Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
TRẦN THỊ THU HIỀN  
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH  
CỤM NGÀNH DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
BÀ RỊA – VŨNG TÀU, NĂM 2018  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
TRẦN THỊ THU HIỀN  
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH  
CỤM NGÀNH DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :  
TS. ĐINH CÔNG KHẢI  
BÀ RỊA – VŨNG TÀU, NĂM 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan bài luận văn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm  
ngành du lịch tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu” hoàn toàn là công trình nghiên cứu của tác  
giả. Các phần trích dẫn, số liệu sử dụng đều được tác giả trích dẫn nguồn và mang  
tính chính xác cao nhất trong phạm vi nghiên cứu luận văn của tác giả. Luận văn này  
không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
Bà Rịa-Vũng Tàu, ngày tháng năm 2018  
Tác giả luận văn  
Trần Thị Thu Hiền  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ  
TÓM TẮT  
3.2.1.1. Về số lượt khách du lịch7......................................................................30  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
Ký hiệu  
Bà Rịa- Vũng tàu  
BR-VT  
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch  
Năng lực cạnh tranh  
Hướng dẫn viên  
Bộ VHTT&DL  
NLCT  
HDV  
Cục Thống kê Bà Rịa- Vũng Tàu  
Cục TK BR-VT  
Du lịch hội nghị, phần thưởng, hội thảo và triển MICE  
lãm  
(Meeting Incentive Conference Event)  
Thành phố  
TP  
Uỷ ban nhân dân  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Quy hoạch  
UBND  
TP.HCM  
QH  
Doanh nghiệp  
Cơ sở lưu trú  
DN  
CSLT  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
TÓM TẮT  
Trước khi có Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng  
Chính phủ về việc ban hành “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,  
tầm nhìn đến năm 2030”, Tỉnh ủy BR-VT đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày  
27/5/2008 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về phát triển kinh tế du lịch đến năm 2010 và  
tầm nhìn đến 2015, trong đó xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và cần phải  
có sự quan tâm, đồng thuận của cả hệ thống chính trị trong quá trình triển khai thực  
hiện các nhiệm vụ liên quan đến phát triển kinh tế du lịch. Với sự nhìn nhận tầm quan  
trọng và quan tâm chỉ đạo từ rất sớm của các cấp lãnh đạo, thời gian qua ngành du  
lịch tỉnh đã có những bước tiến nhất định, góp phần quan trọng trong tăng trưởng  
kinh tế của tỉnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người dân. Tuy nhiên, theo  
đánh giá khách quan thì ngành du lịch tỉnh BR-VT vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn  
chế, năng lực cạnh tranh thấp dẫn đến việc chưa phát triển tương xứng với tiềm năng,  
thế mạnh hiện có.  
Qua phân tích, nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại chính yếu làm ảnh hưởng  
đến đà phát triển và năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh BR-VT đó là:  
Nguồn kinh phí đầu tư cho các hoạt động phát triển du lịch còn hạn chế; Việc triển  
khai hiện thực hóa các chủ trương, chính sách về thúc đẩy du lịch, cũng như công tác  
quy hoạch du lịch còn chậm và mang tính hình thức, chưa cập nhật và sâu sát với đòi  
hỏi thực tế. Điều này đã dẫn đến những khó khăn, hạn chế trong việc tạo ra một không  
gian sản phẩm du lịch có tính cạnh tranh cao cũng như các hoạt động tuyên truyền,  
quảng bá, xúc tiến du lịch.  
Từ những nhận định trên, nghiên cứu đã đưa ra 04 nhóm giải pháp cơ bản để  
khắc phục những tồn tại, hạn chế, nhằm tăng năng lực cạnh trạnh cụm ngành du lịch  
tỉnh, gồm: (i) tăng cường hiệu quả công tác quản lí, xây dựng chiến lược và quy hoạch  
tổng thể phát triển du lịch; (ii) tăng cường thể chế hỗ trợ phát triển du lịch, thu hút  
đầu tư; (iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (iv) Tăng cường bảo đảm vệ sinh  
an toàn thực phẩm và môi trường nhằm phát triển du lịch bền vững.  
