Tóm tắt Luận văn Nhân sinh quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
ĐINH VĂN HÙNG  
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG  
KINH TRUNG BỘ  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60.22.03.01  
Đà Nẵng – Năm 2017  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Gần hai nghìn năm hiện diện và đồng hành cùng dân tộc,  
những giáo lý Phật giáo đã thấm sâu trong từng nếp ăn, nếp nghĩ của  
người dân Việt. Đã từ lâu, Phật giáo không còn được xem với tư cách  
là một tôn giáo ngoại nhập, mà là một tôn giáo đã được tiếp biến, bản  
địa hóa và trở thành một phần trong đời sống tinh thần dân tộc.  
Trong suốt tiến trình lịch sử, với những tư tưởng nhân sinh  
nhập thế và tích cực, Phật giáo luôn luôn là một tôn giáo đóng vai trò  
quan trọng trong đời sống tinh thần người Việt; góp phần định hình lối  
sống, phong tục, chuẩn mực giá trị đạo đức văn hóa Việt.  
Tuy nhiên, do sự thăng trầm của lịch sử, nhiều khi những giá trị  
của Phật giáo chưa được quan tâm nghiên cứu và vận dụng đúng mức để  
Phật giáo có những cơ hội phát huy những vai trò tích cực của mình.  
Trong thời đại ngày nay, đất nước ta đã bước vào một giai  
đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết. Đây là cơ  
hội để chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hoá và tri  
thức với các dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình này cũng  
đặt nước ta vào nguy cơ bị các giá trị ngoại lai (trong đó có lối sống  
thực dụng, chạy theo đồng tiền), nhất là các giá trị văn hoá phương  
Tây xâm nhập ồ ạt, tác động làm cho tính ích kỷ cá nhân mỗi ngày một  
tăng lên, bạo lực gia đình, lối sống hưởng thụ vật chất lan rộng, đạo  
đức xã hội ngày càng bị xuống cấp nghiêm trọng, làm tổn hại bản sắc  
văn hoá dân tộc, khuynh đảo các giá trị đạo đức. Đồng nghĩa rằng, bản  
sắc văn hóa hàng nghìn năm của chúng ta đang đứng trước một nghịch  
lý phức tạp: vừa có khả năng giao lưu rộng mở, vừa có nguy cơ bị  
nghèo văn hoá rất nghiêm trọng.  
Trong bối cảnh đó, Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  
2
lần thứ VIII, Đảng cũng đã nêu rõ: “Trong điều kiện kinh tế thị trường  
và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng  
cao văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập  
quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc”.  
Để đạt được mục tiêu vừa phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa,  
đồng thời vừa bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức  
truyền thống, xây dựng đời sống giàu đẹp, hạnh phúc; thiết nghĩ, việc  
nghiên cứu các giá trị tinh thần của nhân loại nói chung và nhân sinh  
quan Phật giáo nói riêng, để bồi đắp cho các giá trị tinh thần của dân  
tộc là một điều hết sức cần thiết.  
Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng, những giá trị nhân sinh của  
Phật giáo nói chung và kinhTrung Bộ nói riêng có thể được khẳng  
định và thực sự phát huy vai trò của mình, góp phần làm phong phú  
truyền thống tốt đẹp của con người Việt và xây dựng một nền văn hóa  
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.  
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi chọn đề tài “Nhân sinh  
quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ” làm luận văn thạc sỹ của mình.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn khái quát một cách hệ thống  
những nội dung cơ bản của kinh Trung Bộ, nêu ra những giá trị của  
nhân sinh quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ và một số ảnh hưởng  
của nó với đời sống tinh thần người Việt.  
Với mục tiêu đặt ra, luận văn có những nhiệm vụ sau:  
Thứ nhất, khái quát và trình bày tổng quan về sự ra đời và tóm  
tắt những nội dung cơ bản của kinh Trung Bộ.  
Thứ hai, phân tích, khái quát những nội dung về nhân sinh  
của Phật giáo trong kinh Trung Bộ.  
Thứ ba, nêu ra những giá trị lý luận, thực tiễn và những hạn chế  
của nhân sinh Phật giáo trong kinh Trung Bộ đối với Phật giáo nói chung  
và một số ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần người Việt.  
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội  
dung nhân sinh quan của Phật giáo trong kinh Trung Bộ, phân tích và  
đánh giá những giá trị và ảnh hưởng của nó đối với các phương diện  
của đời sống tinh thần người Việt.  
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn tìm hiểu những tư  
tưởng nhân sinh quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ qua văn bản đã  
được dịch sang tiếng Việt của hòa thượng Thích Minh Châu (Đại  
tạng kinh Việt Nam – Kinh Trung Bộ, ba tập, Viện nghiên cứu Phật  
học Việt Nam ấn hành,1992), đồng thời, tham khảo một số tác phẩm  
nghiên cứu về Phật giáo, văn hóa, triết học Việt Nam và phương Đông  
nói chung.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy  
vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng kết hợp các  
phương pháp: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, trừu  
tượng và cụ thể, lịch sử và lôgíc, đối chiếu, so sánh.  
