Luận văn Chính sách hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Khía cạnh so sánh

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
NGÔ THỊ TUYẾT THANH  
CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ VIỆT NAM  
ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI:  
KHÍA CẠNH SO SÁNH  
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự  
Mã số: 8380104  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
GS.TS VÕ KHÁNH VINH  
HÀ NỘI -2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.  
Các nội dung và trích dẫn trong luận văn này bảo đảm độ tin cậy,  
chính xác.  
Những kết luận khoa học của luận văn kế thừa từ các tác giả khác  
đều được trích đầy đủ.  
Tác giả luận văn  
Ngô Thị Tuyết Thanh  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1  
Chƣơng 1: NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SO SÁNH CHÍNH SÁCH HÌNH  
SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI.................................................. 8  
1.1. Khái niệm về chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội... 8  
1.2. Nội dung của chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. 18  
CHƢƠNG 2: LỊCH SỬ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI  
NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI ĐƢỢC THỂ HIỆN TRONG CÁC QUY  
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ QUA CÁC GIAI ĐOẠN.............................. 33  
2.1. Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
giai đoạn trước năm 1985.............................................................................................. 33  
2.2. Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở  
giai đoạn từ năm 1985 – đến năm 1999. ....................................................................... 40  
2.3. Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở  
giai đoạn từ năm 2015 cho đến nay .............................................................................. 49  
CHƢƠNG 3: SO SÁNH CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI  
NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN  
CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ.................................................................................... 55  
3.1. So sánh chính sách pháp luật hình sự Việt Nam về đường lối xử lý đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội qua các giai đoạn phát triển của pháp luật hình sự ......... 55  
3.2. So sánh chính sách pháp luật hình sự về tội phạm đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội qua các giai đoạn phát triển của pháp luật hình sự ........................................ 62  
3.3. So sánh chính sách pháp luật hình sự về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội qua các giai đoạn phát triểncủa pháp luật hình sự ......................................... 66  
3.4. Những giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội.......................................................................................... 74  
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 78  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 80  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
CSHS  
Chính sách hình sự  
Bộ luật Hình sự  
BLHS  
NCTN  
TNHS  
Người chưa thành niên  
Trách nhiệm hình sự  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em là nhiệm vụ của toàn xã hội và cũng là  
nhiệm vụ chung của nhân loại. Như Bác Hồ đã dạy “Trẻ em hôm nay là thế giới  
ngày mai” Vì thế việc chăm sóc tới thế hệ trẻ chính là việc tạo ra kết quả của xã hội  
trong tương lai. Để đảm bảo vấn đề con người và những vẫn đề về quyền con người  
luôn được toàn thế giới quan tâm. Cùng chung mục đích đó Nhà nước Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã xây dựng những chính sách đề bảo vệ con người vì  
Nhà nước ta đã coi con người chính là mục tiêu và cũng là động lực của sự phát  
triển đất nước. Trẻ em (hay còn gọi là thanh thiếu niên- người dưới 18 tuổi) là đối  
tượng được toàn xã hội quan tâm. Với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ trẻ  
em, Nhà nước Việt nam đã ghi nhận việc bảo vệ trẻ em trong các văn bản pháp luật  
như Hiến pháp, Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em( năm 2004). Ngoài ra  
Việt Nam còn tham gia vào các Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, và đã  
thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em. Nội dung của  
Công ước đã dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật,  
nhất là những trường hợp người chưa thành niên phạm tội.  
Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với việc truy cứu trách nhiệm hình  
sự với người chưa thành niên phạm tội là nhằm giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để tạo  
điều kiện cho các em nhận thức đúng đắn hơn đối với hành vi của mình. Giúp các  
em nhận ra sai lầm, từ đó sửa chữa những sai lầm do hành vi của mình gây ra, để  
tạo điều kiện cho các em có khả năng tái hòa nhập cộng đồng. Vì thế những chính  
sách hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội cũng không nằm  
ngoài mục đích trên. Trong luận văn này sẽ nghiên cứu các chính sách hình sự Việt  
nam đối với người chưa thành niên phạm tội với tư cách là chủ thể tội phạm.  
