Luận văn Các điều kiện cần thiết để áp dụng thành công khuôn khổ chi tiêu trung hạn tại thành phố Hồ Chí Minh – Nghiên cứu điển hình ngành Giáo dục
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM PHÚ CƯỜNG
CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP
DỤNG THÀNH CÔNG KHUÔN KHỔ CHI
TIÊU TRUNG HẠN TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH – NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH
NGÀNH GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ HUYỀN
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
- 1 -
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách nhà nước
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư
NSTP : Ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh
MTFF : Khuôn khổ tài chính trung hạn
MTEF : Khuôn khổ chi tiêu trung hạn
MTF&EF: Khuôn khổ tài chính và chi tiêu trung hạn
MTEFs : Khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành
PRSPs : Các chiến lược giảm nghèo
PEM
: Quản lý chi tiêu công
PRSPs : Chiến lược giảm nghèo
ERC
MFF
SEF
: Uỷ ban Đánh giá chi tiêu
: Hoàn thiện đặc trưng tài chính
: Khuôn khổ chi tiêu khu vực
PEMIP : Dự án cải thiện quản lý chi tiêu công
LUGs : Chính quyền địa phương
DBM
: Bộ Tài chính
LUGs : Chính quyền địa phương
PRGFs : Tăng trưởng cơ sở vật chất
HIPC
PRSC : Giảm hỗ trợ tín dụng
IMF : Quỹ Tiền tệ quốc tế
OECD :Tổ chức các nước phát triển
: Khoản nợ của nước nghèo
OBI
: Chỉ số minh bạch ngân sách
- 2 -
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
- 3 -
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Minh giai đoạn năm 2006 - 2010..................................................................... - 51 -
Bàng 2.9: Tổng chi tiêu ngành và cân đối nguồn lực………………………..- 33 -
-
- 4 -
MỤC LỤC
MỞ ĐẨU............................................................................................................... 9
1.1.1 Khái niệm chi tiêu công ............................................................... - 13 -
- 5 -
ngành Giáo dục............................................................................................... - 31 -
ngành (MTEFs)............................................................................................... - 31 -
- 6 -
Chí Minh ........................................................................................................ - 50 -
từ năm 2006 - 2010 ......................................................................................... - 51 -
tỉnh Bình Dương và tỉnh Vĩnh Long............................................................. - 52 -
năm 2006 – 2010 ............................................................................................. - 52 -
trung hạn ngành ............................................................................................. - 55 -
Minh giai đoạn 2006 - 2010............................................................................ - 60 -
- 9 -
MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, để tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam phát
triển bền vững, nhất là khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới (World Trade Organization – WTO) thì công tác cải cách hệ thống tài chính
công là một trong các nhiệm vụ rất quan trọng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội. Thời gian qua, vị thế của Việt Nam ngày một được nâng lên trên trường
quốc tế và đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa
xã hội. Các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trung tâm thương mại, dịch
vụ,… ngày càng tăng về quy mô, số lượng và chất lượng. Đời sống vật chất và
tinh thần của người dân ngày càng tăng lên rõ rệt, Từ đó, cho ta thấy được tình
hình tài chính công, cụ thể là tài chính – ngân sách đã có bước chuyển rõ nét.
Cho đến bây giờ, Việt Nam vẫn là quốc gia có phương thức soạn lập ngân
sách theo kiểu thường niên và còn mang nặng kiểm soát đầu vào, việc quản lý
ngân sách chủ yếu tập trung vào tuân thủ quy trình, thủ tục; mà không chú ý đến
kết quả đầu ra, mục tiêu; chưa đảm bảo thực thi các chính sách của nhà nước theo
hướng có hiệu quả - nhất là trong quản lý chi tiêu công. Cách thực hiện này
không khuyến khích chính phủ và chính quyền địa phương xác định các ưu tiên
chiến lược, thiếu dự báo rõ ràng và đầy đủ các nguồn thu cho các khoản chi, đồng
thời không dự kiến được phần ngân sách dành cho các chính sách – dự án mới.