5. Bố cục của đề tài  
Luận văn bao gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài  
liệu tham khảo và phần Nội dung với 3 chương, 9 tiết.  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Kinh Trung Bộ bao gồm 152 bài kinh do đức Phật và các vị đệ  
tử thuyết giảng khi Ngài còn sinh tiền. Trong đó, chứa đựng nhiều nội  
dung giáo lý quan trọng, những cách thức tu tập căn bản. Kinh Trung  
Bộ được kết tập, phiên dịch, chú giải và lưu hành ở hầu hết các quốc  
gia trên thế giới có Phật giáo truyền đến, kể cả các nước Phật giáo Bắc  
truyền như Trung Quốc, Nhật Bản.  
Ở Việt Nam, kinh Trung Bộ cũng đã được phiên dịch, nghiên  
cứu, đưa vào “Đại tạng kinh Việt Nam”, đồng thời, triển khai giảng  
4
dạy ở các trường Phật học và ứng dụng rộng rãi trong việc sinh hoạt,  
tu học của tăng, ni, phật tử.  
Theo chúng tôi được biết, hiện nay đã có một số công trình  
phiên dịch và nghiên cứu về kinh Trung Bộ như: “kinh Trung Bộ” do  
hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pàli sang tiếng Việt (1973).  
Với tác phẩm này, Thích Minh Châu đã đóng góp công sức rất lớn  
trong việc chuyển ngữ bộ kinh từ tiếng Pàli sang tiếng Việt. Trong  
công tác đó, tác giả đã tham khảo và đối chiếu bản kinh Pàli với các  
bản kinh bằng tiếng Anh, tiếng Nhật nhằm đem lại một bản dịch có độ  
chính xác cao.  
Tác phẩm “So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán và kinh Trung  
Bộ chữ Pàli” (1961) của Thích Minh Châu. Trong tác phẩm này, tác  
giả đã so sánh kinh Trung A-hàm, hiện được duy trì trong bản chữ Hán  
và kinh Trung Bộ trong bản chữ Pàli. Qua đó, Tiến sĩ Thích Minh  
Châu có nhiều khám phá đáng ngạc nhiên. Ông đã chứng minh rằng  
bản kinh A-hàm bằng chữ Hán và bản kinh Pàli này có rất nhiều điểm  
tương đồng và cũng khá nhiều dị biệt. Ông đã nghiên cứu và có kết  
luận rằng, cả hai bản dịch chữ Hán cũng như Pàli đều căn cứ trên một  
bản gốc.  
“Tóm tắt kinh Trung Bộ” của Thích Minh Châu, tác giả đã  
tóm tắt nội dung từng bài kinh và giải thích những vấn đề, những thuật  
ngữ được đức Phật nói đến trong các bài kinh đó.  
“Toát yếu kinh Trung Bộ” (3 tập) của Thích Nữ Trí Hải. Với  
tác phẩm này, trong từng bài kinh, tác giả giải quyết theo năm phần:  
toát yếu điểm quan trọng nhất của bài kinh, tóm tắt và bình giải nội  
dung từng bài kinh, chú giải thuật ngữ, liệt kê và giải thích các pháp số  
liên hệ, khái quát nội dung chính theo hình thức văn vần.  
“Tìm hiểu Trung Bộ kinh” (3 tập) của Thích Chơn Thiện. Ba  
tập của tác phẩm tương ứng với ba tập của kinh Trung Bộ. Trong mỗi  
5
tập, tác giả đã trình bày với ba phần chính: Tổng quát các nội dung,  
nêu đặc tính của các nội dung và tổng luận về tập kinh.  
Ngoài ra còn một số bài kinh riêng lẻ đã được các nhà Phật  
học phiên dịch, nghiên cứu, giảng giải và phổ biến.  
Tuy nhiên, do những mục đích khác nhau, nên các công trình  
trước đây chủ yếu tập trung vào việc phiên dịch, giảng giải nhằm để  
giảng dạy trong các trường Phật học và ứng dụng thực hành trong giới  
tăng ni và những người theo đạo Phật. Cho đến nay, chưa có công  
trình nghiên cứu nào tiếp cận kinh Trung Bộ từ góc độ triết học để tìm  
hiểu về quan điểm nhân sinh Phật giáo.  
CHƢƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ KINH TRUNG BỘ  
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHIÊN DỊCH,  
PHỔ BIẾN KINH TRUNG BỘ TẠI VIỆT NAM  
1.1.1. Lịch sử hình thành kinh Trung Bộ  
Về Tam tạng kinh điển: Tam tạng kinh điển (Nguyên thủy) là  
toàn bộ những lời dạy của đức Phật nói ra trong 45 năm, từ sau khi  
thành đạo cho đến khi Niết-bàn, cùng với đó là những bài giảng do các  
đệ tử giảng giải và được Phật xác chứng, bao gồm: tạng Kinh, tạng  
Luật và tạng Luận. Tam tạng kinh điển có ba phiên bản được chấp  
nhận bởi ba trường phái Phật Giáo và hiện hành đến ngày nay:  
- Tam tạng kinh điển bằng tiếng Pàli của trường phái Phật giáo  
nguyên thủy.  