Người chưa thành niên là người chưa phát triển hoàn thiện cả về thể lực và  
trí lực, bởi thế việc nghiên cứu chính sách pháp luật hình sự áp dụng khi họ có hành  
vi phạm tội là hết sức cần thiết. Có được những chính sách pháp luật đúng sẽ có ảnh  
hưởng quan trọng tới sự phát triển toàn diện và giúp người chưa thành niên phạm  
1
tội trở thành người có ích cho xã hội, bởi nhất thời khi họ chưa hiểu biết đã có  
những hành vi phạm tội. Bên cạnh những đặc điểm mà người dưới 18 tuổi phạm tội  
họ chưa phát triển hoàn thiện về thể lực và trí lực thì Bộ luật hình sự năm 2015 đã  
dành một chương ( chương XII) để qui định về những vấn đề đối với người dưới 18  
tuổi phạm tội. Chính sách hình sự Việt nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là  
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lạnh mạnh đề trở  
thành công dân có ích cho xã hội. Các chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội đã thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta.  
Xuất phát từ những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đó, các chính sách hình sự  
áp dụng với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Hình sự của nước ta đều  
nhằm mục đích giáo dục, uốn nắn, răn đe những hành vi lệch lạc giúp họ thấy được  
sai lầm của mình mà tự giác sửa chữa những sai lầm đó với sự giúp đỡ của gia đình,  
nhà trường và xã hội. Kế thừa nguyên tắc nhân đạo nêu trên, Luật Hình sự năm  
2015 đã có những sửa đổi trong chính sách hình sự đối với dưới 18 tuổi phạm tội,  
nhằm để bảo vệ quyền lợi tối đa của người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều này có  
nghĩa là, trong trường hợp nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì Tòa  
án có thể áp dụng những biện pháp tư pháp. Bởi khi các cơ quan có thẩm quyền áp  
dụng biện pháp tư pháp đối với người CTN phạm tội sẽ không để lại án tích đối với  
họ.  
Tuy nhiên việc xây dựng và thực hiện chính sách hình sự đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội còn tồn tại những điểm hạn chế như: Hiệu quả áp dụng các chính  
sách chưa cao, đối tượng bị áp dụng và gia đình người bị áp dụng cũng như địa  
phương nơi người phạm tội dưới 18 tuổi sinh sống còn chưa chấp hành tốt. Bởi xuất  
phát từ những tư tưởng chưa đúng đắn, họ coi đó không phải là hình phạt nên việc  
áp dụng các biện pháp tư pháp còn lỏng lẻo. Bên cạnh đó việc đưa người phạm tội  
dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng để họ tập trung học tập, cải tạo chưa đạt kết quả  
cao, vì còn hạn chế về nhiều mặt ( từ cơ sở vật chất đến quy mô đào tạo và chương  
trình đào tạo..).  
2
Vì vậy để tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện chính sách hình sự đối với người  
dưới 18 tuổi phạm tội là vấn đề quan trọng và cần thiết, đây chính là lý do tôi lựa  
chọn đề tài: “ Chính sách hình sự Việt nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:  
Khía cạnh so sách” làm luận văn tốt nghiệp cao học cho mình.  
