Luận văn Cải thiện hiệu suất mạng VLC bằng phương pháp lập lịch tối ưu tài nguyên

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
---------------------------------------  
Hoàng Văn Hà  
CẢI THIỆN HIỆU SUẤT MẠNG VLC BẰNG PHƯƠNG PHÁP  
LẬP LỊCH TỐI ƯU TÀI NGUYÊN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT VIỄN THÔNG  
(Theo định hướng ứng dụng)  
HÀ NỘI - 2020  
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
---------------------------------------  
Hoàng Văn Hà  
CẢI THIỆN HIỆU SUẤT MẠNG VLC BẰNG PHƯƠNG PHÁP  
LẬP LỊCH TỐI ƯU TÀI NGUYÊN  
Chuyên ngành : Kỹ thuật Viễn thông  
Mã số  
:
8.52.02.08  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT  
(Theo định hướng ứng dụng)  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. VŨ TUẤN LÂM  
HÀ NỘI – 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự  
hướng dẫn của TS. Vũ Tuấn Lâm. Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được  
trích dẫn nguồn gốc rõ ràng. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là  
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào.  
TÁC GIẢ  
Hoàng Văn Hà  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Cải thiện hiệu suất mạng VLC bằng  
phương pháp lập lịch tối ưu tài nguyên”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo  
Khoa Đào tạo sau Đại học, thầy cô giáo Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông  
cùng các bạn và các anh chị trong khoa.  
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cùng các cán bộ Khoa Đào tạo sau Đại học  
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã quản lý và tổ chức hiệu quả và chất  
lượng giúp tôi yên tâm trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.  
Xin chân thành cảm ơn đến thầy giáo TS. Vũ Tuấn Lâm người trực tiếp  
hướng dẫn và giúp đỡ tôi nghiên cứu đề tài.  
Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng lớp và các anh chị trong khoa đã hỗ trợ  
và góp ý để tôi hoàn thành tốt luận văn này.  
Tuy rằng luận văn còn nhiều thiếu sót và hạn chế nhưng rất mong nhận được  
sự góp ý và nhận xét từ các thầy cô.  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
vi  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
 
vii  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
AP (Access Point)  
Điểm truy cập  
CCI (Co-channel Interference)  
FIFO (First in First Out)  
Nhiễu đồng kênh  
Vào trước ra trước  
FOV (Field of View)  
Góc nhìn  
HCPP (Hard-core Point Process)  
ICI (Inter-Cell Interference)  
Quá trình điểm Hard-core  
Nhiễu liên cell  
IDFT (Inverse Discrete Fourier Transform)  
Biển đổi ngược Fourier rời rạc  
IM/DD (Intensity Modulation / Direct  
Detection)  
Điều chế cường độ, tách sóng trực tiếp  
ISI (Inter-symbol Interference)  
LED (Light Emitting Diode)  
Nhiễu xuyên ký tự  
Diode phát quang  
LOS (Line of Sight)  
Ánh sáng trực tiếp  
Ánh sáng phản xạ  
NLOS (Non-Line of Sight)  
OFDM (Orthogonal Frequency Division Ghép kênh phân chia theo tần số trực  
Multiplexing)  
giao  
OFDMA (Orthogonal Frequency-Division  
Multiple Access)  
Đa truy cập phân chia theo tần số trực giao  
PD (Photo Detector)  
Bộ chuyển đổi tín hiệu quang điện  
PPP (Poisson Point Process)  
QoS (Quality of Service)  
RF (Radio Frequency)  
Quá trình điểm Poisson  
Chất lượng dịch vụ  
Tần số vô tuyến  
 
viii  
RSS (Received Signal Strength)  
RU (Resource Unit)  
Độ mạnh tín hiệu nhận được  
Đơn vị tài nguyên  
SDMA (Space Division Multiple Access)  
Đa truy cập phân chia theo không gian  
SINR (Signal to Interference Plus Noise  
Ratio)  
Tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu  
TC (Transmission Cluster)  
UE (User Equipment)  
Cụm truyền dẫn  
Thiết bị người dùng  
VLC (Visible Light Communication)  
Mạng truyền thông ánh sáng nhìn thấy  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
Sự thiếu hụt tài nguyên cho dịch vụ mạng không dây ngày nay đưa đến xu  
hướng di chuyển dải tần số để truyền không dây đến tần số cao hơn trong phổ tần số  
vô tuyến (Radio Frequency). Băng thông phổ ánh sáng khả kiến (Visual Light) rộng  
hơn 1000 lần so với toàn bộ phổ tần 300 GHz RF đã và đang chứng tỏ là một  
phương án khả thi trong truyền thông băng rộng. Truyền thông ánh sáng nhìn thấy  
(VLC: Visual light Communication) cho phép cơ sở hạ tầng chiếu sáng hiện tại  
cung cấp không chỉ chiếu sáng mà còn cả giao tiếp không dây.  
