Tóm tắt Luận văn Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam

1
MỞ ĐẦU  
1. lý Do chọn đề tài  
1. Truyện truyền kỳ có vị trí quan trọng trong quá trình hình  
thành và phát triển của văn học Việt Nam. Đây là một hiện tượng văn  
học độc đáo, kết tinh trong đó nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của dân  
tộc. Nó là một dạng ký ức cộng đồng, nơi lưu giữ những vang bóng  
của lịch sử suốt hàng ngàn năm qua, ghi dấu các phong tục tập quán,  
những tín niệm thiêng liêng của người Việt. Nghiên cứu truyện  
truyền kỳ do vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu nhận  
thức một loại hình văn học mà quan trọng hơn, còn giải mã ký ức văn  
hóa – lịch sử của một cộng đồng; cũng là một lối đi vào khám phá  
tâm thức, tâm hồn người Việt.  
2. Nghiên cứu truyện truyền kỳ là hoạt động đã được giới  
chuyên môn bắt đầu từ lâu. Nhưng đây là một đối tượng hết sức phức  
tạp. Muốn hiểu thấu đáo, đầy đủ các giá trị của loại hình văn học này,  
đòi hỏi phải có nhiều hướng nghiên cứu, nhiều cách thức tiếp cận  
khác nhau. Cho đến nay, đã có rất nhiều những bài viết, công trình  
nghiên cứu có giá trị về truyện truyền kỳ được công bố, song vẫn còn  
nhiều vấn đề đang để ngỏ hoặc mới chỉ được đề cập một cách sơ bộ.  
Chính vì vậy, chúng tôi muốn kế thừa công việc của những người đi  
trước, tiếp tục tìm hiểu sâu hơn loại hình văn học này.  
Xét về mặt cấu trúc, truyện truyền kỳ là những tác phẩm được  
hình thành trên cơ sở sự kiến tạo các loại môtip. Có rất nhiều môtip  
trở thành yếu tố đặc trưng của truyện truyền kỳ như môtip nhân quả,  
hoá thân, hiển linh, báo ứng… và đặc biệt là môtip kỳ ngộ. Chính  
2
môtip kỳ ngộ đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên sắc diện  
riêng của những câu chuyện truyền kỳ.  
3. Nghiên cứu các dạng môtip trong tác phẩm văn học nói  
chung, môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ nói riêng không phải là  
vấn đề mới lạ. Ở các công trình nghiên cứu về truyện truyền kỳ Việt  
Nam từ trước tới nay, nhiều tác giả cũng đã ít nhiều đề cập. Tuy vậy,  
để xem xét một cách có hệ thống, chi tiết, cụ thể chỉ một yếu tố  
(môtip kỳ ngộ) thì hầu như chưa có ai tiến hành. Chính vì thế mà  
chúng tôi chọn Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam để làm  
đề tài luận văn tốt nghiệp. Công việc này sẽ giúp chúng tôi có điều  
kiện tìm hiểu sâu sắc hơn di sản văn học truyền thống và ngoài ra còn  
có thể vận dụng vào công việc giảng dạy, học tập một cách hiệu quả  
hơn.  
2. Lịch sử vấn đề  
2.1. Những nghiên cứu chung về truyện truyền kỳ.  
Xung quanh truyện truyền kỳ, vấn đề về văn bản là điều mà  
giới nghiên cứu quan tâm trước tiên. Có nhiều công trình nghiên cứu  
liên quan đến văn bản truyện truyền kỳ, đáng lưu ý là những công  
trình sau: Lược truyện các tác gia Việt Nam (Trần Văn Giáp), Nghiên  
cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kỳ viết bằng chữ Hán ở Việt  
Nam thời trung đại (Phạm Văn Thắm), Con đường giải mã Văn học  
trung đại (Nguyễn Đăng Na), Truyện truyền kỳ Việt Nam, đặc điểm  
hình thái - văn hóa và lịch sử (Nguyễn Phong Nam).  