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài  
Vấn đề Chính sách hình sự Việt nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là  
một nội dung trong chính sách pháp luật hình sự. Để hướng tới cái nhìn nhân văn  
khi xây dựng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong việc xây  
dựng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự và các chính sách xử lý người dưới 18 tuổi  
phạm tội thường được tập trung vào các vấn đề sau:  
- Tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội;  
- Nghiên cứu tới vai trò của gia đình, nhà trường, các đoàn thể tham gia vào  
việc giáo dục người người dưới 18 tuổi phạm tội;  
- Nghiên cứu việc thi hành các chế tài đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
theo quy định của pháp luật tố tụng Hình sự;  
- Nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, năm 1999 và Bộ  
luật hình sự năm 2015 đối với vấn về nguyên tắc xử lý và những quy định về hình  
phạt, biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Đã có những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp với chính sách hình sự  
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:  
+ Các biện pháp tư pháp trong bộ luật Hình sự năm 1999 và vấn đề hoàn  
thiện bộ luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó, của TS  
Phạm Hồng Hải, tạp chí Luật học, số 5/2000 [15]  
+Thi hành các biện pháp tư pháp không phải là hình phạt, của PGS.TS Hồ Sĩ  
Sơn tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2004; [33]  
+ Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của một số  
nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Minh Đức, tạp chí khoa học  
giáo dục cảnh sát nhân dân tháng 10/2015; [13]  
3
+Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam  
hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học của TS Hoàng Minh Đức, Học viện Khoa học xã  
hội năm 2016; [14]  
+ Áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, của  
Trịnh Đình Thể, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2006[25]  
+ “Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội” thuộc giáo  
trình Luật hình sự việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh Nxb Khoa  
học xã hội năm 2014[34]  
+ “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” thuộc giáo  
trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh Nxb Công an  
nhân dân năm 2005 [33]  
+ “Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” TS. Phạm Văn Lợi  
chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2007 [20]  
+ Luật học so sánh. Giáo trình sau đại học. GS.TS Võ Khánh Vinh Nxb  
Khoa học xã hội Hà Nội năm 2015[35]  
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra những giải pháp, chính  
sách hình sự đối với vấn đề người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, cho tới nay  
chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu ở khía cạnh so sánh về chính sách  
Hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở mức độ Luận văn thạc sĩ.  
Do đó với tư cách là cán bộ giảng viên dạy môn “Pháp luật đại cương” trong trường  
Đại học Điện Lực tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này. Nhằm góp phần tốt cho công  
tác giảng dạy giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên. Góp phần vào việc  
nghiên cứu đấu tranh phòng và đấu tranh các trường hợp do người dưới 18 tuổi  
phạm tội.  
Bên cạnh đó luận văn còn so sánh các chính sách pháp luật hình sự Việt Nam  
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được ghi nhận ở các giai đoạn phát triển của  
pháp luật như: trước năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm  
1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi năm 2017. Để thấy được điểm đối  
mới trong chính sách phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.  
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích của nghiên cứu  
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như nội dung cơ  
bản của chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
ở khía cạnh so sách giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015  
có sửa đổi năm 2017, để đưa ra những giải pháp, kiến nghị góp phần vào việc hoàn  
thiện chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy  
định của Pháp luật hình sự nước ta.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để việc nghiên cứu đạt được mục đích trên thì luận văn cần phải giải quyết  
được những vấn đề sau:  
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về so sánh chính sách hình sự đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội: Khái niệm về chính sách pháp luật hình sự đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội; Đặc điểm của chính sách pháp luật hình sự đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội; Nội dung của chính sách pháp luật hình sự đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội.  
- Phân tích lịch sử chính sách hình sự việt Nam đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội được thể hiện trong các quy định của pháp luật hình sự qua các giai đoạn:  
Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở giai  
đoạn trước năm 1985; Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới  
18 tuổi phạm tội ở giai đoạn từ năm 1985 – đến năm 1999; Chính sách pháp luật  
hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở giai đoạn từ năm 2015 cho  
tới nay.  