Yêu cầu cơ bản của hệ thống VLC là cung cấp truyền dẫn tốc độ cao và độ  
phủ sóng liền mạch. Để đáp ứng yêu cầu này, kiến trúc hệ thống VLC sử dụng trạm  
phát đa chùm sáng đã được đề xuất gần đây. Tuy nhiên, nâng cao hiệu năng hệ  
thống này vẫn đang là vấn để mở đối với các nhà nghiên cứu và triển khai khi số  
lượng các điều kiện ràng buộc tăng lên. Trong đó, vấn đề về nhiễu đồng kênh phụ  
thuộc rất lớn vào ràng buộc không gian cũng như thuật toán phân bổ tài nguyên cho  
người dùng. Vì vậy, đây là một vấn để mở cần nghiên cứu để cải thiện hiệu năng hệ  
thống VLC.  
Các giải pháp giảm nhiễu đồng kênh để nâng cao hiệu suất mạng VLC được  
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và thể hiện qua nhiều phương án kỹ thuật như: Tái  
sử dụng tần số, điều khiển công suất, hiệu chỉnh góc phát chùm sáng hoꢀc kỹ thuật  
lập lịch phân bổ tài nguyên. Trong luận văn này sẽ tiếp cận phương pháp lập lịch tài  
nguyên trên cơ sở thông tin người dùng được thu thập và thống kê để nâng cao hiệu  
suất mạng VLC như tăng thông lượng và giảm trễ truyền thông.  
Phần còn lại của luận án này được tổ chức như sau:  
Chương 1: Tổng quan về công nghệ truyền thông sử dụng ánh sáng nhìn thấy  
Chương 2: Các vấn đề liên quan tới hiệu năng hệ thống  
Chương 3: Nâng cao hiệu năng VLC thông qua kỹ thuật lập lịch  
Cuối cùng, Luận án này tóm tắt công việc của mình với một số nhận xét và  
một số định hướng làm trong tương lai.  
 
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ TRUYỀN  
THÔNG SỬ DỤNG ÁNH SÁNG NHÌN THẤY  
1.1 Quá trình phát triển của công nghệ VLC  
Ánh sáng nhìn thấy được xem như một phương tiện truyền thông bắt đầu từ  
năm 1870, khi Alexander Graham Bell đã chứng minh thành công việc truyền tín  
hiệu âm thanh bằng cách sử dụng một chiếc gương bị rung bởi giọng nói của người.  
Buổi trình diễn thực tế đầu tiên về truyền thông sử dụng ánh sáng nhìn thấy vào  
tháng 6 năm 1880, khi Alexander Graham Bell và trợ lý của ông - Tainter đã thành  
công trong việc truyền tín hiệu qua khoảng cách 213m trong thử nghiệm với  
photophone và nguồn sáng tự nhiên là ánh sáng mꢀt trời [1]. Tuy nhiên, thí nghiệm  
của Alexander Graham Bell đã không suôn sẻ vì sự thô ráp của các thiết bị sử dụng  
và ánh sáng mꢀt trời là không liên tục bởi sự thay đổi của môi trường.  