Ngoài những công trình về văn bản, có rất nhiều những nghiên  
cứu về nội dung của truyện truyền kỳ. Thời trung đại, hầu hết các ý  
kiến đều được trình bày dưới các lời bình, tán, tựa, bạt. Thời hiện  
đại, những nghiên cứu mang tính học thuật rõ ràng hơn. Đó là những  
bài viết của các tác giả Bùi Văn Nguyên (Bàn về yếu tố dân gian  
3
trong Truyền kỳ mạn lục), Đinh Gia Khánh (Văn học Việt Nam thế kỷ  
X – nửa đầu thế kỷ XVIII), Nguyễn Ngọc Hiệp (Truyện truyền kỳ Việt  
Nam: sự kết hợp giữa văn hóa bác học và văn hóa truyền thống dân  
gian), Trần Thị Băng Thanh và Bùi Thị Thiên Thai (Mối liên hệ giữa  
Truyền kỳ tân phả và văn hóa dân gian), Vũ Thanh (Truyện kỳ ảo  
trung đại Việt Nam), …  
Càng về sau, các vấn đề liên quan đến thi pháp, thủ pháp nghệ  
thuật, đặc trưng loại hình…của truyện truyền kỳ cũng được tìm hiểu,  
nghiên cứu công phu. Về đặc trưng thể loại và phương pháp tiếp cận  
truyện truyền kỳ, các học giả đều đưa ra những nhận định thống nhất  
với nhau. Nguyễn Đăng Na, Vũ Thanh, Đinh Phan Cẩm Vân, Đặng  
Anh Đào, Lã Nhâm Thìn, Trần Đình Sử đều xem yếu tố kỳ ảo trong  
truyện truyền kỳ chính là “phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc  
sống” và “người viết đã lấy cái kỳ ảo để nói cái thực” [Lã Nhâm  
Thìn, tr202]. Gần đây, công trình Truyện truyền kỳ Việt Nam, đặc  
điểm hình thái - văn hoá và lịch sử của Nguyễn Phong Nam đi vào  
tìm hiểu các giá trị, các đặc điểm hình thái, quy luật vận động, vai trò  
lịch sử của truyện truyền kỳ trong đời sống văn hoá - văn học dân  
tộc. Ngoài ra, có một số khoá luận, luận văn, bài báo tìm hiểu một  
đặc điểm về nội dung hoặc nghệ thuật của một hoặc một số tác phẩm  
truyền kỳ như: Loại hình các nhân vật trong truyện truyền kỳ Việt  
Nam qua ba tác phẩm tiêu biểu Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn  
lục, Lan trì kiến văn lục (Trương Thị Hoa, 2011, Luận văn thạc sỹ,  
ĐH Sư phạm Hà Nội 2); Hình tượng nhân vật nữ trong truyện truyền  
kỳ Việt Nam thế kỉ XV-XIX (Ngô Thị Thanh Bình, 2014, Luận văn  
Cao học, ĐHĐN); Cấu trúc phức của thời gian trần thuật trong  
Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Kim Châu, Tạp chí Nghiên cứu Văn học,  
số 4/2013).  
4
2.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
luận văn  
Liên quan đến vấn đề luận văn tìm hiểu là môtíp và môtip kỳ  
ngộ cũng có khá nhiều công trình đề cập ở những mức độ khác nhau.  
Trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Nguyễn Đăng Na đã  
có một số nhận định về các môtip: “thụ thai thần kỳ” (…), “ra đời  
thần kỳ” (…), “xuống thuỷ phủ”, “lên trời”, “diệt yêu quái”, “người  
xấu có giọng hát hay”, “duyên kỳ ngộ”,… Trên Tạp chí Nghiên cứu  
văn học, liên tiếp số 9 và 10/2006, trong phần “Thi pháp của loại  
truyện về các thánh nhân quân tử”, Trần Nho Thìn đã đề cập khá chi  
tiết về các môtip như: môtip dị thường, phi thường; môtip về sự thụ  
thai, sự ra đời kỳ lạ; hoặc là các môtip liên quan đến vật chất như ăn,  
ở, tiền bạc; môtip sắc dục; môtip về sự giúp đỡ; môtip thi cử; môtip  
chết tạm thời hoặc bất tỉnh.  
Cũng bàn về môtip, trong công trình Truyện truyền kỳ Việt  
Nam, đặc điểm hình thái - văn hoá và lịch sử, Nguyễn Phong Nam đã  
bàn kỹ đến các môtip thường gặp, đó là môtip nhân quả, môtip hoá  
thân, môtip hiển linh - báo ứng, môtip kỳ dị, kỳ ngộ, kỳ duyên, một  
loạt các môtip tình huống. Riêng phần kết cấu tác phẩm, qua việc  
khảo sát “Từ Thức tiên hôn lục”, tác giả này đã chỉ ra “phép kiến tạo  
tác phẩm bằng “chất liệu” (hệ thống) môtip”. Ở công trình này cũng  
có phần nói về chuyện kỳ ngộ, nhưng vì mục đích của cuốn sách chủ  
yếu hướng những vấn đề chung nên tác giả chưa bàn sâu vào môtip  
kỳ ngộ.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tƣợng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là môtip kỳ ngộ. Đó là  
những cuộc gặp gỡ kỳ lạ đã trở thành những “khuôn mẫu” nghệ  
5
thuật; được tác giả sử dụng thường xuyên xảy ra với dụng ý nghệ  
thuật rõ ràng.  
- Phạm vi nghiên cứu  
Các tác phẩm được tập trung khảo sát gồm: Lĩnh Nam chích  
quái lục, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả,  
Tân truyền kỳ lục, Lan trì kiến văn lục.  
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Phương pháp điển hình (còn gọi là phương pháp chọn mẫu hay  
nghiên cứu trường hợp), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương  
pháp thống kê, phương pháp hệ thống - cấu trúc kết hợp phương pháp  
loại hình.  
5. Đóng góp của luận văn  
Qua việc nghiên cứu môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt  
Nam, chúng tôi muốn làm sáng tỏ hai vấn đề. Thứ nhất, chỉ ra được  
những đặc điểm của môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ (định nghĩa,  
biểu hiện). Thứ hai, xác định môtip kỳ ngộ có vai trò như thế nào với  
sáng tạo văn học trung đại nước ta qua thể truyện truyền kỳ.  