1
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ  
1.1 Bối cảnh nghiên cứu  
Bà Rịa - Vũng Tàu (BR – VT) nằm ở miền Đông Nam bộ, giáp với tỉnh Đồng  
Nai ở phía Bắc, với TP. HCM ở phía Tây, với tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn  
phía Nam giáp với Biển Đông. Đây chính là cửa ngõ hướng ra Biển Đông của các  
tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ. Với ba mặt giáp biển, khí hậu điều hòa ấm  
áp quanh năm, vị trí này cho phép BR-VT hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển các  
ngành kinh tế biển như: khai thác dầu khí trên biển, khai thác cảng biển và vận tải  
biển, khai thác và chế biến hải sản và đặc biệt là phát triển “thiên đường du lịch”  
nghỉ dưỡng và tắm biển. Ở vị trí này, tỉnh còn có điều kiện phát triển tất cả các tuyến  
giao thông đường bộ, đường không, đường thủy, đường sắt và là một địa điểm trung  
chuyển trong nước và trên thế giới.  
Là vùng đất có những cửa biển kín gió rất thuận lợi về giao thông đường thủy,  
BR-VT là nơi lưu dân người Việt từ miền Trung vào khai phá sớm nhất vùng Nam  
Bộ, khoảng thế kỷ XVII. Từ đó cho đến giữa thế kỷ XIX, bộ mặt của vùng đất BR-  
VT đã có những thay đổi sâu sắc. Từ một nơi hoang vu, biển cả mênh mông, đồi núi,  
rừng rậm đã trở thành ruộng đồng, làng mạc trù phú. Tài nguyên đất, rừng, biển đã  
được khai thác để phục vụ cuộc sống ngày càng sung túc hơn của con người. Quá  
trình khẩn hoang lập ấp cũng là thời gian hình thành các tín ngưỡng vừa là chỗ dựa  
tinh thần, vừa đem đến cho các cư dân miền biển BR-VT một không gian hội hè sau  
những ngày lao động mưu sinh. BR-VT thể hiện sự pha trộn tín ngưỡng hết sức rõ rệt  
và trở thành một đặc điểm nổi bật rất đáng lưu ý. Đối tượng thờ cúng của ngư dân  
BR-VT khá đa dạng. Họ có phong tục thờ thần Thành Hoàng và các vị thần dân gian;  
thờ cá Ông (cá voi); thờ cúng ông bà tổ tiên; thờ Bà Ngũ Hành và Thần Bà Thiên  
Yana; thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu và tín ngưỡng Ông Trần…Chính cộng đồng đa  
nguồn gốc đã góp phần làm phong phú và tạo diện mạo đặc trưng của các yếu tố văn  
hóa biển của BR-VT… Sự hội tụ đó đã hóa giải mọi sự độc tôn, tạo nên sự thăng  
bằng, phong phú trong đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của cư dân BR-VT xưa  
và nay, góp phần phát triển du lịch tại địa phương.  
   
2
Với lợi thế bờ biển dài 305,4 km với khoảng 156 km là bờ thoai thoải, nước  
xanh, có thể sử dụng làm bãi tắm và phát triển các loại hình du lịch thể thao biển như:  
Bãi Trước, Bãi Thùy Vân, Long Hải, Hồ Tràm, Hồ Cốc, đảo Gò găng, đảo Long sơn.  