Với những tồn tại trên, phương thức soạn lập và quản lý chi tiêu công Việt
Nam đang áp dụng, dẫn đến việc chi ngân sách cho các công trình đầu tư cơ sở hạ
tầng kỹ thuật dàn trải có hiệu quả kinh tế - xã hội thấp, chưa thực hiện đúng tiến
độ các dự án quan trọng tạo điểm nhấn tạo đột phá tạo điều kiện phát triển vùng –
miền, gây thất thoát, lãng phí.
Xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua và những yêu cầu
cải cách tài chính công trong thời gian tới. Do đó, tác giả chọn đề tài: “Các điều
kiện cần thiết để áp dụng thành công khuôn khổ chi tiêu trung hạn tại
Thành phố Hồ Chí Minh – Nghiên cứu điển hình ngành Giáo dục” với mong
- 10 -
muốn đóng góp vào công tác quản lý trên lĩnh vực tài chính công ngày càng vững
mạnh và có hiệu quả, tạo tiền đề phát triển bền vững.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật NSNN được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/12/2002 và có hiệu
lực thi hành 01/01/2004, làm cho chất lượng của công tác lập dự toán, thu – chi
NSNN ngày càng được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, việc quản lý tài chính công
bộc lộ những yếu kém như: Lập ngân sách theo hàng năm nên không đánh giá và
phân bổ nguồn lực gắn với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội trong trung hạn
chưa cao; Chưa xác định các thứ tự ưu tiên, dẫn đến sự phân bổ nguồn lực không
tập trung vào các mục tiêu ưu tiên, đầu tư bị lệch lạc; Dự toán ngân sách chưa
thật sự được xây dựng, thống nhất từ các đơn vị sử dụng và đơn vị chủ quản
ngân sách; dự toán thu – chi ngân sách chưa thật sự đảm bảo tính tiên liệu; dự
toán thu chưa bao quát, chưa huy động được hết các nguồn thu trong nền kinh tế;
kế hoạch chi ngân sách chưa có cơ sở vững chắc – không sát thực tế, chi đầu tư
còn dàn trải gây lãng phí; còn tách rời giữa chi đầu tư và chi thường xuyên làm
giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công,.v.v.
Từ thực trạng trên, yêu cầu áp dụng phương thức soạn lập ngân sách trung
hạn, đa niên bổ sung thêm cho việc soạn lập ngân sách theo hàng năm; tạo được
sự liên kết giữa chính sách, kế hoạch và ngân sách; chuyển công tác lập ngân sách
dựa trên kiểm soát yếu tố đầu vào sang kết quả đầu ra; vừa đảm bảo chuẩn mực
chung của quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và là công cụ
quan trọng để nâng cao chất lượng quản lý tài chính công. Dođó, Vi ệt Nam cần
áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn trong tiến trình soạn lập ngân sách và quản
lý chi tiêu công.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nhận thức được yêu cầu trên, tác giả mong muốn đạt được những mục tiêu
sau:
“Các điều kiện cần thiết để áp dụng thành công khuôn khổ chi tiêu trung
hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh – Nghiên cứu điển hình ngành Giáo dục”
- 11 -
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả trình bày phần cơ sở lý luận về chi tiêu
công, khuôn khổ chi tiêu trung hạn và kinh nghiệm thực hiện khuôn khổ chi tiêu
trung hạn ở một số nước. Từ đó, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng
chi ngân sách của Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) giai đoạn 2006 – 2010;
những thành công và trở ngại của tỉnh Bình Dương và Vĩnh Long trong quá trình
thực hiện thí điểm. Sau cùng, tác giả khái quát xu hướng cải cách phương thức
soạn lập ngân sách, những điều kiện cần thiết và các khuyến nghị để áp dụng
thành công khuôn khổ chi tiêu trung hạn tại TP.HCM.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý chi tiêu công, khuôn khổ chi
tiêu trung hạn ở ngành giáo dục của TP.HCM.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định:
- Về không gian: Ngành Giáo dục công lập trên địa bàn TP.HCM.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bằng phương pháp định tính, cùng các phương pháp
hỗ trợ như: Tiếp cận hệ thống, so sánh và phân tích tổng hợp, thống kê mô tả.
Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ yếu dựa vào phương pháp diễn dịch
trừu tượng vấn đề lý luận về chi tiêu công, khuôn khổ chi tiêu trung hạn và s ử
dụng mẫu nghiên cứu tình huống điển hình: ngành Giáo dục trên địa bàn
TP.HCM. Sử dụng phương pháp so sánh gữi a các địa phương (Bình Dương và
Vĩnh Long) ở cùng cấp ngân sách quản lý (ngân sách địa phương) về phạm vi dự
toán, nội dung và kỹ thuật lập chi tiêu trung hạn ngành; để làm rõ những trở ngại
khi soạn lập ngân sách theo cách tiếp cận trung hạn trong điều kiện hiện tại về số
lượng và quy mô của các ngành giữa các địa phương.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Từ nhận thức về quan điểm, thực tiễn về phương thức soạn lập ngân sách
trung hạn đã áp dụng ở các nước OECD cũng như một số nước đang phát triển,
đề tài muốn xem xét khả năng áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn ở Việt Nam
nói chung và ở cấp chính quyền địa phương nói riêng. Nghiên cứu của đề tài
- 12 -
mang ý nghĩa th ực tiễn đối với công tác cải cách tài chính công nói chung, đổi
mới soạn lập ngân sách nói riêng; xây dựng quy trình từ soạn lập đến quản lý, sử
dụng ngân sách mang tính trung hạn và khoa học hơn.
6. Hạn chế của đề tài
Bên cạnh những nội dung về khuôn khổ tài chính và chi tiêu trung hạn, đề
tài tồn tại những hạn chế nhất định: Chưa đưa ra hệ thống đánh giá hiệu quả
chương trình, nhiệm vụ ngành; chỉ tập trung vào ngành Giáo dục, trong khi còn
một số ngành khác như Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Thể dục thể thao, Phát thanh truyền hình khôngđư ợc đề cập và phân tích. Mỗi
ngành có đặc thù riêng và ảnh hưởng đến việc tính toán chi tiêu cơ sở và sáng
kiến mới khác nhau. Do đó, tác giả rất mong được sự đóng góp và phát triển của
quý đọc giả quan tâm đến đề tài trong thời gian tới được hoàn thiện hơn.
7. Kết cấu luận văn
Phần còn lại của nghiên cứu được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Tổng quan khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Chương 2: Thực trạng về phương thức soạn lập ngân sách nhà nước ở
Thành phố Hồ Chí Minh – Nghiên cứu điển hình ngành Giáo dục.
Chương 3: Các khuyến nghị để áp dụng thành công khuôn khổ chi tiêu
trung hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- 13 -
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHUÔN KHỔ CHI TIÊU TRUNG HẠN
1.1 Chi tiêu công và mục tiêu quản lý chi tiêu công
1.1.1 Khái niệm chi tiêu công
Khái niệm chi tiêu công, theo TS.Vũ Th ị Nhài, “là các khoản chi tiêu của
các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, cácđơn v ị sự nghiệp được
kiểm soát và tài trợ của Chính phủ. Ngoài các khoản chi của các quỹ ngoài ngân
sách, về cơ bản chi tiêu công thể hiện các khoản chi của Chính phủ hàng năm
được Quốc hội thông qua”.[4,144]
TS.Sử Đình Thành định nghĩa, “chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các
cấp chính quyền, các đơn vị hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát
và tài trợ bởi chính phủ”.[8,9]
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu khái quát về chi tiêu công, là hoạt động của
Chính phủ và chính quyền các cấp thực hiện nhiệm vụ mua hàng hóa, dịch vụ
nhằm đáp ứng nhu cầu chung của người dân, từ nguồn tài chính của nhà nước;
đồng thời, quá trình hoạt động này được thực hiện theo quy định cụ thể.
1.1.2 Mục tiêu quản lý chi tiêu công
Theo quan điểm của Ngân Hàng Thế giới, mục tiêu trong chiến lược quản
lý chi tiêu công (Public Expenditure Management – PEM) bao gồm ba mục tiêu
cốt lõi sau:
. Một là, tuân thủ kỷ luật tài khóa tổng thể: bao gồm các giới hạn trần về
tài khóa cho từng giai đoạn trung hạn, trong quá trình thực hiện các chính sách tài
khóa; được thiết lập dựa trên cơ sở các dự báo về phát triển kinh tế vĩ mô, dự báo
tài khóa và trần chi ngân sách.