5. Bố cục luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,  
luận văn bao gồm ba chương:  
Chương 1: Truyện truyền kỳ trong đời sống văn hoá, văn học  
Việt Nam.  
Chương 2: Các dạng thức chủ yếu của môtip kỳ ngộ trong  
truyện truyền kỳ Việt Nam.  
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của môtip kỳ ngộ trong truyện  
truyền kỳ Việt Nam.  
6
CHƢƠNG 1  
TRUYỆN TRUYỀN KỲ  
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ - VĂN HỌC VIỆT NAM  
1.1. TRUYỆN TRUYỀN KỲ - DI SẢN VĂN HÓA, LỊCH SỬ  
1.1.1. Khái niệm truyện truyền kỳ  
Chữ truyền kỳ, hiểu một cách khái quát là truyện về các nhân  
vật - sự vật - sự việc kỳ lạ, khác thường. Xét về nghĩa từ, nguyên chữ  
truyền/ truyện kỳ trong Hán ngữ là để chỉ những gì khác lạ, phi phàm.  
Chúng được người đời truyền tụng, lưu hành trong các điều kiện  
không - thời gian khác nhau. Chữ “truyện” ban đầu cũng có nghĩa là  
một lối ghi chép nhân vật, sự kiện (sử truyện), về sau được hiểu là  
một thể loại văn học.  
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu kiểu loại văn học này,  
các học giả đã đưa ra nhiều cách hiểu. Điểm qua một cách sơ bộ các  
luận điểm của giới chuyên môn, cả trong nước lẫn nước ngoài, có thể  
nói rằng, khái niệm “truyện truyền kỳ” không đơn giản là từ dùng để  
chỉ/ gắn với một thể loại văn học. Khái niệm này có nhiều nghĩa khác  
nhau. Xét theo nghĩa khái quát, truyện truyền kỳ là một hiện tượng  
văn hoá, một loại hình văn học. Nếu xét theo nghĩa cụ thể, thì đó là  
một kiểu dạng/ thể loại tác phẩm văn xuôi thời trung đại. Thể loại  
văn học này có những đặc điểm nội dung, hình thức có tính chất khu  
biệt. Ở luận văn này, truyện truyền kỳ là một thể loại đặc biệt của văn  
học dân tộc.  
Tựu trung lại, có thể hiểu truyện truyền kỳ là những tác phẩm  
văn học viết về đất nước, con người Việt Nam. Đó là câu chuyện về  
những điều kỳ lạ, quái đản, khác thường (vốn tồn tại dưới dạng thần  
7
tích, thần phả, giai thoại, truyền thuyết…), được nhào nặn lại theo  
những “quy phạm riêng của thi pháp truyền kỳ”.  
1.1.2. Đặc trƣng loại hình truyện truyền kỳ  
Đặc trưng về nội dung  
Từ khái niệm về truyện truyền kỳ, ta có thể suy ra đặc trưng về  
nội dung của thể loại văn học này. Đó không gì khác ngoài những  
câu chuyện lạ về đất nước, con người Việt Nam trong quá trình lịch  
sử. Những chuyện lạ đó thực chất là những vấn đề văn hoá, những  
thứ liên quan đến chủ đề kỳ nhân và linh địa. Nhóm truyện kỳ nhân là  
những câu chuyện kể về các liệt vị hiền nhân đã góp vào trong quá  
trình dựng nước và giữ nước, hoặc cũng có thể là chuyện về các danh  
nhân, những người có tài lạ… Về bản chất, đó là những chuyện kể về  
các nhân vật siêu việt thuộc các lĩnh vực văn hoá, lịch sử của dân tộc  
ta. Thế giới nhân vật trong nhóm truyện thuộc chủ đề kỳ nhân rất đa  
dạng. Nổi bật là các bậc “thần nhân” rồi đến “danh nhân”, và cả “dị  
nhân”, “quái nhân”.  
Bên cạnh kỳ nhân, nội dung lớn thứ hai trong truyện truyền kỳ  
là vấn đề linh địa. Đây là hai nội dung gắn bó với nhau một cách chặt  
chẽ. Bởi vì “địa” chỉ linh khi gắn với con người; địa linh vì nó liên  
quan đến “nhân” chứ nếu “địa” mà thiếu vắng con người thì cũng  
chẳng có ý nghĩa gì. Truyện truyền kỳ về thể tài linh địa, theo quan  
niệm của Nguyễn Phong Nam, là những câu chuyện về “hình sông  
thế núi, những vùng đất thiêng tàng ẩn hạo khí muôn đời; truyện về  
nơi sinh xuất những kỳ nhân, nơi nảy sinh những quái sự; truyện về  
những nơi chốn trở thành biểu tượng văn hoá, chứa các dấu tích dật  
sử, phong tục….”  