Hệ sinh thái biển và ven biển khá độc đáo, tiềm năng đa dạng sinh học cao thúc đẩy  
phát triển loại hình du lịch sinh thái rừng, biển, đảo. Đặc trưng nhất là ở Khu bảo tồn  
thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, suối nước nóng Bình Châu trên địa bàn huyện  
Xuyên Mộc với nhiệt độ cao nhất lên đến 800C thích hợp với nhu cầu du lịch nghỉ  
dưỡng, chữa bệnh của du khách; Vườn Quốc gia Côn Đảo cùng với hệ thống 16 hòn  
đảo lớn nhỏ của huyện Côn Đảo (nằm sát đường hàng hải quốc tế từ châu Âu sang  
châu Á) phát triển loại hình du lịch: khám phá đại dương, lặn biển ngắm san hô, câu  
cá, nghiên cứu khoa học.  
Ngoài ra, BR-VT còn có hệ thống 44 di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc được  
xếp hạng cấp quốc gia, quốc gia đặc biệt (hệ thống di tích Nhà tù Côn Đảo) và cấp  
tỉnh có khả năng khai thác phục vụ du lịch. Các lễ hội dân gian mang đậm dấu ấn văn  
hóa truyền thống của ngư dân vùng biển đã và đang được duy trì, phát triển thành các  
lễ hội văn hóa, du lịch, hàng năm thu hút rất đông du khách: Lễ hội Nghinh Ông, Lệ  
Cô, Trùng Cửu; Văn hóa ẩm thực của BR-VT cũng khá phong phú, đặc sắc, mang  
đậm nét văn hóa miền biển, được chế biến tinh tế tạo hương vị rất riêng và góp phần  
tạo nên thế mạnh cho việc phát triển sản phẩm du lịch.  
Hệ thống giao thông đường bộ, các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện, giao  
thông đường thủy ngày càng được đầu tư nâng cấp, cải thiện đáng kể, đáp ứng nhu  
cầu vận chuyển khách du lịch; hệ thống 24 cảng biển nước sâu đang hoạt động cũng  
thu hút nhiều hãng tàu có trọng tải lớn và tàu du lịch cập cảng. Hàng năm trung bình  
có khoảng 100 tàu chở khách du lịch cập cảng tại BR-VT. Mặt khác, với vị trí địa lý  
giao thông nằm sát ngay TP. HCM là cửa ngõ giao thông thuận lợi để thu hút khách  
du lịch quốc tế và nội địa từ TP.HCM mang về. Đây là một lợi thế lớn của BR-VT so  
với các tỉnh lân cận như Bình Thuận, Khánh Hòa,....  
Thế nhưng trên thực tế du lịch BR-VT chưa bao giờ đạt được sự kỳ vọng phát  
triển tương xứng với tiềm năng đang có. Theo báo cáo của UBND tỉnh BR-VT năm  
3
2017 tỉnh BR-VT đón tiếp và phục vụ số lượng khách du lịch đạt con số khoảng 18,8  
triệu lượt khách. Tuy nhiên tổng doanh thu từ hoạt động du lịch chỉ đạt khoảng 4.868  
tỷ đồng. Trong khi đó tại Quảng Ninh - một tỉnh ven biển phía Bắc có số lượng khách  
đến kém xa so với BR-VT chỉ với 9,8 triệu lượt khách (bằng 50% so với BR-VT),  
nhưng doanh thu du lịch đạt 17.885 tỷ đồng (cao gấp hơn 3,6 lần so với BR-VT).  
Năm 2017, BR-VT chỉ đón được hơn 662 ngàn lượt khách quốc tế và khoảng  
18,154 triệu lượt khách du lịch nội địa, đa phần trong số đó là khách đến từ các địa  
phương lân cận và đi về trong ngày, mức chi tiêu rất thấp. Thậm chí còn một số lượng  
không nhỏ khách mang theo đồ ăn thức uống, thuê ghế bố hoặc ngủ qua đêm tại các  
công viên và khu vực bãi tắm khiến các cơ sở lưu trú không những không thu được  
bất cứ nguồn thu nào mà phải tốn thêm tiền thuê nhân công dọn rác trên các khu vực  
bãi tắm do đơn vị quản lý.  