Trong những năm 1990, đã chứng kiến sự ra đời của đèn LED với độ chiếu  
sáng cao giúp mục đích chiếu sáng thông thường [2]. Chỉ trong vòng vài năm, hiệu  
quả của ánh sáng đèn LED đã được cải thiện nhanh chóng, từ ít hơn 0.1 lm/W cho  
đến lên trên 230 lm/W và đồng thời tuổi thọ đèn có thể lên đến 100.000 giờ. Một số  
ưu điểm chính của đèn LED như: Tuổi thọ dài hơn đáng kể, khả năng chịu ẩm cao  
hơn, không có thủy ngân, kích thước nhỏ hơn và nhỏ gọn, hiệu quả chuyển đổi năng  
lượng cao hơn nhiều (hiện đã có đèn LED trắng với độ sáng cao hơn 200 lm/W),  
giảm đáng kể sự phát nhiệt so với tất cả các nguồn chiếu sáng khác, tiêu thụ điện  
năng thấp hơn, quan trọng nhất là chuyển đổi nhanh. Với những ưu điểm này, đèn  
LED trắng là nguồn sáng lý tưởng cho các ứng dụng trong tương lai (trong nhà và  
ngoài trời) cho mục đích kép đó là chiếu sáng và truyền thông dữ liệu.  
Vào năm 2000, các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Keio, Nhật Bản đã đề  
xuất sử dụng đèn LED trắng để xây dựng một mạng truy cập không dây trong nhà.  
Điều này đã thúc đẩy việc nghiên cứu (đꢀc biệt là ở Nhật Bản) để xây dựng hệ  
thống truyền thông dữ liệu tốc độ cao thông qua việc sử dụng ánh sáng nhìn thấy.  
Điều này đã dẫn tới việc thành lập hiệp hội truyền thông ánh sáng nhìn thấy  
(VLCC) tại Nhật Bản vào tháng 11 năm 2003 [3]. Năm 2004, tại Nhật Bản đã trình  
   
3
diễn một hệ thống sử dụng đèn LED để truyền dữ liệu tốc độ cao đến các thiết bị  
máy tính cầm tay và phương tiện xe. Năm 2007, hiệp hội VLCC của Nhật Bản đã  
đề xuất hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn hệ thống truyền thông sử dụng ánh sáng nhìn thấy  
và tiêu chuẩn hệ thống ID ánh sáng nhìn thấy, và JEITA đã chấp nhận các tiêu  
chuẩn này như JEITA CP-1221 và JEITA CP-1222. Năm 2008, trình diễn hệ thống  
VLC sử dụng đèn LED trắng có thể đạt tốc độ dữ liệu lớn hớn 100 Mbps trên các  
khoảng cách dài hơn vài mét và sử dụng đường truyền thẳng (LOS). Hiệp hội  
VLCC cũng kết hợp và điều chỉnh lớp vật lý với truyền thông sử dụng hồng ngoại  
do Hiệp hội Dữ liệu hồng ngoại Quốc tế (IrDA) đề xuất trong năm 2009. Song song  
với đó, dự án GIS Gigabit (OMEGA) do Liên minh Châu Âu tài trợ cũng phát triển  
truyền thông quang học như một cách để gia tăng mạng lưới truyền thông RF. Vào  
năm 2014, hiệp hội VLCA (Hiệp hội Truyền thông ánh sáng nhìn thấy) được thành  
lập như một kế nhiệm của hiệp hội VLCC tại Nhật Bản, để chuẩn hóa công nghệ  
VLC.  
Trong năm 2011, tiêu chuẩn IEEE về truyền thông sử dụng ánh sáng nhìn  
thấy đã được đề xuất dưới dạng IEEE 802.15.7 bao gồm lớp liên kết dữ liệu và các  
đꢀc điểm thiết kế của lớp vật lý [3-4]. Năm 2013, giáo sư Harald Haas đã thực  
hiện truyền dữ liệu với tốc độ lên đến 1.6 Gbps thông qua đèn LED đơn sắc  
[5]. Trong vài năm gần đây, dung lượng kết nối VLC đạt được đã vượt qua 1 Gbps,  
và các nỗ lực nghiên cứu đang ngày càng tăng lên và đang hướng tới việc nhận ra  
tiềm năng đầy đủ của công nghệ VLC này.  