Về nghệ thuật  
Nói đến nghệ thuật truyện truyền kỳ, điều đáng kể hơn cả đó  
8
chính là cách xử lý mối quan hệ giữa hai yếu tố kỳ và thực trong tác  
phẩm. Kỳ ở đây có nghĩa là kỳ lạ, kỳ ảo. Yếu tố kỳ ảo được sử dụng  
rộng rãi trong nhiều tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại. Nói như  
Nguyễn Huệ Chi, “yếu tố kỳ ảo đã đóng một vai trò quan trọng trong  
việc tổ chức cũng như tạo cho tác phẩm cái vẻ riêng, hấp dẫn, có một  
sức mê hoặc kỳ lạ”. Cái kỳ trong thể loại truyền kỳ có vai trò như một  
phương pháp, một thủ pháp nghệ thuật: “Trong truyện truyền kỳ các  
tác giả sử dụng yếu tố kỳ không chỉ với chức năng vỏ bọc che giấu  
dụng ý sâu xa của nhà văn mà còn với tư cách một bút pháp nghệ  
thuật mang tính đặc trưng của thể loại… Bút pháp kỳ ảo còn cho  
phép nhà văn khám phá tâm hồn nhân vật ở một thế giới mà nó lạc  
vào, với một hoàn cảnh và những thử thách mới. Cũng ở trong thế  
giới đó, nhà văn thể hiện được lý tưởng của mình về lẽ công bằng xã  
hội, nơi cái ác bị trừng trị, cái thiện cuối cùng đã chiến thắng - điều  
mà họ không thể đạt được trong cuộc sống thực tại” (Lã Nhâm Thìn,  
2011, Giáo trình văn học trung đại Việt Nam). Các nhà văn trung đại  
đã sử dụng yếu tố kỳ như một thủ pháp nghệ thuật mang tính chủ đạo,  
kết hợp với yếu tố thực một cách nhuần nhuyễn để tạo nên những  
truyện truyền kỳ có nhiều ý nghĩa.  
1.2. PHƢƠNG THỨC HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT  
TRIỂN TRUYỆN TRUYỀN KỲ  
1.2.1. Phƣơng thức “tân biên” và hƣ cấu trong truyện  
truyền kỳ  
Có thể nói con đường hình thành truyện truyền kỳ khá phức  
tạp. Ở giai đoạn đầu, nó thường gắn với những yếu tố “tiền thân”  
gồm các tích truyện, giai thoại, truyền thuyết thuộc đời sống văn hoá  
- tín ngưỡng bản địa hoặc các môtip, giai thoại, tích truyện văn học  
nước ngoài. Các văn nhân, nho sĩ sẽ ký chép, nhuận sắc, gia công để  
9
có những truyện truyền kỳ. Càng về sau, sự hình thành theo phương  
thức hư cấu càng rõ, nó được sáng tạo hoàn toàn mới dưới dạng một  
truyện ký, một tiểu phẩm… xuất phát từ hạt nhân là những yếu tố  
“kỳ”, “linh”, “dị”. Phương thức hình thành truyện truyền kỳ phần nào  
phản ánh quá trình phát triển của loại hình văn học này và dĩ nhiên,  
nó sẽ chi phối sự hình thành những yếu tố nghệ thuật cấu thành nên  
tác phẩm mà cụ thể là các môtip được các tác giả truyền kỳ sử dụng  
trong tác phẩm của mình.  
1.2.2. Quá trình phát triển của truyện truyền kỳ  
* Giai đoạn thứ nhất: : Cho đến nay, dựa vào các cứ liệu hiện  
có, có thể thấy những tác phẩm truyền kỳ được sáng tác sớm nhất  
(Thiền uyển tập anh ngữ lục, Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích  
quái lục, Nam ông mộng lục) xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII. Ban  
đầu, các tác giả truyền kỳ dựa vào truyền thuyết và truyện dân gian  
để làm truyện. Nhìn một cách bao quát, nội dung xuyên suốt toàn bộ  
truyện văn xuôi nói chung, truyện truyền kỳ nói riêng chặng đầu này  
là “vấn đề dân tộc và vấn đề yêu nước”.  
* Giai đoạn thứ hai của quá trình phát triển truyện truyền kỳ  
được tính từ khoảng thế kỷ XVI, XVII trở về sau. Đặc điểm của  
truyện truyền kỳ giai đoạn này là nhà văn lấy văn học dân gian làm  
nền tảng để sáng tạo, ít lệ thuộc vào tích truyện cổ. Đây được xem là  
bước phát triển mạnh mẽ của loại hình văn học này. Có thể tìm thấy  
điều này qua tác phẩm của Thánh Tông, Nguyễn Dữ, cho đến  
Nguyễn Hàng…. Cũng giống như giai đoạn đầu tiên, vấn đề dân tộc  
là vấn đề quán xuyến trong suốt hành trình văn học truyền kỳ ở giai  
đoạn thứ hai này. Tuy nhiên với Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn  
lục, Truyền kỳ tân phả, Tân truyền kỳ lục, Lan trì kiến văn  
lục,…truyện truyền kỳ Việt Nam đã có những nét mới trong nội dung  
10  
biểu hiện của mình. Các tác giả truyền kỳ ở giai đoạn sau đã lấy con  
người làm đối tượng, làm trung tâm phản ánh. Họ một mặt, khẳng  
định vị trí và giá trị con người, mặt khác, phản ánh số phận bi thương  
của những con người bị áp bức trong xã hội có áp bức bất công.  