- Đại Tam tạng kinh điển bằng chữ Hán của trường phái Phật  
giáo đại thừa, vốn là bản dịch từ kinh điển tiếng Phạn.  
- Tam tạng kinh điển Tây Tạng (ngôn ngữ Tây Tạng), gồm  
bản dịch từ kinh điển tiếng Phạn và bốn bộ kinh Mật thừa Tây Tạng.  
Ở đây, chúng ta chỉ giới hạn tìm hiểu về Tam tạng kinh điển  
6
Pàli của trường phái Phật giáo Nguyên thủy.  
Về các Hội nghị kết tập kinh điển: Từ khi đức Phật nhập niết  
bàn đến nay, những lời dạy của đức Phật đã trãi qua sáu lần tổ chức  
hội nghị kết tập. Ban đầu, Tam tạng kinh điển được truyền thừa bằng  
cách truyền miệng. Từ hội nghị kết tập kinh điển lần thứ ba (khoảng  
247 TCN) trở đi, kinh điển bắt đầu được khắc ghi và lưu truyền cho  
đến ngày nay.  
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ nhất: Hội nghị được tổ chức  
vào khoảng ba tháng sau đức Phật niết bàn (544 TCN).  
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ hai: Hội nghị được tổ chức  
vào khoảng 100 năm sau Phật niết bàn (444 TCN).  
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ ba: Hội nghị được tổ chức  
vào năm khoảng 247 TCN.  
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư: Hội nghị được tổ chức  
vào khoảng 100 năm TCN.  
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ năm: Theo lịch sử Phật giáo  
nguyên thủy, Hội nghị lần thứ năm được tổ chức vào năm 1871, triều  
đại vua Mindon, tại thủ đô Mandalay, nước Miến Điện (Burma),  
(Cộng hòa Liên bang Myanmar ngày nay).  
Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ sáu: Công việc chuẩn bị cho  
hội nghị này đã được tiến hành liên tục trong ba năm, từ 1951-1954.  
Hội nghị chính thức khai mạc vào ngày 17 tháng 5 năm 1954, tại Liên  
bang Myanmar, dưới sự bảo trợ của chính phủ Liên bang Myanmar  
đứng đầu là thủ tướng U Nu.  
Những Hội nghị kết tập kinh điển Phật giáo trên là những sự  
kiện lịch sử mang tính chất quyết định và thiết yếu cho việc bảo tồn  
giáo pháp của đức Phật cho các thế hệ ngày nay và mai sau.  
Về bộ kinh Trung bộ: Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikaya) là bộ  
kinh thứ hai trong năm bộ kinh của Kinh tạng Nikaya trong văn hệ  
7
Pàli: Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi  
Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh.  
Kinh Trung Bộ là những pháp thoại mà phần lớn được đức  
Phật trực tiếp truyền dạy cho tăng ni trong sinh hoạt hàng ngày của  
Ngài. Vì thời lượng vừa phải, nên những bài kinh trong kinh Trung Bộ  
chuyên chở những đề tài như những bài tiểu luận rất phong phú và sâu  
sắc. Kinh Trung Bộ gồm có 152 kinh, được chia làm ba tập, mỗi tập  
50 kinh, riêng tập thứ ba gồm 52 kinh.  
Kinh Trung Bộ cũng như các bộ kinh nêu trên đều là những bộ  
kinh sơ khai và chính thống nhất trong hệ thống kinh điển của Phật  
giáo được kết tập. Đây là nguồn tư liệu quý báu và đáng tin cậy để  
chúng ta tìm hiểu lịch sử, đời sống sinh hoạt, cũng như những giáo lý,  
tư tưởng của đức Phật và tăng đoàn.  
1.1.2. Quá trình phiên dịch và phổ biến kinh Trung Bộ tại  
Việt Nam  
Kinh Trung Bộ được hòa thượng Thích Minh Châu (1918 –  
2012) khởi sự nghiên cứu và chuyển ngữ vào năm 1952, in lần đầu  
tiên năm 1973, gồm ba tập, tái bản vào năm 1986, và được đưa vào  
Đại tạng kinh Việt Nam năm 1992. Bộ mới nhất được Viện nghiên cứu  
Phật học Việt Nam cho tái bản năm 2012, in thành hai tập. Hiện nay,  
kinh Trung Bộ được phổ biến giảng dạy trong hầu hết các trường Phật  
học tại Việt Nam.  
1.2. KHÁI QUÁT NỘI DUNG KINH TRUNG BỘ VÀ VỊ TRÍ  
KINH TRUNG BỘ TRONG HỆ THỐNG KINH ĐIỂN PHẬT  
GIÁO  
1.2.1. Khái quát nội dung kinh Trung Bộ  
Kinh Trung Bộ bao gồm 152 kinh, được chia thành ba tập:  
Kinh Trung Bộ, tập I, (từ kinh số1 đến kinh số50): Trong tập  
này, bao gồm 50 bài kinh với những chủ đề khác nhau. Qua đó, đức  
8
Phật giới thiệu những nội dung cơ bản nhất của giáo lý Phật giáo:  
duyên khởi, vô thường, vô ngã, nghiệp báo, luân hồi, tứ diệu đế. Nói  
chung, con đường nhận thức, tu tập của Phật giáo đã được giới thiệu  
đầy đủ.  