1.2 Các đặc trưng kỹ thuật của công nghệ VLC  
1.2.1 Đèn LED trắng  
Trong một hệ thống truyền thông quang, nguồn sáng được sử dụng phải đạt  
được sự ổn định về bước sóng, độ rộng vạch phủ và tuổi thọ, trong nhưng năm gần  
đây đèn LED phát triển rất mạnh mẽ đã đáp ứng được nhu cầu phát sáng và đáp ứng  
được các điều kiện kể trên. LED (Light Emitting Diode – diode phát quang) là linh  
kiện bán dẫn chuyển đổi tín hiệu điện thành ánh sáng hoꢀc tia hồng ngoại. Với sự  
phát triển nhanh chóng của công nghệ LED, cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn sáng LED  
   
4
càng trở nên phổ biến. LED trắng được sử dụng làm nguồn phát tín hiệu quang để  
truyền dữ liệu trong công nghệ truyền thông ánh sáng nhìn thấy.  
Một số ưu điểm của đèn LED trắng như sau [2][3][4]:  
Hiệu suất phát sáng cao: Theo lý thuyết, hiệu quả của đèn LED trắng có thể  
đạt tới 425 lm/W. Tuy nhiên, sử dụng thực tế cho thấy hiệu quả của chúng đạt  
đỉnh ở 260 lm/W, cao hơn so với đèn sợi đốt và đèn huỳnh quang truyền thống,  
tương ứng là 52 lm/W và 90 lm/W.  
Tuổi thọ cao: Đèn LED trắng dự kiến sẽ có tuổi thọ sử dụng trong khoảng  
60.000 giờ so với 1.200 và 10.000 giờ của bóng đèn sợi đốt và đèn huỳnh quang  
tương ứng.  
Tiêu thụ ít điện năng: Điểm cộng lớn của đèn LED trắng là chúng tiêu thụ  
một lượng năng lượng thấp hơn nhiều so với các loại đèn hiện có. Công suất tiêu  
thụ của đèn LED trắng là khoảng 6W, chỉ bằng 10% và 40% của bóng đèn sợi  
đốt và đèn huỳnh quang.  
Kích thước nhỏ gọn: Kích thước của đèn LED trắng đạt đến ngay cả dưới 2  
.
Chuyển đổi nhanh: Một trong những đꢀc tính đꢀc biệt của đèn LED là khả  
năng chuyển đổi ở tốc độ siêu cao, có thể là hàng nghìn lần mỗi giây.  
An toàn với cơ thể con người và thân thiên với môi trường: Đèn LED không  
phát tia cực tím và bao gồm thủy ngân, vì vậy chúng có thể an toàn cho mắt  
người.  
Dễ dàng điều chỉnh độ sáng của đèn LED: Có thể dễ dàng điều chỉnh độ  
chiếu sáng của đèn LED bằng phương pháp điều chỉnh độ rộng xung hoꢀc  
cường độ dòng điện qua đèn LED.  
Một số nhược điểm của đèn LED trắng như sau:  
Giá thành còn tương đối cao: Giá thành hiện tại của đèn LED vẫn còn cao  
hơn hầu hết các công nghệ chiếu sáng thông thường (sợi đốt và đèn huỳnh  
quang) khi xem xét trên cùng chi phí về cường độ chiếu sáng.  
5
Phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường: Một điểm yếu lớn khác của đèn LED là  
chúng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường xung quanh.  
Góc bức xạ: Đèn LED hiện tại không thể cung cấp được chùm sáng hẹp  
khoảng một vài độ. Trong khi đó, laser có thể phát ra các chùm tia với góc bức  
xạ 0.2 độ.  
Độ nhạy điện áp: Để hoạt động ở hiệu suất cao, đèn LED cần phải được cung  
cấp điện áp phù hợp và luôn có một mức ngưỡng đáp ứng nhất định.  
Giảm hiệu quả: Hiệu quả phát sáng của đèn LED sẽ giảm khi dòng điện tăng  
trên 10 mA.  