. Hai là, hiệu quả phân bổ nguồn lực: phân bổ nguồn lực cho các ưu tiên
chiến lược. Trong nội dung này, các chính phủ qua các nhiệm kỳ xác định và duy
trì mối liên kết giữa công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội với
phân bổ nguồn lực theo các ưu tiên chiến lược đã đặt ra trong giai đoạn trung hạn.
- 14 -
. Ba là, hiệu quả hoạt động: đạt hiệu quả trong quá trình sử dụng nguồn
lực của xã hội, vì chính sáchđ ạt hiệu quả không chỉ phản ánh kết quả của quá
trình tổ chức hoạt động, mà nó còn mang tính tầm nhìn chiến lược và thể hiện
mối liên kết giữa các hoạt động với các mục tiêu, mục đích của chính sách. Các
phép tính về hiệu suất và hiệu quả phải được giải trình từ Trung ương đến địa
phương và công bố rộng rãi, nhằm hướng đến hiệu quả giám sát của cộng đồng.
1.2 Các phương thức soạn lập ngân sách
Lập ngân sách là một công cụ quan trọng trong quản lý chi tiêu công, đảm
bảo tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực tài chính – có giới hạn, đạt mục
tiêu chiến lược do Chính phủ đề ra. Từ trước đến nay, Chính phủ ở các quốc gia
đã và đang áp d ụng các phương thức soạn lập ngân sách trong quản lý chi tiêu
công như sau:
1.2.1 Lập ngân sách theo hạng mục
Kristensen khái quát, “Lập ngân sách theo đầu vào là hướng về việc xác
định nguồn lực sử dụng bao nhiêu, nhân lực, hoạt động, … cho một chương trình
hay toàn bộ,..”.[5,3]
Lập ngân sách theo hạng mục, TS.Nguyễn Thị Huyền định nghĩa: “là cách
lập ngân sách dựa trên việc phân loại các khoản chi theo hạng mục. Theo đó, nhà
quản lý ngân sách hoặc đơn vị thụ hưởng sẽ dự kiến số lượng các loại đầu vào và
tính toán ra số tiền từng hạng mục chi để đáp ứng hoạt động hay hoàn thành
nhiệm vụ của đơn vị trong một năm ngân sách”.[2,34]
Phương thức soạn lập ngân sách theo hạng mục, có những thuận lợi như
biểu mẫu được sắp xếp, phân loại theo mục nhất định; dễ dàng phát hiện những
điểm chưa hợp lý và dễ kiểm tra. Bên cạnh đó, phương thức này tồn tại những
hạn chế như quá nhiều hạng mục chi tiết – mà chủ yếu là tập trung đầu vào, chưa
chú trọng vào kết quả - hiệu quả của nó có gắn với chương trình, k ế hoạch cần
thực hiện và chấp hành ngân sách một cách cứng nhắc – thiếu tính linh hoạt,
không đáp ứng được thực tế của đơn vị thụ hưởng ngân sách.
Quy trình soạn lập ngân sách theo hạng mục là cách thực hiện truyền thống
nhất trong các phương thức. Cách thức này, chủ yếu tập trung vào hệ thống trách
- 15 -
nhiệm giải trình hướng lên trên – cá nhân hay tổ chức của đơn vị thụ hưởng chú
trọng tới các nguyên tắc, quy định và kiểm soát đưa từ trên xuống, nhấn mạnh sự
tuân thủ các quy định và hướng dẫn trong một hệ thống cấp bậc.
1.2.2 Lập ngân sách theo chương trình
Lập ngân sách theo hạng mục chưa gắn kết được ngân sách với chương
trình, kế hoạch cần thực hiện; vì thế, lập ngân sách theo chương trì nh được chọn
đưa vào áp dụng từ những năm đầu của những năm 60.
TS.Sử Đình Thành định nghĩa: “Lập ngân sách theo chương trình thi ết lập
một hệ thống phân phối nguồn lực, gắn kết chi phí chương trình v ới kết quả của
những chương trình đầu tư công ”. [8,26]
Phương thức lập dự toán theo chương trình mang tính hi ệu quả, tập trung
hơn trong các chương trình m ục tiêu cần thực hiện, trong đó gắn kết chi phí với
kết quả của các chương trình được chọn đầu tư. Hạn chế của phương thức này là
có những kết quả khó lượng hóa bằng con số như tính hữu ích xã hội của công
trình được đầu tư, sự thỏa mãn của người dân khi sử dụng công trình, các biến phí
của chương trình.