Với sự xuất hiện của hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và  
Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), quá trình phát triển của truyện  
truyền kỳ đã tiến thêm một bước dài. Các tác giả đã dựa vào các môtip  
dân gian, hoặc trên cơ sở gợi ý của môtip dân gian để xây dựng nên một  
thế giới nhân vật mới, những câu chuyện mới. Nhờ đó, nhiều vấn đề xã  
hội phức tạp của xã hội đương thời đã được đưa vào tác phẩm. Tác giả  
cũng biểu lộ thái độ, cảm xúc của mình trước thời đại một cách trực tiếp  
hơn. Đây chính là bước phát triển mới về chất của truyện truyền kỳ.  
* Giai đoạn thứ ba của quá trình phát triển truyện truyền kỳ là  
khoảng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Ở giai đoạn này, các  
đề tài chủ yếu ở giai đoạn trước vẫn được tiếp tục trong Truyền kỳ  
tân phả, Lan trì kiến văn lục, Việt Nam kỳ phùng sự lục…Ngoài ra,  
song song với đề tài về người phụ nữ, truyện truyền kỳ Việt Nam,  
trên hành trình phản ánh cuộc sống, còn viết về chủ đề tình yêu đôi  
lứa. Có thể nói, truyện truyền kỳ giai đoạn này còn là bản tình ca về  
sự chiến thắng của tình yêu.  
Truyện truyền kỳ là một hiện tượng văn hóa, văn học rất độc  
đáo, là một dạng ký ức văn hóa, ký ức lịch sử dưới hình thức những câu  
chuyện kỳ quái, linh diệu, được nảy sinh nhằm đáp ứng những nhu  
cầu thiết thực của cộng đồng. Đây là những tác phẩm văn xuôi chữ  
Hán viết về lịch sử, đất nước, con người Việt Nam. Đó là câu chuyện  
về những điều kỳ lạ, quái đản, khác thường (vốn tồn tại dưới dạng  
thần tích, thần phả, giai thoại, truyền thuyết…), được nhào nặn lại  
theo những “quy phạm riêng của thi pháp truyền kỳ”.  
11  
CHƢƠNG 2  
CÁC DẠNG THỨC CHỦ YẾU CỦA MÔTIP KỲ NGỘ TRONG  
TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM  
2.1. MÔTIP KỲ NGỘ - NÉT ĐẶC SẮC TRONG TRUYỆN  
TRUYỀN KỲ  
2.1.1. Yếu tố kỳ ngộ trong văn xuôi trung đại  
Trong tiếng Việt, “kỳ ngộ” được hiểu là sự gặp gỡ ngẫu nhiên,  
kỳ lạ, khác thường. Từ những cuộc gặp này sẽ mở đầu cho những  
mối quan hệ đặc biệt hoặc dẫn đến những sự kiện khác lạ, khó lường.  
Đối với văn xuôi trung đại nói chung, truyện truyền kỳ nói riêng, kỳ  
ngộ là một trong nhiều yếu tố nghệ thuật được dùng để chuyển tải nội  
dung. Cụ thể hơn, đó là những cuộc gặp gỡ giữa “người bình thường  
với thần tiên, hoặc ma quỷ hiện hình; cũng có khi là sự tiếp xúc giữa  
người với hồn ma, bóng quỷ hoặc những gì thuộc về cõi âm…diễn ra  
trong những cảnh huống éo le, đầy kịch tính” [26, tr245]. Các tác giả  
văn xuôi trung đại, nhất là những người sáng tác truyện truyền kỳ đã  
gởi gắm những nghĩ suy, quan niệm và cả những mơ ước của mình  
vào những lần tương phùng, kỳ ngộ. Chính vì thế mà yếu tố kỳ ngộ  
trong văn xuôi truyền thống, nhất là trong loại hình truyện truyền kỳ  
luôn chứa đựng một thông điệp, luôn mang một tinh thần lãng mạn  
và khát vọng nhân văn cao đẹp.  
2.1.2. Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ  
Môtip là thuật ngữ vay mượn tiếng nước ngoài (môtip, motif),  
được sử dụng rất phổ biến ở Việt Nam khá sớm. Trên cơ sở những  
định nghĩa về môtip của các học giả, có thể hiểu môtip kỳ ngộ trong  
truyện truyền kỳ là tình tiết gặp gỡ, tiếp xúc giữa người bình thường  
với thần tiên, ma quỷ vào những hoàn cảnh, điều kiện đặc biệt, mang  
12  
đậm tính kỳ ảo - một đặc trưng của thể loại truyền kỳ. Chính cái kỳ  
của những cuộc gặp gỡ đã mang đến sự hấp dẫn và đa dạng của  
môtip kỳ ngộ. Môtip kỳ ngộ đã giúp các tác giả tạo ra những tác  
phẩm mang ý nghĩa xã hội khác nhau. Nó được vận dụng để triển  
khai cốt truyện, xây dựng nhân vật, tạo ra những cõi không gian biến  
ảo, làm nên một thế giới mê hoặc kỳ lạ của thế giới truyền kỳ.  