Các chủng loại LED trắng:  
Có hai loại đèn LED có sẵn trên thị trường: Đèn LED màu đơn (ví dụ: đèn đỏ,  
xanh lá cây và xanh lam) và đèn LED trắng. Bằng cách sử dụng các vật liệu khác  
nhau, có hai cách để tạo ra ánh sáng trắng bằng cách sử dụng đèn LED.  
RGB LEDs: Ánh sáng trắng được tạo ra một cách đơn giản khi trộn ba màu cơ  
bản (đỏ, xanh lá cây, xanh nước biển) như thể hiện trên hình 1.1. Các đèn LED  
được thiết kế theo cách này thường được gọi là RGB LEDs. Đèn LED RGB có các  
đꢀc tính nổi bật như tính linh hoạt của việc trộn các màu khác nhau, bên cạnh đó nó  
có hiệu suất phát sáng cao hơn 90 lm/W khi so sánh với đèn LED đơn phủ màu phốt  
phát. Công nghệ VLC khi sử dụng RGB LEDs có thể cung cấp khả năng ghép kênh  
phân chia theo bước sóng WDM (ở đây là bước sóng ánh sáng).  
Ánh sáng trắng  
LED xanh  
da trời  
LED xanh  
lá cây  
LED đỏ  
Hình 1.1: Cấu tạo của RGB LEDs  
 
6
LED đơn phủ phốt pho (phosphor based LED): Ánh sáng trắng được tạo  
ra bằng cách sử dụng LED màu xanh có phủ lớp phốt pho phát ra màu vàng như thể  
hiện trên hình 1.2.  
Ánh sáng trắng  
LED xanh  
da trời  
Phốt pho  
vàng  
Hình 1.2: Cấu tạo của LED đơn phủ phốt pho  
Loại đèn LED trắng này ít tốn kém hơn so với đèn LED RGB vì tính đơn  
giản ở thiết kế khi chỉ cần một nguồn màu duy nhất. Do đó, phần lớn các đèn LED  
trắng trên thị trường sản xuất bằng phương pháp này. Tuy nhiên, đèn LED đơn phủ  
phốt pho có nhược điểm là hiệu quả phát sáng thấp khi nó được so sánh với đèn  
LED RGB (∼ 80 lm/W) do các vấn đề suy hao liên quan đến lớp phủ phốt pho. Do  
tính chất của thời gian phân rã dài của phosphor, băng thông điều chế của phát xạ  
trắng giới hạn đến ∼ 2 MHz. Tuy nhiên, thành phần màu xanh có băng thông điều  
chế lớn hơn ∼ 20MHz. Do đó, để tăng tốc độ truyền dữ liệu, băng thông điều chế  
cao, một giải pháp đó là sử dụng bộ lọc màu xanh ở phía bộ thu để chỉ giải điều chế  
ở dải màu xanh trong quang phổ. Hình 1.3 thể hiện quang phổ ánh sáng khi sử dụng  
đèn LED phủ phốt pho.  
0.25  
0.20  
0.15  
0.10  
0.05  
0.00  
400  
450  
500  
550  
600  
650  
700  
Bước sóng (nm)  
Hình 1.3: Quang phꢂ của LED đơn phủ phốt pho  
   
7
1.2.2 Các đặc trưng của công nghệ VLC  
Ánh sáng nhìn  
thấy  
Xanh lá  
cây  
Xanh da  
trời  
Lam  
Tím  
Đỏ  
Da cam  
Vàng  
Hình 1.4: Phꢂ tần số ánh sáng nhìn thấy của VLC  
Ánh sáng nhìn thấy là dạng sóng với bước sóng nằm trong khoảng từ 380nm  
đến 750nm tương ứng với giải tần số từ 430THz đến 790THz như thể hiện ở hình  
1.4. Do đó công nghệ VLC sử dụng ánh sáng nhìn thấy có băng thông không bị hạn  
chế, băng tần có thể đạt 400 THz. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ  
LED, VLC có thể đạt được truyền dẫn tốc độ cao lên tới hàng gigabit. Dưới đây là  
một số đꢀc trưng tiêu biểu của công nghệ VLC [3][5][6]:  
Băng thông: Phổ tần số dùng trong công nghệ truyền thông vô tuyến điện  
RF có giới hạn, nhu cầu sử dụng thì ngày càng tăng do nhu cầu về lượng truy  
cập không dây tăng nhanh chóng theo cấp số nhân. Trong khi đó phổ tần số ánh  
sáng nhìn thấy lớn cấp 10.000 lần so với RF. Công nghê VLC sẽ là giải pháp  
truyền dẫn dữ liệu tốc độ cao với mục tiêu giải quyết sự tắc nghẽn của công  
nghệ RF hiện tại.  