Như vậy những yếu tố cơ bản nào là nguyên nhân làm cho ngành du lịch của  
tỉnh BR-VT chưa thu hút được khách du lịch tạo nguồn thu cho địa phương, phát triển  
chưa tương xứng với kỳ vọng và tiềm năng, lợi thế sẵn có. Luận văn này sẽ đi vào  
nghiên cứu các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến NLCT của cụm ngành du lịch tỉnh BR-  
VT từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của cụm  
ngành du lịch tỉnh BR-VT hướng đến phát triển bền vững trong tương lai.  
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:  
- Phân tích, đánh giá các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh  
cụm ngành du lịch tỉnh BRVT.  
- Khuyến nghị các phương hướng, giải pháp và chính sách nhằm nâng cao  
năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh BR-VT.  
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:  
Câu hỏi 1: Thực trạng các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh  
ngành du lịch của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong thời gian vừa qua?  
Câu hỏi 2: Giải pháp nào cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành  
du lịch của tỉnh BR-VT?  
   
4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:  
- Đối tượng nghiên cứu: Yếu tố năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh  
Bà Rịa – Vũng Tàu.  
- Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong năm 2017 - 2018  
1.5 Phương pháp nghiên cứu:  
Đề tài được thực hiện bằng phương pháp định tính, trên cơ sở các yếu tố ảnh  
hưởng đến NLCT trong mô hình Kim cương của Michael E. Porter, tác giả tiến hành  
thu thập các thông tin, dữ liệu thông qua các hình thức: bàn giấy, phỏng vấn với đối  
tượng là lãnh đạo các sở, ngành chức năng liên quan đến hoạt động du lịch, các doanh  
nghiệp kinh doanh du lịch. Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tiến hành phân tích,  
so sánh để đánh giá thực trạng và tìm ra các nguyên nhân làm cho ngành du lịch của  
tỉnh BR-VT phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế vốn có của địa  
phương. Song song đó, tìm hiểu các chính sách của tỉnh cũng như sự phối kết hợp  
trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch với các doanh nghiệp du lịch  
trên địa bàn tỉnh, từ đó định hướng những giải pháp, cơ chế phù hợp cho sự phát triển  
của cụm ngành du lịch tỉnh BR-VT trong thời gian tới.  
1.6 Nguồn thông tin:  
- Nguồn thông tin thứ cấp được lấy từ Cục Thống kê tỉnh BR-VT, Sở Du lịch  
tỉnh BR-VT, Trung tâm thông tin và Xúc tiến du lịch tỉnh BR-VT, Tỉnh ủy và UBND  
tỉnh BR-VT, các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú.  
- Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập từ các cuộc phỏng vấn.  
1.7. Cấu trúc của luận văn:  
Chương 1: Đặt vấn đề  
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực nghiệm  
Chương 3: Phân tích năng lực cạnh tranh và kết quả nghiên cứu cụm ngành du  
lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu  
Chương 4: Kết luận và phương hướng giải quyết chính sách  
       
5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM  
2.1. Các khái niệm liên quan  
2.1.1. Khái niệm về du lịch  
+ Theo WTO: Du lịch là tất cả những hoạt động của con người ngoài nơi cư  
trú thường xuyên của họ không quá 12 tháng với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công  
vụ và nhiều mục đích khác.  
+ Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới:  
Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động  
kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên  
ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải  
là nơi làm việc của họ.  
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm  
xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau.  
+ Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên hai khía  
cạnh:  
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con  
người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di  
tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở  
góc độ cầu, góc độ người đi du lịch.  
Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều  
mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó  
góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị  
với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất  
lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này,  
du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế.  
+ Theo Luật Du lịch 2017 (được Quốc hội ban hành ngày 19/6/2017, có hiệu  
lực từ ngày 01/01/2018) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:  
     
6
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi  
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,  
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.  