2.2. CÁC BIỂU HIỆN CỦA MÔTIP KỲ NGỘ  
2.2.1. Kỳ ngộ thần tiên, dị nhân  
Các nhân vật trong truyện truyền kỳ như Thần - Tiên - Bụt/  
Phật vốn không phải người phàm trần. Họ là những đấng bậc tồn tại  
trong truyền thuyết, huyền thoại và được lưu truyền trong dân gian.  
Đó là Lạc Long Quân, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử (Lĩnh Nam chích  
quái lục); hoặc những vị thần ngự nơi biển sâu, trấn nơi linh địa  
(“Long đình đối tụng lục”, “Tản Viên từ Phán sự lục” - Truyền kỳ  
mạn lục), cũng như các vị thần miếu, thần đền (“Lôi thủ pha”, “Linh  
xà”, “Kỳ mộng” - Lan Trì kiến văn lục).  
Ngoài Thần, Tiên, Bụt/ Phật truyện truyền kỳ còn có rất nhiều  
cuộc kỳ ngộ mà đối tượng là các “dị nhân”, “danh nhân”. Họ là  
những người đặc biệt, có nhiều điểm dị thường, phi thường thuộc về  
thân thể, trí tuệ, hành vi. Kiểu nhân vật danh nhân, dị nhân xuất hiện  
trong môtip kỳ ngộ chính là danh nhân văn hoá, các bậc cao tăng, ẩn  
sỹ, đạo sỹ.  
Qua tất cả những sự kiện, tình tiết diễn ra trong những lần kỳ  
ngộ, chúng tôi nhận thấy trong mối quan hệ giữa con người và các  
đối tượng nhân vật trên, sự việc được diễn biến theo hướng hoà hợp,  
kết cục của những cuộc gặp gỡ đặc biệt này thường có hậu và mang  
đậm tính nhân văn.  
2.2.2. Kỳ ngộ yêu ma, thú linh - vật lạ  
13  
Ở môtip kỳ ngộ yêu nhân, ma quỷ, sự việc thường diễn biến  
theo hướng khá ổn định. Theo đó, lúc ban đầu con người gặp những  
tai vạ do bọn yêu nhân, ma quỷ gây ra. Nhưng về sau, nhờ thế lực  
siêu nhiên (thần, tiên, đạo nhân) giúp đỡ, hoặc do chính “đức năng  
thắng số”, con người thoát được tai ương. Tai vạ mà bọn yêu nhân  
ma quỷ gieo rắc cho con người thường hướng đến hai điều. Đó là:  
làm phương hại tính mạng và huỷ hoại nhân cách. Người vợ trong  
“Thử tinh truyện” vừa bị ma quỷ lợi dụng để hút hết sinh khí, thoả  
mãn dục vọng, vừa làm hại đến thanh danh của một người làm vợ,  
làm dâu. Con ma trong “Thụ yêu” thì muốn làm hại uy tín của người học  
trò cương nghị.  
Trong nhóm truyện kỳ ngộ thú linh, vật lạ, diễn biến sự việc  
luôn theo hướng tương trợ cho con người. Đặc biệt, trong môtip kỳ  
ngộ thú linh, ở nhiều truyện kể về loài hổ rất thú vị, loài thú này lại  
trở nên hào hiệp, nhân nghĩa khác thường.  
2.2.3. Kỳ ngộ tiên nữ, ma nƣơng  
Ở dạng thức kỳ ngộ này, con người gặp tiên nhân, ma nữ và  
tuyệt đại đa số là kết chuyện lứa đôi. Dạng thức kỳ ngộ tiên nữ, ma  
nương dẫn đến hai hướng khác nhau là kỳ diệu và kỳ quái. Gặp tiên  
nữ thuộc kiểu kỳ duyên, kỳ diệu. Tựu trung lại, có thể khái quát diễn  
biến của kiểu dạng kỳ ngộ tiên nữ như sau: người trần kỳ ngộ tiên nữ,  
bước vào cuộc yêu đương, được kết duyên, được sống cuộc sống  
hạnh phúc ấm êm, được hưởng niềm vui của những con người trên  
dương thế, người trần được trợ giúp trong đường công danh hoặc  
trong cuộc sống. Về sau, tấm thân nhẹ nhàng chứ không chịu cảnh  
đau thương, đáng sợ.  
Dạng thức người gặp ma nữ thuộc về tình duyên kỳ quái. Kiểu  
dạng kỳ ngộ ma nữ thường diễn biến theo cách thức sau: Người gặp  
14  
ma nữ - bị ma dụ dỗ, mê hoặc - người và ma gắn bó trong cuộc yêu  
đương nồng thắm - người bị ma ám cho đến chết; ma bị tiêu trừ  
(nhưng người cũng không còn sống).  