- So sánh chính sách hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
qua các giai đoạn phát triển của pháp luật hình sự: So sánh về đường lối xử lý đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội; So sánh về tội phạm đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội; So sánh về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Những giải pháp  
để hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội  
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận của Chính sách  
hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở khía cạnh xây dựng pháp  
luật hình sự. Từ đó so sánh giữa hai Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự  
năm 2015 có sửa đổi bổ sung năm 2017.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu chủ yếu là chính sách hình sự ở nghĩa hẹp đó là: chính  
sách pháp luật hình sự (Chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt trong  
phạm vi đối với người dưới 18 tuổi phạm tội) chứ không nghiên cứu tất cả những  
vấn đề của CSHS; (Chính sách về phòng ngừa tội phạm, chính sách về Tố tụng hình  
sự và chính sách về thi hành án hình sự). Những vấn đề lý luận áp dụng các quy  
định của pháp luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo qui định của  
pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh luật so sánh. Từ đó đề xuất những giải pháp  
nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách pháp luật hình  
sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để đạt kết quả cao.  
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý luận  
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật  
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.;Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối  
của Đảng cộng sản Việt Nam,;về Nhà nước và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa;Việt Nam về; đường lối đổi mới đất nước. Luận văn được trình bày trên  
cơ sở của nghiên cứu của luật Hình sự và luật tố tụng hình sự, tội phạm học, tâm lý xã  
hội học thông qua những văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận chung và  
phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh  
chính sách pháp luật, phương pháp tổng hợp chính sách pháp luật, phương pháp thống kê  
chính sách pháp luật…  
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
Luận văn được;nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa.duy vật  
biện chứng và chủ nghĩa duy,vật lịch sử. Luận văn sử dụng phương pháp luận chung và  
phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm sáng tỏ về mặt khoa học của từng vấn đề về  
chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Luận văn đã rút ra ý nghĩa về mặt thực tiễn là làm tài liệu tham khảo giúp  
việc giảng dạy nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên khối không chuyên  
để họ có cái nhìn và nhận thức đúng về pháp luật. Nội dung luận văn phân tích và  
so sánh một cách cụ thể và toàn diện các quy định của pháp luật về chính sách hình  
sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó phân tích, so sánh đánh giá chi tiết  
từng điều kiện đồng thời có sự so sánh với chính sách hình sự đối với người phạm  
tôi dưới 18 tuổi. Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách để  
phù hợp với tình hình phát triển của xã hội đẩy lùi và hạn chế số lượng người phạm  
tội dưới 18 tuổi. Tiếp tục tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói  
chung và tội phạm ở độ tuổi vị thành niên nói riêng.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mực tài liệu tham khảo nội dung của  
luận văn gồm ba chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận về so sánh chính sách hình sự đối với  
người dưới 18 tuổi phạm tội  
Chương 2: Lịch sử chính sách hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội được thể hiện trong các quy định của pháp luật hình sự qua các giai đoạn  
Chương 3: So sánh chính sách hình sự Việt Nam đối với người dưới 18  
tuổi phạm tội qua các giai đoạn phát triển của pháp luật hình sự.  
7
Chƣơng 1  
NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SO SÁNH CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI  
VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI  
1.1. Khái niệm về chính sách pháp luật hình sự đối với ngƣời dƣới 18 tuổi  
phạm tội  
1.1.1. Khái niệm chính sách pháp luật hình sự  
a. Khái niệm chính sách hình sự  
Một trong những mục tiêu cũng như nhiệm vụ cấp thiết mà Đảng và Nhà  
nước ta luôn trăn trở quan tâm và đề cập đến trong các kỳ họp đó chính là đấu tranh  
phòng chống tội phạm. Để làm được nhiệm vụ này một cách có hiệu quả, Nhà nước  
cần hoạch định ra một chính sách hình sự đúng đắn, phù hợp. Chính sách hình sự là  
một bộ phận của chính sách pháp luật nói chung và là chính sách pháp luật trong  
lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng của một nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với  
sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Cụ thể, một chính sách hình sự đúng đắn  
và tiến bộ sẽ góp phần ổn định trật tự xã hộ ổn định tâm lý tinh thần của nhân dân.  
Khi có sự bảo vệ chặt chẽ của pháp luật, bản thân người dân của một đất nước sẽ  
yên tâm sản xuất, kinh doanh và làm việc, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh  
tế. Chính vì vậy, mặc dù chỉ điều chỉnh trong lĩnh vực tư pháp hình sự nhưng chính  
sách hình sự gián tiếp giúp các chính sách pháp luật ở các lĩnh vực khác phát huy  
được hiệu quả của nó trong đời sống xã hội.  