1.2.3 Lập ngân sách thực hiện
Khi nền kinh tế phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì yêu cầu thực
tiễn đòi hỏi phải có phương thức lập ngân sách phù hợp, đó là lập ngân sách thực
hiện. Liên Hiệp Quốc cho rằng, ngân sách thực hiện là hiện thân của ngân sách
theo chương trình và nh ấn mạnh đến việc đo lường kết quả thực hiện đối với
những mục tiêu chương trình sau khi đã hoàn thành.
Định nghĩa về ngân sách thực hiện, Liên hiệp quốc cho rằng: “là hiện thân
của những mục đích và mục tiêu mà các quỹ tài trợ đòi hỏi, chi phí của chương
trình được đề nghị để đạt những mục tiêu đó và dữ liệu số lượng nhằm đo lường
công việc thực hiện và mức độ hoàn thành ở mỗi chương trình”. [13,7]
Trong phương thức này, các nguồn lực tài chính được sử dụng linh hoạt và
đạt trách nhiệm giải trình cao gắn với kết quả hoạt động; khối lượng công việc
của đơn vị thụ hưởng ngân sách cần thực hiện với chi phí tương ứng trong năm
ngân sách. Thể hiện mối liên hệ giữa ngân sách và mục tiêu thực hiện, nhưng
- 16 -
chưa đạt được tính hiệu quả cao do nhu cầu thực hiện công việc nhiều, trong khi
ngân sách thì có giới hạn.
1.2.4 Lập ngân sách nhà nước theo đầu ra
Đến giữa những năm 70, phương thức lập ngân sách theo đầu ra được áp
dụng để thay thế cho các phương thức trên chưa đáp ứng được thực tiễn đặt ra
cho nền kinh tế thế giới. Phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra là bước
tiến nhảy vọt của phương thức lập dự toán theo công việc và chương tìrnh đã
được nhiều nước phát triển triển khai vào những năm 80 và áp dụng đại trà vào
những năm 90.
Kristensen cho rằng, “Quản lý và lập ngân sách theo đầu ra mô tả những
chức năng khu vực công trong cung ứng hàng hóa và dịch vụ và tính toán bao
nhiêu dịch vụ đang được cung cấp sản phẩm đang được sản xuất”.[14,5]
Lập ngân sách theo đầu ra là một phương thức soạn lập ngân sách dựa trên
nhu cầu hưởng thụ người dân mà từ đó, xây dựng, lựa chọn hoạt động nhằm tạo
đầu ra tương ứng với nguồn lực cho trước, đảm bảo tính hiệu suất và hiệu quả.
Phương thức lập ngân sách theo đầu ra đòi h ỏi chính phủ phải xác định
nguồn lực, nhu cầu của xã hội, ưu tiên của các chính sách trong từng giai đoạn
trung hạn; đảm bảo tính hiệu suất, hiệu quả, kịp thời và chất lượng.
Điểm nổi bật của phương thức này là cải tiến quy trình thực hiện nhằm đạt
kết quả mà chính phủ đặt ra một cách có hiệu lực và hiệu quả với sự phân bổ
nguồn lực tài chính hợp lý. Đồng thời, lập ngân sách theo đầu ra cũng tồn tại một
số hạn chế như: i) Khó đo lường những sản phẩm đầu ra có tính không đồng nhất.
ii) Tập trung đo lường đầu ra của chính sách, mà không đánh giá tác động của nó
đối với xã hội. iii) Trách nhiệm giải trình không phù hợp vì cả chính phủ và công
chúng đều quan tâm đến kết quả chứ không phải đầu ra của chính sách, dự án. iv)
Đầu ra không phản ánh được mối liên kết giữa các chính sách của chính phủ, địa
phương. v) Do không đánh giá được kết quả, nên khó xác định được chương
trình, hoạt động đã hoàn thành ở mức độ nào.