2.1.2. Bản chất của du lịch:  
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách: Bản chất của du lịch là tham quan,  
du ngoạn, tận hưởng một tinh thần thoải mái, thụ hưởng những tinh hoa mang giá trị  
tinh thần, vật chất và mang đậm nét văn hóa, bản sắc dân tộc mỗi vùng miền.  
Nhìn từ góc độ quốc sách phát triển du lịch: Dựa trên nền tảng thiên nhiên  
ban tặng, các tài nguyên du lịch, để đưa ra lộ trình, hoạch định chiến lược phát triển  
du lịch, hướng đến du lịch là mũi nhọn để phát triển kinh tế của địa phương, chọn  
lọc những tinh hoa, các vẻ đẹp sản phẩm độc đáo, đặc trưng và lạ mắt, hoạch định  
phương hướng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng giao thông và hơn hết là  
nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.  
Nhìn từ góc độ sản phẩm du lịch: Sản phẩm của du lịch nó bao gồm: các  
chương trình du lịch; các di tích lịch sử; văn hóa; cảnh quan thiên nhiên có nội dung  
chủ yếu là sự liên kết những di tích lịch sử, văn hóa và cảnh quan, các sản phẩm lưu  
niệm kết hợp hài hòa với cơ sở vật chất kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận  
chuyển.  
Nhìn từ góc độ thị trường du lịch: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du  
lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu của du khách để “mua chương  
trình du lịch” và tạo doanh thu phát triển kinh tế- xã hội.  
2.1.3. Môi trường du lịch:  
“Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn  
nơi diễn ra các hoạt động du lịch”. Trong đó, môi trường tự nhiên gồm: các yếu tố  
địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên. Môi trường  
xã hội nhân văn gồm: các thể chế chính sách; tình trạng, mức độ bảo tồn phát triển  
các giá trị truyền thống; mức độ thân thiện và chất lượng cuộc sống của cộng đồng;  
cuối cùng là môi trường kinh doanh và tình trạng của đội ngũ nhân lực du lịch.  
   
7
2.1.4. Khái niệm về năng lực cạnh tranh.  
- Theo Porter (2008), năng lực cạnh tranh là khái niệm có ý nghĩa duy nhất về  
năng lực cạnh tranh đó chính là năng suất – nhân tố quyết định quan trọng nhất của  
mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người. Và để  
tăng trưởng năng suất bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải liên tục tự nâng cấp mình.  
- Cũng theo Porter (2008) có 3 yếu tố quan trọng tác động đến năng suất và  
khả năng cạnh tranh của một quốc gia, bao gồm các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc  
gia, NLCT vĩ mô, NLCT vi mô.  
- NLCT địa phương, theo Porter và Ketels (2010) đã được điều chỉnh bởi TS.  
Vũ Thành Tự Anh (2011) được xác định bởi các yếu tố cơ bản như năng suất. Năng  
suất là tập hợp yếu tố được tạo thành bởi sự tác động của các tác nhân tham gia trong  
nền kinh tế. Các nhân tố này tạo ra một môi trường tổng thể, và vị thế tương đối của  
một nền kinh tế được xác định so với các nền kinh tế khác:  
- Các lợi thế tự nhiên là nhân tố tạo nên sự khác biệt thịnh vượng của địa  
phương  
- NLCT cấp độ địa phương gồm các yếu tố được xác định của môi trường hay  
bối cảnh chung, chính sách kinh tế địa phương, hạ tầng xã hội và thể chế chính trị tạo  
điều kiện thúc đẩy với mục đích tăng năng suất.  
- Nhóm nhân tố khác được nhóm vào NLCT cấp độ DN, bao gồm những yếu  
tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp và làm thay đổi cách thức hoạt động của DN cũng  
như tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của DN.  