Kinh Trung Bộ, tập II, gồm 50 kinh, kiết tập năm phần dựa  
theo các đối tượng nghe pháp: đối tượng là gia chủ, tỷ kheo, vua chúa  
hoàng tộc, các du sĩ ngoại đạo và các Bà-la-môn. Tùy vào lợi ích giải  
thoát của từng đối tượng mà đức Phật dạy pháp thích ứng.  
Kinh Trung Bộ tập III, gồm 52 bài: tiếp tục giới thiệu và làm  
sáng tỏ thêm những nội dung giáo lý cơ bản: vô thường, vô ngã, duyên  
sinh, nghiệp, ngũ uẩn, bát chánh đạo, giải thoát; giới thiệu những  
pháp tu tập thiền quán, những pháp tu tập nhằm nhận thức rõ về sự  
thật cuộc đời, con người, hạnh phúc, khổ đau và hướng đến sự giải  
thoát. Ngoài ra, trong tập III này, một số nét về giáo lý ngoại đạo,  
được thể hiện khá rõ; những mối quan hệ giữa giáo hội của Phật và các  
giáo hội ngoại đạo, cả hai bên đều có chủ động trao đổi.  
1.2.2. Vị trí kinh Trung Bộ trong hệ thống kinh điển Phật giáo  
Kinh Trung Bộ chứa đựng những lời dạy trực tiếp của đức  
Phật, được kết tập một cách chu đáo, khoa học và lưu truyền rất sớm  
trong hệ thống kinh điển đồ sộ của Phật giáo. Từ những yếu tố đó, bộ  
kinh luôn giữ nguyên giá trị nguyên thủy của nó.  
Kinh Trung Bộ có một vị trí vô cùng quan trọng và được coi  
như là nền tảng, là kim chỉ nam cho toàn bộ hệ thống kinh điển phát  
triển sau này của Phật giáo.  
Cho đến nay, kinh Trung Bộ vẫn nguyên là nguồn tài liệu quý  
báu cho các đệ tử Phật, cũng như giới học giả học khi nghiên cứu về  
Phật giáo nói chung.  
9
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1  
Chương 1 luận văn đã trình bày khái quát về lịch sử hình  
thành, quá trình phiên dịch, phổ biến kinh Trung Bộ tại Việt Nam.  
Đồng thời, khái quát những nội dung cơ bản của kinh Trung Bộ và vị  
trí của nó trong hệ thống kinh điển Phật giáo. Qua đó, chúng ta thấy,  
Kinh Trung Bộ là một bộ kinh nguyên thủy của Phật giáo, được kết  
tập một cách khoa học. Nội dung bộ kinh hàm chứa những tư tưởng  
cốt lõi và có giá trị to lớn đối với hệ thống kinh điển Phật giáo.  
CHƢƠNG 2  
MỘT SỐ NỘI DUNG NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG  
KINH TRUNG BỘ  
2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM  
Nhân sinh quan là toàn bộ những quan niệm chung nhất về xã  
hội và con người. Những quan niệm về con người và cuộc sống của  
con người đề cập đến những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản  
chất con người? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra  
sao? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì  
để vượt qua những đau khổ, giải phóng mình, đạt tới tự do?con người  
sẽ phải như thế nào để có một cuộc sống tốt đẹp nhất?  
Nhân sinh quan Phật giáo là toàn bộ những quan điểm chung  
nhất của Phật giáo đề cập đến những vấn đề con người và cuộc sống  
con người như: con người do đâu mà ta có mặt trong cõi đời này?  
Thực trạng về cuộc sống của con người như thế nào? Thân phận con  
người ra sao? Con người có thể làm gì để diệt trừ đau khổ, đạt được tự  
do, hạnh phúc trong hiện tại và giải thoát trong tương lai?  
2.2. QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO VỀ NGUỒN GỐC CON NGƢỜI  
TRONG KINH TRUNG BỘ  
2.2.1. Giáo lý Duyên khởi  
Duyên khởi hay Thập nhị nhân duyên là một giáo lý quan  
10  
trọng và rất đặc thù của Phật giáo. Duyên khởi liên hệ đến phạm trù  
nhân sinh quan và vũ trụ quan, được đề cập nhất quán trong tất cả các  
kinh điển của Phật giáo. Duyên khởi là lý thuyết đầu tiên phản bác hệ  
thống triết học Vệ Đà của Bà la môn, phủ nhận tư tưởng sáng tạo của  
đấng Phạm Thiên (Brahman), mở ra một hướng tu duy mới cho hệ tư  
tưởng triết học Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI TCN.  
Duyên khởi có nghĩa là dựa vào các nhân duyên mà khởi lên hay  
còn gọi là “pháp tùy thuộc phát sinh”, sự sinh khởi của một pháp tùy  
thuộc vào điều kiện hay yếu tố cùng sinh khởi với nó làm nhân, làm  
duyên cho nó. Duyên khởi được đức Phật nêu lên bằng một định thức  
tổng quát: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh, cái  
này không có nên cái kia không có, cái này diệt nên cái kia diệt”. Duyên  
khởi còn được minh họa rõ ràng hơn với dạng thức mười hai chi phần: vô  
minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão – tử.  