1.2.5 Lập ngân sách theo kết quả
- 17 -
Từ những hạn chế của các phương thức soạn lập truyền thống, giữa những
năm 90, phương thức lập ngân sách theo kết quả được áp dụng ở nhiều nước trên
thế giới như Úc, Anh, Mỹ,v.v.
Lập ngân sách theo kết quả, theo Kristensen, ông cho rằng “Trong quản lý
và lập ngân sách tập trung vào kết quả, Chính phủ xác định chức năng hoặc
những gì một chương trình cụ thể mang lại là đạt đến lợi ích chung, phúc lợi cộng
đồng hoặc sự an ninh”.[5,6]
Phương thức lập ngân sách này đáp ứng được yêu cầu về hiệu suất và hiệu
quả trong các hoạt động của chính phủ và dịch vụ công cộng đối với công chúng.
Nó đảm bảo được các tiêu chuẩn về chất lượng, mức độ hài lòng của công chúng
và có cơ sở để đánh giá kết quả đạt được với mục tiêu của chính sách.
1.3 Khái niệm và nội dung khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
1.3.1 Khái niệm khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF)
Ngân hàng Thế giới khái niệm về khuôn khổ chi tiêu trung hạn (Medium
Term Expenditure Framework - MTEF): “MTEF bao gồm về tổng nguồn lực
được giới hạn theo con đường từ trên xuống; và việc ước tính chi phí dự toán
năm hiện hành và giai đoạn trung hạn cho chính sách đang tồn tại và sau cùng,
một sự đối chiếu giữa dự toán chi tiêu với nguồn lực sẵn có trong nội dung tiến
trình ngân sách hàng năm”. “T ổng nguồn lực được giới hạn theo con đường từ
trên xuống” về cơ bản dựa trên mô hình kinh tế vĩ mô để đưa ra mục tiêu tài khoá
và ước tính nguồn thu và tổng chi tiêu, bao gồm nghĩa vụ tài chính của chính phủ.
Thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, các ngành cam kết trong “tiến trình từ dưới
lên” bắt đầu xem xét lại những chính sách và hoạt động của ngành với quan điểm
tối ưu hóa trong phân bổ nguồn lực”.[16,5]
Theo TS.Vũ Th ị Nhài, khuôn khổ chi tiêu trung hạn (Medium Term
Expenditure Framework - MTEF): “là một quy trình soạn lập ngân sách và xây
dựng kế hoạch minh bạch. Nó đề ra một trần nguồn lực trung hạn được phân bổ
từ trên xuống nhằm bảo đảm kỷ luật tài chính và đòi h ỏi việc xây dựng các dự
toán chi phí thực hiện chính sách từ dưới lên, thống nhất với các chính sách chi
tiêu theo các ưu tiên chiến lược”.[4,48]
- 18 -
Theo sách chuyên khảo “Vận dụng phương thức lập ngân sách theo kết quả
đầu ra trong quản lý chi tiêu công”, TS.Sử Đình Thành (2005)đ ịnh nghĩa:
“Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là một phương pháp soạn lập NSNN được xác
định trong một giai đoạn dài hơn một năm, trong đó nó giới hạn nguồn lực tổng
thể từ trên xuống và kết hợp với các dự toán kinh phí từ dưới lên hợp thành chính
sách chi tiêu được phân bổ phù hợp với các ưu tiên chiến lược đã được Chính phủ
chấp nhận”. Như vậy chúng ta có thể hiểu, MTEF là một phương pháp soạn lập
ngân sách trung hạn, có tính minh bạch. Trong đó, tổng nguồn lực được giới hạn
theo con đường từ trên xuống (chính là khuôn khổ tài chính trung hạn của quốc
gia hay địa phương); việc tính toán chi phí dự toán cho việc thực hiện các hoạt
động cụ thể được tính toán và đệ trình từ dưới lên (trong khuôn khổ giới hạn trần
chi tiêu đã đư ợc thông báo, đây là khuôn khổ chi tiêu trung hạn cấp ngành, đơn
vị). Chúng hợp thành dự toán chi tiêu trung hạn phù hợp chặt chẽ với chính sách,
kế hoạch, chiến lược phát triển của quốc gia, ngành và lãnh thổ cũng như ưu tiên
đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
Như vậy, khi đề cập đến khuôn khổ chi tiêu trung hạn – có hai phần sau:
. Khuôn khổ tài chính trung hạn (Medium Term Financial Framework –
MTFF) là một phần nội dung trong phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ
trung hạn. MTFF là kế hoạch ngân sách cấp quốc gia hoặc địa phương, mô tả tổng
quan về tình hình tài khóa, khả năng cân đối thu chi, dự kiến và mục tiêu của Chính
phủ dựa trên những phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô trong giai đoạn trung hạn.
