phẳng tọa độ (Hình 1.1).  
Hình 1.1  
Dựa vào hình vẽ, ta thấy phương trình đã cho vô nghiệm.  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
11  
- Kỹ năng suy luận, chứng minh: Kỹ năng này không chỉ cần khi giải toán  
phương trình mà có thể nói đây là kỹ năng chung cần để giải bài tập toán. Để đưa  
ra những suy luận, HS phải dựa vào những đặc điểm, nhận thức, dự đoán, phân  
tích riêng của bản thân khi gặp những dạng toán chưa có sẵn cách giải.  
c) Về tƣ duy  
- HS được phát triển về tư duy thuật giải trong việc giải phương trình  
theo thuật giải hoặc theo một hệ thống quy tắc biến đổi xác định.  
- HS được rèn luyện về tính linh hoạt, khả năng sáng tạo, đặc biệt là khi  
giải những phương trình không mẫu mực.  
- HS được rèn luyện tính quy củ, tính kế hoạch, tính kỉ luật trong khi giải những  
phương trình theo thuật giải, công thức hoặc theo hệ thống quy tắc biến đổi xác định;  
được giáo dục về tính cẩn thận, chính xác và thói quen tự kiểm tra lời giải.  
1.2.3. Thực trạng của việc dạy và học chủ đề phương trình mũ, logarit ở một  
số trường THPT  
a) Đối với GV  
Việc tìm hiểu, phân tích thực tế dạy và học nội dung phương trình mũ và  
logarit là việc làm rất cần thiết. Điều đó giúp chúng tôi có thêm cơ sở để xác  
định đúng đắn các yêu cầu cũng như biện pháp sư phạm đặt ra trong luận văn. Để  
tìm hiểu về thực trạng dạy học chủ đề phương trình mũ và logarit ở trường THPT,  
chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn, phát phiếu thăm dò ý kiến của GV dạy toán (30  
GV) thuộc các trường: THPT Cao Lộc (Huyện Cao lộc, tỉnh Lạng Sơn), THPT  
Việt Bắc (thành phố Lạng Sơn), THPT Mê Linh (Đông Hưng, Thái Bình).  
Nội dung tổng hợp từ phiếu điều tra được thể hiện trong biểu đồ sau:  
Biểu đồ 1.1. Mức độ sử dụng các tình huống chứa sai lầm trong dạy học  
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN  
12  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 86 trang yennguyen 16940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Rèn luyện kỹ năng giải phương trình mũ, logarit cho học sinh THPT thông qua việc phát hiện và sửa chữa sai lầm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ren_luyen_ky_nang_giai_phuong_trinh_mu_logarit_cho.pdf