Tính bảo mật: Do sự hạn chế của ánh sáng là không thể đi xuyên qua vật cản  
và chỉ phủ trong một diện tích nhất định, hệ thống VLC có tính bảo mật cao khi  
vùng phủ sóng đã được xác định và bên ngoài khó có thể xâm nhập vào mạng.  
Hiệu quả quang phꢂ cao: Với đꢀc tính vùng phủ hạn chế của LED, với một  
diện tích trong nhà, hệ thống có thể chia thành nhiều các khu vực nhỏ tách biệt  
và sử dụng lại tài nguyên băng tần. Do đó, hiệu quả sử dụng quang phổ của VLC  
cao gấp nhiều lần so với RF.  
   
8
Tính năng kép: Công nghệ VLC vừa đáp ứng nhu cầu chiếu sáng vừa  
truyền dữ liệu tốc độ cao. Công nghệ LED phát triển nhanh chóng, hiệu quả sử  
dụng điện năng của LED cao, từ đó tiết kiệm năng lượng. Các cơ sở hạ tầng  
chiếu sáng LED ngày càng phổ biến, nó là cơ hội cho công nghệ VLC phát triển.  
Không gây nhiễu điện từ: Ánh sáng không ảnh hưởng nhiễu đến sóng điện  
từ và các thiết bị điện tử nhạy cảm, điều này giúp VLC có thể được sử dụng ở  
các môi trường đꢀc biệt như bệnh viện, máy bay, trạm xăng....  
An toàn với con người và thân thiện với môi trường: Như đã trình bày ở  
ưu điểm của LED, công nghệ VLC sử dụng LED là nguồn sáng do vậy nó an  
toàn với cơ thể con người và thân thiện với môi trường.  
Như vậy, công nghệ VLC có rất nhiều ưu điểm so với công nghệ truyền thông  
vô tuyến truyền thống, công nghệ VLC vừa có khả năng chiếu sáng, vừa có khả  
năng truyền thông với băng thông rộng, mức độ bảo mật cao và công suất tiêu thụ  
thấp. Bảng 1.1 thể hiện so sánh đꢀc tính của công nghệ VLC và công nghệ RF.  
Bảng 1.1: So sánh đặc tính của VLC và công nghệ RF [3]  
Đặc tính  
Băng thông  
Truyền thẳng  
Khoảng cách  
VLC  
RF  
Giới hạn  
Không giới hạn (400–700 mm)  
Có  
Không  
Ngắn  
Ngắn đến dài (ngoài trời)  
Bảo mật  
Tiêu chuẩn  
Dịch vụ  
Cao  
Thấp  
Đang hoàn thiện tiêu chuẩn  
IEEE 802.15.7  
Hoàn thiện  
Truyền thông  
Chiếu sáng + Truyền thông  
Ánh sáng mꢀt trời và các  
nguồn sáng xung quanh  
Nguồn nhiễu  
Tất cả các thiết bị điện từ.  