Tuy vậy NLCT ở cấp độ địa phương mà năng suất cuối cùng sẽ phụ thuộc vào  
độ nhạy bén trong cạnh tranh trong nước cũng như năng lực vi mô của nền kinh tế,  
còn năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương sẽ góp phần tạo ra tiềm năng để đạt  
được mức năng suất cao.  
Dưới đây là mô hình về Năng lực cạnh tranh địa phương theo Porter và Ketels  
(2010), đã được điều chỉnh bởi TS. Vũ Thành Tự Anh (2011).  
 
8
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp  
Môi trường kinh  
doanh  
Trình độ  
phát triển  
cụm ngành  
Hoạt động và  
chiến lược của  
doanh nghiệp  
Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phƣơng  
Hạ tầng Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chính sách tài  
văn hóa, xã  
khóa, tín dụng,  
và cơ cấu  
hội y tế,  
giáo dục  
kinh tế  
Các yếu tố lợi thế có sẵn của địa phƣơng  
Vị trí địa lý Quy mô địa  
phương  
Tài nguyên  
thiên nhiên  
Hình 2.1 Các nhân tố nền tảng quyết định NLCT địa phương  
Nguồn: Porter và Ketels (2010), đã được điều chỉnh bởi TS. Vũ Thành Tự Anh  
(2011)  
2.1.5. Khái niệm về cụm ngành:  
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm cụm ngành, tuy nhiên Michael  
Porter là học giả đã phát triển và đưa ra khung phân tích phù hợp liên quan đến năng  
lực cạnh tranh bao gồm các góc độ phân tích: công ty, ngành công nghiệp, địa phương,  
vùng và quốc gia. Theo Porter (1990, 1998, 2008) thì khái niệm cụm ngành được hiểu  
là “sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh  
nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các  
thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại...)  
trong một số lĩnh vực đặc thù vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”. Khái niệm này  
được xây dựng dựa vào hai trụ cột. Một là vai trò của sự tập trung về mặt địa lý của  
hoạt động kinh tế, việc nhấn mạnh về vai trò của sự tập trung này trong lý thuyết cụm  
ngành đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc mới về vai trò của vị trí đối với lợi thế so sánh.  
   
9
Hai là tính liên kết và liên quan, cụm ngành không phải một tập hợp rời rạc của một  
nhóm công ty bất kỳ mà nó được gắn kết bởi sự tương hỗ và được cộng hưởng bởi  
tác động lan tỏa tích cực.  
Porter đưa ra mô hình kim cương về cụm ngành như sau:  
Môi trường chính  
sách giúp phát huy  
chiến lược kinh  
doanh và cạnh tranh  
Các chủ trương của tỉnh  
Môi trường nội địa khuyến  
Những điều kiện  
cầu  
Những điều kiện  
nhân tố  
khích các dạng đầu tư và nâng  
cấp bền vững  
(Đầu vào)  
Cạnh tranh quyết liệt giữa các  
đối thủ tại địa phương  
Những khách hàng nội địa  
sành sỏi và đòi hỏi khắt  
khe  
Nhu cầu của khách hàng (nội  
địa) dự báo nhu cầu ở những  
nơi khác  
Nhu cầu nội địa bất thường ở  
những phân khúc chuyên  
biệt hóa có thể được đáp  
ứng trên toàn cầu.  