Giáo lý Duyên khởi có giá trị như giềng mối thâu tóm các giáo  
lý căn bản khác của Phật giáo. Nó tạo nên sự thống nhất giữa các giáo  
lý cơ bản của đức Phật với nhau, làm nền tảng cho mọi lý thuyết của  
Phật giáo Đại thừa phát triển sau này. Từ đó, có thể nói, Duyên khởi là  
giáo lý đặc thù của triết học Phật giáo, là đầu mối, là chiếc chìa khóa  
mở kho tàng giáo lý của Phật giáo. Nếu hiểu được giáo lý Duyên khởi  
tức là nắm được cái cốt lõi của triết lý Phật giáo.  
2.2.2. Giáo lý Nghiệp  
Khái niệm: Nghiệp là hành động có chí tạo tác, hành động  
được sự tham gia của ý thức. Khi tạo tác thiện, ác gọi là Nghiệp nhân,  
khi cảm thọ khổ, vui gọi là Nghiệp quả. Nghiệp chính là động lực vẽ  
nên tiến trình “nhân quả - luân hồi” của con người. Tìm hiểu về  
Nghiệp cũng là tìm hiểu nhân quả nghiệp báo. Nghiệp báo chính là hệ  
quả tự nhiên của nghiệp.  
Trong Phật giáo, Nghiệp thường được biểu hiện qua ba lĩnh  
11  
vực: Thân nghiệp (nghiệp được tạo ra do thân), Khẩu nghiệp (nghiệp  
được tạo ra do lời nói) và Ý nghiệp (nghiệp được tạo ra từ suy nghĩ).  
Trong ba lĩnh vực này, Ý nghiệp là nghiệp quan trọng, đóng vai trò  
chủ đạo, dẫn dắt lời nói và hành động.  
Phân loại nghiệp: trong giáo lý Phật giáo, Nghiệp được phân  
ra làm nhiều loại. Tuy nhiên, ở đây, trên phương diện nhân sinh, chúng  
ta chỉ tìm hiểu về hai sự phân loại cơ bản và tiêu biểu của Nghiệp để  
hiểu sâu hơn về ý nghĩa của chúng.  
Về tính chất, Phật giáo cho rằng có ba loại nghiệp với ba tính  
chất khác nhau: nghiệp bất thiện, nghiệp thiện và nghiệp vô ký.  
Về phạm vi và tác dụng, nghiệp phân ra hai loại: “biệt nghiệp”  
(nghiệp tạo riêng của mình, chỉ có tác dụng đến cá nhân) và “cộng  
nghiệp” (do nhiều người cùng tạo, có ảnh hưởng chung).  
Với những quan điểm về Nghiệp này, Phật giáo đã đi đến giải  
thích về những sự khác biệt nhau điển hình của con người như: vấn đề  
giữa người sống lâu và người chết yểu; giữa người đẹp kẻ xấu; giữa  
người có địa vị, quyền thế lớn và người có địa vị quyền thế nhỏ; giữa  
người giàu và người nghèo.  
Chuyển nghiệp: thay đổi nghiệp. Tất cả nghiệp nhân, nghiệp  
quả đều duyên sinh, vì duyên sinh nên không có nghiệp cố định và đều  
có thể biến cải. Đây cũng chính là tinh thần nhân bản trong giáo lý  
Nghiệp của Phật giáo.  
2.2.3. Ngũ uẩn  
Uẩn là sự tập hợp, chứa nhóm, tích tụ, tập hợp theo từng loại,  
từng nhóm cùng tính chất. Theo quan điểm của Phật giáo, con người là  
một hợp thể của năm yếu tố: Sắc uẩn là yếu tố vật chất, Thọ uẩn là yếu  
tố cảm giác, Tưởng uẩn là yếu tố tri giác, Hành uẩn là yếu tố tâm lý  
tạo động lực đi tới tạo nghiệp và kết quả của nghiệp như ước muốn,  
quyết định thuộc ý chí; Thức uẩn là nhận biết, phân biệt đối tượng.  
12  
Trong ngũ uẩn, Sắc uẩn thuộc về vật chất, vật lý, bốn uẩn còn lại thuộc  
về tinh thần, tâm lý. Theo Phật giáo, cái mà người ta thường gọi là cá  
thể, bản ngã, con người chỉ là một sự tập hợp của những năng lực tâm  
lý và vật lý. Từ đó, tất cả những cảm xúc vui buồn, sướng khổ, hơn  
thua, đều bắt nguồn từ nơi năm uẩn này. Để thoát khỏi khổ đau, thành  
tựu niết bàn, đồng nghĩa với việc hiểu thông suốt và thoát khỏi sự chấp  
trước vào ngũ uẩn. Đây là phần kết cấu căn bản đặc thù, là cơ sở hình  
thành con người của Phật giáo.  
Năm thủ uẩn, chính là “khổ đế” trong “tứ diệu đế”, một trong  
những quan điểm mấu chốt của Phật giáo về vấn đề nhân sinh. Sự tập  
khởi của Năm thủ uẩn chính là sự tập khởi của khổ, và sự đoạn diệt  
Năm thủ uẩn chính là sự diệt khổ.  