Trước đây, quan niệm như thế nào là chính sách hình sự đã được nhiều tác  
giả quan tâm, đề cập trong sách, báo pháp lí và trong các công trình luận văn, luận  
án. Tuy nhiên, giữa các quan điểm đó lại không có sự khác nhau về nội dung cốt lõi  
của khái niệm chính sách hình sự. Đại diện cho quan niệm rất rộng về chính sách  
hình sự cho rằng chính sách hình sự không chỉ bao gồm chính sách của Nhà nước  
mà còn bao gồm cả chính sách của Đảng. Theo đó, chính sách hình sự được quan  
niệm là “toàn bộ những quan điểm, quan niệm của Đảng và Nhà nước ta về tội  
phạm, hình phạt, về phương hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự cũng  
như những phương hướng tổ chức đấu tranh và chống tội phạm trong thực  
tiễn”[19]. Quan niệm hẹp hơn về chính sách hình sự xác định chính sách hình sự là  
chính sách của Nhà nước, cụ thể đó “là những quan điểm, tư tưởng chủ đạo của  
8
Nhà nước trong hoạt;động đấu tranh phòng chống tội phạm”[16]; “những định  
hướng, chủ trương sử dụng pháp luật hình sự trong đấu tranh phòng chống tội  
phạm”[32] hay nói cách khác “là chính sách về tội phạm và về tổ chức đấu tranh  
phòng, chống tội phạm”[32]. Trong công trình này, tác giả tiếp cận khái niệm chính  
sách hình sự theo hướng là “chính sách của Nhà nước đối với đấu tranh phòng,  
chống tội phạm bằng biện pháp pháp luật hình sự nhằm đảm bảo an ninh chính trị  
và trật tự an toàn xã hội”[17]. Dù tiếp cận dưới những góc độ, khía cạnh khác nhau,  
với quan niệm về phạm vi rộng, hẹp khác nhau song các quan điểm đều thừa nhận  
chính sách hình sự là một phần của chính sách xã hội nói chung thể hiện quan điểm,  
định hướng, tư tưởng của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm,  
góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự qua từng giai đoạn lịch  
sử nhằm đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm  
và không làm oan người vô tội, sâu xa hơn nữa nhằm giáo dục những người công  
dân tinh thần thượng tôn pháp luật bên cạnh các chuẩn mực đạo đức xã hội, bởi  
công dân chính là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của một  
quốc gia, nhất là trong thời kỳ dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của  
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.  
Chính sách hình sự có thể được;thể hiện ở nhiều loại văn bản khác nhau  
nhưng ở Việt Nam hiện nay,;chính sách hình sự được thể hiện tập trung nhất, rõ  
nhất và cũng cụ thể nhất trong Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành. Đồng thời, BLHS  
cũng là cơ sở pháp lí để giải thích, tuyên truyền và thực hiện chính sách hình sự  
trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm. Chính sách hình sự phải được thực  
hiện ở cả ba quá trình, từ xây dựng pháp luật để giải thích pháp luật và thực thi pháp  
luật. Xây dựng pháp luật hay còn gọi là hoạt động lập pháp chính là hoạt động quy  
phạm hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về một lĩnh  
vực, chính vì vậy, việc xây dựng, sửa đổi bổ sung BLHS qua các thời kỳ chính là  
biểu hiện cụ thể nhất cho những chỉnh lý, thay đổi trong chính sách pháp luật hình  
sự nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên thực tế và  
các yêu cầu chung của quốc tế.  
Chính sách hình sự nhà nước ta được cấu thành bởi bốn loại chính sách:  
Chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp  
9
luật tố tụng hình sự`và chính sách pháp luật thi hành án hình sự. Trong đó, chính  
sách pháp luật hình sự là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của  
Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm.  