Trong truyện truyền kỳ, môtip kỳ ngộ là một thủ pháp nghệ  
thuật được dùng rất phổ biến. Đó là những cuộc gặp gỡ giữa con  
người với thần tiên, hoặc ma quỷ được diễn ra trong những cảnh  
huống khác lạ, đầy kịch tính. Những cuộc gặp gỡ kỳ lạ này đã kết  
tinh thành mẫu hình, thành công thức được xuất hiện trong quá trình  
phát triển của văn học. Môtip kỳ ngộ là những đơn vị có tính ổn định,  
bền vững, thường xuyên lặp lại. Tính bền vững của môtip không chỉ  
được thể hiện ở mặt hình thức mà cả ở ý nghĩa biểu đạt.  
Biểu hiện của môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam  
rất đa dạng. Đó có thể là tình tiết gặp gỡ, tiếp xúc giữa người bình  
thường với các bậc thần thánh, tiên Phật, cũng có thể là sự kết giao,  
tiếp xúc giữa người với ma qủy, yêu tinh, thú linh, vật lạ. Ý nghĩa các  
nhóm môtip kỳ ngộ cũng rất khác nhau. Những cuộc gặp gỡ giữa thế  
giới thần nhân, tiên nhân, danh nhân với người phàm là những câu  
chuyện “anh linh”, “nhân kiệt”, nhằm đề cao lòng tự hào, tự tôn dân  
tộc. Vì vậy, đó là cuộc gặp gỡ với những tên tuổi đã trở nên bất tử, là  
tiếp xúc với những giá trị văn hoá tốt đẹp, góp phần hình thành nền  
văn hiến Việt. Môtip kỳ ngộ thú linh, vật lạ một mặt phản ánh khát  
vọng về sự běnh an trong đời sống của con người, đồng thời thể hiện  
một quan niệm, nhận thức của người xưa về thế giới. Môtip duyên kỳ  
ngộ với những mối tình lãng mạn giữa người thường với tiên nữ chứa  
đựng một khát vọng vượt thoát và một triết lý sống; môtip kỳ ngộ ma  
nữ, yêu nữ lại chứa đựng những đúc kết, những bài học có tính chất  
giáo huấn sâu sắc. Nhìn chung các môtip này được các tác giả truyền  
kỳ sử dụng nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình. Chính cái kỳ của  
15  
những cuộc gặp gỡ đã mang đến sự hấp dẫn và đa dạng của các câu  
chuyện, tạo nên một thế giới mê hoặc kỳ lạ của truyện truyền kỳ.  
16  
CHƢƠNG 3  
VAI TRÒ CỦA MÔTIP KỲ NGỘ  
TRONG TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM  
3.1. MÔTIP KỲ NGỘ THỂ HIỆN TƢ TƢỞNG NGHỆ THUẬT  
3.1.1. Môtip kỳ ngộ với việc ngôn chí, ngôn hoài của kẻ sĩ  
Dùng môtip kỳ ngộ, tác giả đã bày tỏ những suy tư, nhận thức  
của mình trước cuộc thế theo một phương cách đặc thù của loại hình.  
Nói cách khác, đây là một kiểu “ngôn chí” (bộc lộ chí hướng), “ngôn  
hoài” (giãi bày nỗi ưu tư của mình trước hiện thực cuộc đời) của các  
nhà Nho thời trung đại. Trong Truyền kỳ tân phả, khi nho sĩ họ Hà gặp  
liệt nữ Đinh phu nhân, chàng đã được nghe phu nhân giảng giải đạo lý.  
Thực chất đây là lời tỏ bày “chí” của tác giả: "vì rằng lòng mình có ngay  
ngắn thì mới cảm hoá được người ta, chính thân mình có tu dưỡng thì mới  
tề chỉnh được trong nhà” (Đoàn Thị Điểm, 2013, tr.89). Không chỉ giữ  
mình trước bạc tiền, kẻ sĩ còn phải giữ mình trước một điều không mấy ai  
làm được: sự quyến rũ của sắc dục. Chí của kẻ sĩ còn hướng đến con  
đường khoa cử, vì thế, trong những cuộc duyên kỳ ngộ, nam nhân  
luôn có được vợ (là tiên nữ) trợ giúp để được hanh thông trên con  
đường hoạn lộ.  
Bằng cách sử dụng môtip kỳ ngộ, các tác giả truyền kỳ còn hé  
mở nỗi ưu thời mẫn thế của mình một cách kín đáo. Đó là nỗi lo lắng  
về nỗi “cương thường điên đảo”, “tốt xấu lẫn lộn” mà các tác giả đã nêu  
trong Thánh Tông di thảo. Nỗi quan hoài trước thời cuộc càng đau đáu  
hơn khi thực trạng nơi trần thế càng được phơi bày. Những cuộc kỳ ngộ  
trong các truyện của Nguyễn Dữ đã dựng lại bức tranh hiện thực đảo điên  
khiến kẻ sĩ “trông thấy mà đau đớn lòng”.  