2.3. QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO VỀ BẢN CHẤT CON NGƢỜI  
TRONG KINH TRUNG BỘ  
2.3.1. Khổ đau và nguyên nhân của khổ đau  
Khổ đau và nguyên nhân của khổ đau (khổ đế và tập đế trong  
tứ đế) chính là những vấn đề được đức Phật nêu lên trước tiên để nói  
rõ về thực trạng của con người và những nguyên nhân đưa đến thực  
trạng đó.  
Khổ đau: Khổ là trạng thái tâm lý bất như ý, mọi khát vọng bị  
bác bỏ, mọi mong cầu bị thiếu hụt. Khổ nằm ở hai phương diện: khổ  
vật chất và khổ tinh thần. Theo quan niệm của Phật giáo, khổ bao  
gồm: sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ,  
mong cầu không được là khổ, chấp thủ năm uẩn là khổ. Thẳng thắn  
nhìn nhận sự thật ấy cũng là một thái độ khởi đầu tích cực.  
Nguyên nhân của khổ: căn nguyên của nỗi thống khổ muôn  
đời đó là: ba độc tham, sân, si; là khát ái hay ái dục và vô minh.  
“Tham” là tham lam. Ham muốn thái quá. “Sân” là cơn giận,  
lòng giận dữ, nóng nảy, thù hận. “Si” là si mê, ngu tối.  
13  
“Ái dục” là những hình thức tham ái, khát vọng, ước mong,  
dục vong, ham muốn, nóng lòng, bám níu, luyến ái trong vị kỷ.  
“Vô minh” là không sáng suốt, không có chánh kiến, không  
hiểu rõ Tứ diệu đế, không biết rõ nguyên lí Nghiệp. Từ đó sinh ra  
“chấp ngã” là tin có một cái “ta” chân thật và “chấp pháp” là cho rằng  
tất cả sự vật thật có tự tánh, thường hằng không thay đổi.  
2.3.2. Vô ngã của căn, trần, thức  
Căn: hay còn gọi là nội xứ là chỗ nương tựa cho những cái  
khác sinh thành, gồm sáu căn: mắt dùng để nhìn, tai để nghe, mũi để  
ngửi, lưỡi để nếm, thân để nhận biết và ý để phân biệt.  
Trần: còn gọi là ngoại xứ, là phần vật chất bên ngoài, gồm sáu  
trần: Sắc (là màu sắc, hình dáng), thanh (âm thanh), hương (mùi), vị  
(chất do lưỡi nếm), xúc (cảm giác), pháp (hình ảnh, màu sắc, hương vị  
được lưu lại từ năm đối tượng ở trên).  
Thức: khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sự nhận biết,  
phân biệt. Sự phân biệt, hiểu biết và phán đoán này được gọi là thức.  
Sáu căn nói trên thuộc về phạm vi sinh lý học, sáu trần thuộc  
phạm vi vật lý học và sáu thức thuộc phạm vi tâm lý học, tổng hợp ba  
bộ phận ấy tạo thành con người. Tuy nhiên, căn, trần, thức là duyên  
khởi, không hề có tự ngã làm chủ tể, nên chúng đều vô ngã.  
2.4. CON DƢỜNG ĐƢA ĐẾN HẠNH PHÚC CHO CON NGƢỜI  
2.4.1. Nếp sống hòa hợp  
Trong cộng đồng tăng, ni, bao gồm rất nhiều các thành phần  
trong xã hội. Tuy nhiên, cộng đồng này không xây dựng trên nguyên  
tắc phục tùng uy quyền của thần linh, giáo chủ, thủ lĩnh,… mà được  
xây dựng trên ý thức của mỗi cá nhân với sáu nguyên tắc sống hoà  
hợp, thích ứng với mọi lợi ích cho cá nhân và lợi lạc cho cộng đồng.  
Thân hoà đồng trụ: "hoà đồng trên nguyên tắc hành động”.  
Khẩu hoà vô tránh: "hoà đồng trên nguyên tắc ngôn luận”.  
14  
Ý hoà đồng duyệt: "hoà đồng trên nguyên tắc ý chí”.  
Lợi hoà đồng huân: "hoà đồng trên nguyên tắc quyền lợi”.  
Giới hòa đồng tu: "hoà đồng trên nguyên tắc kỷ luật”.  
Kiến hoà đồng giải: "hoà đồng trên nguyên tắc nhận thức”.  
Với sáu nguyên tắc chung sống hòa hợp này, nguyên tắc nào  
cũng giữ một vai trò quan trọng nhất định giúp cho cá nhân và cộng  
đồng được an lạc hạnh phúc.  
2.4.2. Bát Chánh Đạo  
Bát chánh đạo là trung tâm của “đạo đế”, là con đường tám  
nhánh để giải thoát khỏi khổ đau: chánh kiến (cái nhìn đúng đắn),  
chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh), chánh ngữ (lời nói chân chánh),  
chánh nghiệp (hành động chân chánh), chánh mạng (nghề nghiệp chân  
chánh), chánh tinh tấn (siêng năng, tinh cần đúng mức), chánh niệm  
(tưởng nhớ đúng đắn), và chánh định (sự tập trung đúng đắn).  