Các ngành công  
nghiệp hỗ trợ  
và có liên quan  
Số lượng và chi phí của nhân  
tố (đầu vào)  
Tài nguyên thiên nhiên  
Tài nguyên con người  
Tài nguyên vốn  
Cơ sở hạ tầng vật chất  
Cơ sở hạ tầng quản lý  
Cơ sở hạ tầng thông tin  
Cơ sở hạ tầng khoa học  
Nhân tố số lượng  
- Sự hiện hữu của các nhà  
cung cấp nội địa có năng lực  
- Sự hiện hữu của ngành công  
nghiệp cạnh tranh có liên  
quan  
Nhân tố chuyên môn hóa  
Hình 2.2 Mô hình kim cương của Porter  
2. 2. Tổng quan các nghiên cứu trước  
Năm 2012, tác giả Nguyễn Vũ Hà Giang đã thực hiện đề tài nghiên cứu về  
“Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bình Thuận” – một trong các  
tỉnh lân cận và có nhiều điểm tương đồng với BR-VT về đặc thù du lịch. Đề tài đã  
chỉ ra bên cạnh những lợi thế và đóng góp tích cực của ngành du lịch đối với nền kinh  
tế tỉnh Bình Thuận, vẫn còn nhiều hạn chế mà ngành du lịch tỉnh này cần khắc phục,  
   
10  
như: chưa tương xứng với tiềm năng, phát triển dựa trên lợi thế so sánh một cách  
thiếu bền vững, sức cạnh tranh trong nước kém. Bằng phương pháp nghiên cứu định  
tính, kết hợp lý thuyết phát triển bền vững, nghiên cứu đã chỉ ra các thách thức nổi  
bật mà ngành du lịch Bình Thuận đang ứng phó, thông qua đó chỉ ra các nhân tố quan  
trọng nhất quyết định NLCT cụm ngành, gồm: Hình ảnh điểm đến phải an toàn và  
thân thiện, phát triển du lịch theo hướng bền vững: Thân thiện môi trường – gần gũi  
về xã hội và văn hóa – và có tính kinh tế; Có nhiều không gian và sản phẩm dịch vụ  
du lịch có sức cạnh tranh; Hạ tầng giao thông kết nối các tuyến du lịch quốc gia và  
nội vùng đáp ứng kịp với tốc độ phát triển du lịch; Nguồn nhân lực du lịch phải đáp  
ứng cả về lượng lẫn chất,…  
Đối với tỉnh BR-VT, năm 2017 tác giả Phạm Anh Dũng cũng đã có đề tài  
nghiên cứu về “Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch”. Trong đề tài này  
tác giả đã tập trung phân tích các tiềm năng, lợi thế của tỉnh trong phát triển du lịch,  
đồng thời cũng chỉ ra thực trạng của ngành du lịch BR-VT đó là: lượng khách du lịch  
tuy lớn và có xu hướng tăng trưởng cao nhưng không đồng đều; Tỷ trọng đóng góp  
GRDP của du lịch cũng thấp hơn so với cả nước và xu hướng trên thế giới; năng lực  
cạnh tranh của cụm ngành du lịch BR-VT mới ở mức trung bình và hiện đang bị cạnh  
tranh bởi nhiều điểm du lịch tương đồng trong khu vực; cụm ngành du lịch BR-VT  
đã có đầy đủ các thành phần, nhưng các thành phần này đang ở mức độ yếu, và còn  
tồn tại nhiều yếu tố cản trở động lực phát triển du lịch như: thiếu vắng quy hoạch du  
lịch, tỷ lệ dự án đầu tư du lịch thấp, năng lực lao động còn hạn chế, sản phẩm du lịch  
đơn điệu. Kết quả là, khách du lịch đến BR-VT có thời gian lưu trú ngắn, mức chi  
tiêu cho du lịch thấp, dẫn đến hiện trạng lượng khách tuy nhiều, nhưng doanh thu du  
lịch thấp. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị chính sách để  
nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch BR-VT: Xây dựng quy hoạch du  
lịch chi tiết; Nâng cao chất lượng nhân lực du lịch; Phát triển loại hình du lịch tiềm  
năng, hiệu quả; Rà soát các dự án đầu tư, giải quyết các vấn đề liên quan đến dự án  
để cải thiện tỷ lệ thực hiện dự án; Nâng cao vai trò liên kết, hợp tác phát triển du lịch  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 91 trang yennguyen 20240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nang_cao_nang_luc_canh_tranh_cum_nganh_du_lich_tinh.pdf