17  
3.1.2. Những ƣớc vọng nhân sinh qua môtip kỳ ngộ  
Điều đầu tiên, môtip kỳ ngộ giúp con người hướng đến các  
chiều kích của thế giới tâm linh, tôn giáo. Ở các cuộc kỳ ngộ thần  
nhân, tiên nhân, con người được sống trong miền miên viễn của Tiên,  
Phật, Thánh, Thần. Bước vào thế giới tâm linh, con người được  
chứng kiến và được lí giải những quy luật khó nắm bắt ở cõi trần, đó là  
quy luật hiển linh, báo ứng, nhân quả, luân hồi.  
Mượn môtip kỳ ngộ, con người còn mơ đến một thế giới khác  
vì muốn thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống nơi trần tục. Những  
cuộc gặp gỡ với thần nhân, tiên nhân hay kể cả ma quỷ nơi tiên cảnh  
hoặc dưới âm ty chẳng phải là mơ ước được khám phá một thế giới  
khác đó sao? Bằng duyên gặp gỡ, họ muốn được tạo ra khả năng biến  
đổi số phận của mình và khả năng vượt qua thử thách.  
Thế nhưng, ước mong vượt thoát thông qua môtip kỳ ngộ của  
con người không chỉ dừng ở đấy. Họ còn mong muốn được nhìn  
nhận, được trân trọng, và được sống hết mình trong tình yêu đôi lứa.  
Mong ước này được bộc lộ rất rõ trong thế giới tâm hồn của người  
phụ nữ thông qua môtip kỳ ngộ tiên nữ, ma nương. Lê Thánh Tông,  
Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm đã nói thay tiếng nói của người phụ nữ  
muốn được nhìn nhận, được trân trọng, được yêu đương trong những  
cuộc kỳ ngộ, tương phùng.  
3.2. MÔTIP KỲ NGỘ TRÊN PHƢƠNG DIỆN TỔ CHỨC TÁC  
PHẨM  
3.2.1. Vai trò của môtip kỳ ngộ trong việc xây dựng cốt  
truyện  
Với vai trò là hạt nhân, môtip kỳ ngộ làm xuất hiện những cốt  
truyện mới theo những hướng và nội dung khác nhau. Môtip kỳ ngộ  
có khi được sử dụng để nói về tình yêu, có khi nói về niềm mơ ước  
18  
thầm kín của con người, lại có lúc nó được sử dụng để tạo sự huyễn  
hoặc nào đó, cũng có thể ngầm gởi một nỗi quan hoài nhân thế.  
Trong những câu chuyện kỳ ngộ kỳ duyên (tức kiểu dạng kỳ ngộ tiên  
nữ, ma nương), tính chất linh hoạt của môtip kỳ ngộ càng bộc lộ rõ.  
Cùng sử dụng môtip kỳ ngộ, nhưng nội dung mỗi truyện không giống  
nhau. Cách kể không sáo mòn, ngược lại, còn hấp dẫn, sống động.  
Vai trò nổi bật khác của môtip kỳ ngộ đối với việc xây dựng  
cốt truyện trong truyện truyền kỳ chính là dẫn dắt, kết nối. Với vai  
trò dẫn dắt, môtip kỳ ngộ nối những sự kiện trước và tạo ra nguyên  
nhân xảy ra các sự kiện sau. Nó giống như chiếc cầu, nối liền sự kiện  
với sự kiện để tạo điều kiện cho những biến cố, tình huống xảy đến  
trong cuộc đời của các nhân vật. Trong đó, có khi kỳ ngộ dẫn đến kết  
truyện; có khi kỳ ngộ để dẫn đến sự kiện chính; lại có những cuộc kỳ  
ngộ nhằm tạo sự logic trong các tình tiết kỳ ngộ.  
3.3.2. Vai trò của môtip kỳ ngộ đối với việc xây dựng nhân  
vật  
Để xây dựng một cuộc kỳ ngộ, hai đối tượng trong lần gặp  
phải có một "mã" nhất định. Tương hợp cái "mã" đó, cuộc kỳ ngộ  
mới được diễn ra và mới tạo được những biến cố trong cuộc đời nhân  
vật. Ở kiểu dạng kỳ ngộ thần nhân, tiên nhân, dị nhân, danh nhân, ta  
thấy các nhân vật người phàm xuất hiện trong các cuộc kỳ ngộ với  
Thần, Thánh, Tiên, Phật là vua chúa, quan lại và nho sĩ. Đấy là  
những người có tư chất thông minh, không học vấn uyên thâm thì chí  
ít cũng phải nhân từ, đức độ.  
Ở các cuộc gặp tiên nữ, ma nữ, tức là kỳ ngộ trong tình yêu, sẽ  
dẫn đến việc xây dựng nhân vật hầu hết là tài tử giai nhân. Nhân vật  
nam nhân, dù là quan lại hay nho sinh, thương lái, đều có chung một  
điểm, đó là họ mang cốt cách của kẻ đa tình và rất si tình. Còn các  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 16420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Môtip kỳ ngộ trong truyện truyền kỳ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_motip_ky_ngo_trong_truyen_truyen_ky_viet_na.pdf