2.5. QUAN ĐIỂM PHẬT GIÁO VỀ SỰ GIẢI THOÁT TRONG  
KINH TRUNG BỘ  
2.5.1. Thiền định và thiền quán  
Các đề mục và pháp môn thiền trình bày trong kinh Trung Bộ  
có thể chia thành hai hệ thống tương quan lẫn nhau.  
“Tịnh chỉ tu tập” còn gọi là thiền định. Thực hành tịnh chỉ  
nhắm vào sự phát triển trạng thái tâm an định, hợp nhất kể như một  
phương tiện để cảm nghiệm an lạc nội tại và làm phát sanh trí tuệ.  
“Minh sát tu tập” còn gọi là thiền quán, tức là tu tập nhắm  
vào việc phát triển trí tuệ để thấu triệt thực chất mọi hiện tượng.  
2.5.2. Tiến trình giải thoát  
Tiến trình giải thoát của Phật giáo gồm việc trãi qua “bốn bậc  
thiền” và chứng đắc “tam minh”.  
- Bốn bậc thiền:  
Sơ thiền: trạng thái ly dục sinh hỷ, còn tầm còn tứ (xóa bỏ ái  
15  
dục, đạt được an vui, nhưng còn tiềm ẩn các ý niệm).  
Nhị thiền: trạng thái định sinh hỷ lạc, có nghĩa là niềm vui của  
Nhị thiền do hoàn toàn an ổn trong “định” mà có.  
Tam thiền: trạng thái xả niệm lạc trú (dứt bỏ ý niệm, thường  
xuyên trú trong an lạc).  
Tứ thiền: trạng thái xả niệm, thanh tịnh, không lạc, khổ.  
- Tam minh: là ba khả năng của một vị đã chứng Thánh quả.  
Sau khi nhập được vào Tứ thiền, đắc được đệ tứ Thánh quả thì bắt đầu  
trãi qua kinh nghiệm tam minh.  
Trước tiên, thấy được sự lưu chuyển sinh tử của chính mình ở  
các cõi theo nghiệp duyên thiện ác để thành tựu Túc mạng minh.  
Kế đến, thấy sự lưu chuyển sinh tử của vô số chúng sinh ở các  
cõi theo nghiệp duyên thiện ác để thành tựu Thiên nhãn minh.  
Cuối cùng, thấy rõ bản chất và nguyên nhân của đau khổ luân  
hồi sinh tử, bản chất và con đường đưa đến Niết bàn để thành tựu Lậu  
tận minh.  
Tiến trình giải thoát với bốn bậc thiền được đức Phật chỉ ra  
một cách rất rõ ràng như là một khoa học về tâm linh. Mỗi bậc thiền  
đều có tiêu chuẩn xác định, đều có diễn tả và hướng dẫn rõ ràng để  
giúp người học thấu rõ từng bước trên con đường giải thoát khổ đau.  
2.5.3. Niết bàn  
Niết bàn chính là mục tiêu cuối cùng của đời sống phạm hạnh.  
Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có cảm thọ nào, lạc thọ, khổ  
thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán  
tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các  
cảm thọ ấy. Nhờ đó, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không  
chấp trước nên không phiền não; do không phiền não, vị ấy chứng đạt  
Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc  
cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”.  
16  
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2  
Qua nội dung chương 2 luận văn, chúng ta đã phân tích một số  
nội dung cơ bản về nhân sinh quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ. Với  
“Duyên khởi”, đã cho thấy con người do từ nhiều yếu tố làm nhân, làm  
duyên mà hiện hữu. Ở đây, “Ngũ uẩn”, chính là những yếu tố cơ bản.  
Đồng thời, con người luôn chịu sự chi phối của “Nghiệp”, tức là hành  
động và kết quả của hành động do chính mình tạo ra.  
Về bản chất, Phật giáo nhận định rằng, cuộc sống con người là  
nhiều đau khổ. Từ đó, Phật giáo đã đưa ra một số giải pháp như “Lục  
hoà”, “Bát chánh đạo” nhằm xây dựng một con người chân chính và  
đạo đức toàn diện, giúp con người thoát khỏi khổ đau và đem lại an  
lạc, hạnh phúc.  
CHƢƠNG 3  
NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ ẢNH HƢỞNG CỦA  
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG KINH TRUNG BỘ  
ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƢỜI VIỆT  
3.1. NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA NHÂN SINH QUAN  
PHẬT GIÁO TRONG KINH TRUNG BỘ  
3.1.1. Những giá trị của nhân sinh quan Phật giáo trong  
kinh Trung Bộ  
Quan điểm Phật giáo trong kinh Trung Bộ không chấp nhận có  
một thượng đế nào có thể sản sinh ra con người. Con người do “Duyên  
khởi”, do “ngũ thủ uẩn” mà hình thành và chính “nghiệp” do con  
người tạo ra là yếu tố quyết định và chi phối con người. Những giáo lý  
ấy chính là tiếng nói khẳng định giá trị nhân bản của con người, phủ  
nhận sự tồn tại và chi phối của các thế lực siêu nhiên, của đấng tối  
cao, của Phạm Thiên. Chính vì thế, Phật giáo nguyên thủy có những  
yếu tố duy vật và vô thần.  