Tiêu hao năng lượng  
Khả năng di động  
Vùng phủ  
Khá thấp  
Giới hạn  
Trung bình  
Tốt  
Hẹp và rộng  
Chủ yếu rộng  
 
9
1.2.3 Các thành phần của VLC  
Một hệ thống VLC có thể dễ dàng thực hiện bằng cách điều chỉnh cường độ  
ánh sáng của đèn LED tại khối phát dữ liệu để đưa tín hiệu điện thành tín hiệu chiếu  
sáng, trong khi đó ở phía thu sử dụng một photodiode (PD) để chuyển đổi từ tín  
hiệu ánh sáng sang tín hiệu điện. Việc điều chỉnh chính xác của cường độ sáng tối  
(chiếu sáng) với bóng đèn truyền thống là rất khó thực hiện bởi sự phản ứng chậm  
về cường độ sáng. Trong khi đèn LED lại rất dễ dàng thực hiện vì sự phản ứng  
nhanh về cường độ sáng của nó. Vì vậy bằng việc điều chế dòng điện qua đèn LED  
ở tần số khá cao, chúng ta có thể thay đổi trạng thái On-Off của đèn LED mà không  
làm thay đổi độ sáng của ánh sáng (mắt người không cảm nhận được). Hình 1.5  
dưới đây thể hiện sơ đồ khối của công nghệ truyền thống quang.  
Khối phát: Trạm phát VLC sử dụng mảng LED làm nguồn phát để truyền  
tải dữ liệu với tốc độ cao có thể đạt đến hàng Gbps. Với mục đích vừa đáp ứng  
chiếu sáng và truyền dữ liệu, LED trắng (LED RGB hoꢀc LED đơn phủ phốt pho)  
được sử dụng làm nguồn phát ánh sáng cho hệ thống VLC. Làm mờ hay điều chỉnh  
độ sáng tối là thách thức đối với bóng đèn sợi đốt và đèn huỳnh quang, trong khi đó  
LED thì khá thuận tiện để kiểm soát chính xác độ mờ. Điều này là do thời gian đáp  
ứng chuyển mạch On-off rất nhỏ (vài chục nano trên giây). Do vậy, trạm phát VLC  
có sử dụng khối điều khiển độ sáng để có thể thay đổi độ sáng tối trong hệ thống tùy  
thuộc vào yêu cầu của người sử dụng. Độ rọi yêu cầu trong một mô hình VLC đꢀc  
trưng phải thuộc trong khoảng 200-1000 lx. Hai khối điều khiển độ sáng và module  
truyền thông phải tách rời nhau không ảnh hưởng đến nhau.  
Khối thu: Thiết bị thu bao gồm một số thành phần: Bộ tập trung quang  
(Optical concentrator), bộ lọc quang (Optical filter), bộ chuyển đổi quang điện  
(Photodiode), bộ khuếch đại (Amplifier). Ánh sáng được tập trung và sau đó được  
thu ở bộ chuyển đổi quang điện, từ đó chuyển đổi thành tín hiệu điện. Bộ tập trung  
quang có chức năng bù lại sự suy hao trong đường truyền. Với bộ lọc quang có  
chức năng lọc những tín hiệu không cần thiết và tín hiệu có đáp ứng chậm. Bộ  
khuếch đại thực hiện khuếch đại tín hiệu để bù đắp lại sự suy hao đường truyền.  
 
10  
Khối phát  
Khối thu  
Dữ liệu  
đầu vào  
Dữ liệu  
đầu ra  
Module  
truyền thống  
Bộ khuếch  
đại  
Bộ chuyển  
đꢂi quang  
điện  
Mạch điều  
khiển  
Điều khiển  
độ sáng  
Bộ lọc  
quang  
LED kiểu  
mảng  
Bộ tập trung  
quang  
Kênh truyền quang h(t)  
Hình 1.5: Sơ đồ khối của Công nghệ truyền thông quang  
Dữ liệu  
đầu vào  
Bộ điều khiển  
trung tâm  
LED  
driver  
LED  
driver  
LED  
driver  
LED  
driver  
    
Bộ nhận  
Bộ quang nhận  
Dữ liệu  
đầu ra  
Hình 1.6: Sơ đồ khối việc điều chỉnh cường độ sáng  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 64 trang yennguyen 20580 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Cải thiện hiệu suất mạng VLC bằng phương pháp lập lịch tối ưu tài nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cai_thien_hieu_suat_mang_vlc_bang_phuong_phap_lap_l.pdf