MTFF cung cấp cho chính phủ hoặc chính quyền địa phương một khuôn khổ tài
khóa nhằm xây dựng dự toán chi tiêu trung hạn.
. Khuôn khổ chi tiêu trung hạn ngành (Medium Term Expenditure
Framework for sector – MTEFs) là một phần nội dung trong phương thức soạn lập
ngân sách theo khuôn khổ trung hạn. MTEFs là kế hoạch chi tiêu của các bộ, các
ngành, các địa phương trong đó xây dựng các đề xuất chi tiêu cho ba năm tới, bao
gồm cả các ưu tiên, chiến lược và hoạt động, cùng các nguồn vốn dự kiến.
Ở Việt Nam, khi áp dụng thí điểm phương thức soạn lập ngân sách theo
khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF), Bộ Tài chính đề cập đến hai thuật ngữ: kế
- 19 -
hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn. Kế hoạch tài chính
trung hạn là một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi
tiêu trung hạn, nhằm xây dựng chính sách tài chính trên cơ sở dự báo kinh tế vĩ
mô, xác định nguồn lực và ưu tiên phân bổ nguồn lực (theo quy trình từ trên
xuống). Kế hoạch chi tiêu trung hạn là một phần của phương thức soạn lập ngân
sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (theo quy trình từ dưới lên).
Kế hoạch chi tiêu trung hạn là kế hoạch chi ngân sách của từng ngành, từng
đơn vị trong thời gian trung hạn (từ 3-5 năm), kể từ năm dự toán ngân sách tiếp
theo, được lập hàng năm theo phương thức “cuốn chiếu”. Trong đó kế hoạch chi
tiêu trung hạn trình bày mục tiêu, nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách cơ bản,
chủ yếu của từng ngành, từng cơ quan đơn vị sẽ thực hiện trong trung hạn và dự
báo các nguồn lực tài chính, trong đó dự báo cụ thể nguồn lực tài chính công để
thực hiện. Mặt khác, kế hoạch chi tiêu trung hạn thể hiện cách thức xác định, sắp
xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách và dự
kiến cụ thể kinh phí trong tổng mức trần chi tiêu được xác định trước. Đồng thời,
trình bày một số giải pháp chủ yếu để cân đối giữa nhu cầu chi và khả năng
nguồn lực tài chính công, đưa ra các cảnh báo về nợ dự phòng.
1.3.2 Nội dung khuôn khổ chi tiêu trung hạn
1.3.2.1 Nội dung khuôn khổ tài chính trung hạn
Khuôn khổ tài chính trung hạn (MTFF- Medium Term Financial Framework)
là một phần nội dung trong phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ trung
hạn. MTFF là kế hoạch ngân sách cấp quốc gia hoặc địa phương, mô tả tổng quan về
tình hình tài khóa, khả năng cân đối thu chi, dự kiến và mục tiêu của Chính phủ
(mức thâm hụt tài khóa, nợ công, các mức chi tiêu của chính phủ) dựa trên những
phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô trong giai đoạn trung hạn. Khuôn khổ tài chính
trung hạn cung cấp cho chính phủ hoặc chính quyền địa phương một khuôn khổ tài
khóa nhằm xây dựng dự toán chi tiêu trung hạn.
Nội dung của MTFF bao gồm dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, chính sách
ngân sách sẽ áp dụng trong trung hạn, xác lập các giới hạn về tài chính như: tỷ lệ
thu ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội; tỷ lệ chi ngân sách trên tổng sản
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các điều kiện cần thiết để áp dụng thành công khuôn khổ chi tiêu trung hạn tại thành phố Hồ Chí Minh – Nghiên cứu điển hình ngành Giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_van_cac_dieu_kien_can_thiet_de_ap_dung_thanh_cong_khuon.pdf