17  
Dựa trên cơ sở của thuyết Duyên khởi, Phật giáo đi đến giải  
thích về “nghiệp” và “nghiệp báo”. Nó có giá trị giáo dục một đời  
sống trong sáng, thánh thiện và tốt đẹp cho con người, đồng thời ngăn  
chặn bớt cái ác trong mỗi người và nhân loại ở góc độ nào đó.  
Cũng trên nguyên lý Duyên khởi, Phật giáo đã thuyết minh về  
con người thực tại là do ngũ uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành  
uẩn và thức uẩn mà được hình thành. Ngũ uẩn cũng nương vào nhau  
mà có mặt. Từ quan điểm duy vật biện chứng, có thể nhận thấy ở đây  
ngoài những yếu tố duy vật, vô thần còn có các yếu tố biện chứng tự  
phát về mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố danh sắc tạo ra con người  
và tương lai của họ.  
Năm thủ uẩn cũng chính là “khổ đế” trong “tứ diệu đế”, đây là  
một trong những quan điểm mấu chốt của Phật giáo về vấn đề nhân sinh.  
Sự tập khởi của năm thủ uẩn chính là sự tập khởi của khổ, và sự đoạn diệt  
năm thủ uẩn chính là sự diệt khổ. Đức Phật từng nói, thấy rõ ngũ uẩn là  
vô ngã thì không còn chấp thủ uẩn là mình, của mình hay tự ngã của  
mình. Chấp thủ diệt thì ái diệt, khổ diệt. Ðấy là ngõ vào giải thoát.  
Với bốn thánh đế được bàn đến: khổ, nguyên nhân của khổ,  
hạnh phúc và con đường đưa đến hạnh phúc, theo Phật giáo, nó vừa là  
phương tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý đầy tính nhân bản đem lại  
niềm tin, sức sống cho con người, xã hội đương thời và vẫn thiết thực  
lợi ích cho con người và xã hội hiện đại. Việc ứng dụng Bát thánh đạo  
hy vọng sẽ góp phần nào đó giải tỏa những căng thẳng, bế tắc, giảm bớt  
lòng ham muốn quá mức về vật chất, giúp cho cuộc sống con người  
chất lượng hơn và trở về với những giá trị thực của chính chúng ta.  
Với tinh thần Lục hoà là bí quyết của hành vi ứng xử cao  
thượng của một cá nhân, là một nếp sống đẹp để xây dựng đời sống  
cộng đồng. Thiết nghĩ, nguyên lý sống này không riêng gì nếp sống  
đạo mà nó thích ứng trong mọi gia đình, học đường và bất cứ hoạt  
18  
động tổ chức xã hội nào.  
Tóm lại, với những tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo trong  
kinh Trung Bộ đã chứa đựng sự lý đầy thuyết phục và hướng con  
người đến nếp sống hiền thiện, lánh xa cái ác, chứa đựng nhiều  
phương pháp tốt đẹp nhất có thể giáo dục và cải thiện con người.  
Hướng con người sống cảm thông, hỷ xả với nhau một cách hòa mục,  
sống vì người khác, bao dung độ lượng. Đó chính là phương pháp  
giúp con người đạt được hạnh phúc, là động lực nảy sinh mọi điều tốt  
lành. Nó không chỉ ứng dụng trong tu tập để giải thoát, thành Phật, nó  
còn mang những giá trị nhân sinh vô cùng sâu sắc.  
3.1.2. Những hạn chế của nhân sinh quan phật giáo trong  
kinh Trung Bộ  
Trước tiên, chúng ta có thể thấy, những tư tưởng nhân sinh  
được thể hiện trong kinh Trung Bộ nằm rải rác trong những bài giảng  
của đức Phật, được trình bày đan xen lẫn nhau và được nhắc đi nhắc  
lại nhiều lần nên ít nhiều giảm bớt tính lo gich và làm người đọc khó  
theo dõi theo một mạch nhất quán.  
Nhân sinh quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ đề cao tính  
hướng thiện, sự tu tập của mỗi con người trong xã hội, đề cao đức tính  
nhẫn nhục, chịu đựng, kêu gọi mọi người sống hòa bình, nhân đạo và  
nhẫn nhịn. không đề cao tầm quan trọng và không chủ trương đấu  
tranh chống áp bức, bóc lột, Vì thế, trong một số trường hợp nó không  
thích hợp với quan niệm mác xit về đấu tranh giai cấp để giải quyết  
trực tiếp mọi đau khổ bất công trên thế giới.  
3.2. MỘT SỐ ẢNH HƢỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT  
GIÁO TRONG KINH TRUNG BỘ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH  
THẦN NGƢỜI VIỆT  
Phật giáo đã hiện diện và gắn liền với dân tộc trong suốt chiều  
dài lịch sử hơn 2.000 năm qua. Trong quá trình đó, Phật giáo đã để lại  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 20540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nhân sinh quan Phật giáo trong kinh Trung Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nhan_sinh_quan_phat_giao_trong_kinh_trung_b.pdf