Nhìn chung, chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiện sự nhân đạo,  
nghiêm trị kết hợp khoan hồng, mang tính phân hóa cao không chỉ về hành vi, mức  
độ nguy hiểm của tội phạm mà cả sự phân hóa rõ nét trong đối tượng áp dụng. Điều  
này được quy định cụ thể trong từng chế định Luật hình sự.  
b. Khái niệm chính sách pháp luật hình sự  
Như đã trình bày ở trên, chính sách pháp luật hình sự là một bộ phận cấu  
thành của chính sách hình sự nhằm xác định những phương hướng cơ bản có tính  
chất chỉ đạo của Nhà nước xuyên suốt các hoạt động xây dựng pháp luật hình sự,  
giải thích và thực thi pháp luật hình sự, đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật  
hình sự, tăng cường việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, cũng  
như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của nhà nước bằng pháp luật hình sự.  
Chính sách pháp luật hình sự của nước ta được thể hiện trong các văn bản  
pháp luật mà rõ nét nhất là BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các quy định  
tại những văn bản này vừa thể chế hoá chính sách hình sự vừa là biện pháp thực  
hiện chính sách hình sự trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong khi mối quan  
hệ giữa chính sách hình sự, chính sách pháp luật hình sự và mục tiêu bảo đảm an  
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội là bất biến, không thay đổi theo thời gian,  
theo các giai đoạn phát triển khác nhau của Nhà nước và xã hội thì các bộ phận của  
mối quan hệ đó lại luôn luôn có những điều chỉnh hay thay đổi nhất định. Yêu cầu  
đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển của  
Nhà nước và xã hội Việt Nam là khác nhau tuỳ thuộc vào sự đòi hỏi của việc thực  
hiện nhiệm;vụ chính trị, kinh tế, xã hội và nhiệm vụ đối ngoại của Nhà nước cũng  
như tuỳ thuộc;vào điều kiện, mức độ phát triển của xã hội và tình hình tội phạm.  
Những yêu cầu về đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội quyết định  
những thay đổi về chính sách hình sự và từ đó chi phối sự cải cách hay sửa đổi của  
pháp luật hình sự.  
Nhìn chung, yêu cầu đối với chính sách pháp luật hình sự được thể hiện ở  
những điểm sau:  
10  
Thứ nhất, cần có sự nhận thức đúng đắn về tính chất và đặc điểm của các quan  
hệ xã hội cũng như các đòi hỏi cấp bách của xã hội về sự cần thiết đến mức độ nào  
trong việc điều chỉnh về mặt pháp luật hình sự các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này.  
Thứ hai, không ngừng hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật  
hình sự bằng các cơ chế dân chủ và công khai, minh bạch trong hoạt động lập pháp  
để bổ sung vào pháp luật hình sự hiện hành của quốc gia các quy phạm hoặc các  
chế định pháp lý tiến bộ và nhân đạo được thừa nhận chung của quốc tế, trên cơ sở  
lĩnh hội các nguyên tắc của hoạt động tư pháp hình sự trong nhà nước pháp quyền.  
Thứ ba, xuất phát từ sự nhận thức trên, đồng thời trên cơ sở các luận chứng khoa  
học khách quan, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục phải cố gắng đến mức tối đa  
để quy định rõ ràng trong pháp luật hình sự thực định: Các giới hạn của việc tội  
phạm hoá và phi tội phạm hoá Các căn cứ của việc hình sự hoá và phi hình sự hoá  
Các hình thức trách nhiệm hình sự khác nhau với sự đa dạng các biện pháp cưỡng  
chế về hình sự, xây dựng được các cơ chế tạo ra sự thuận tiện khi áp dụng các biện  
pháp đó trong thực tiễn.  
1.1.2. Đặc điểm của chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội  
Từ khái niệm chính sách hình sự nói trên, có thể hiểu chính sách hình sự đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính  
chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện  
hệ thống pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong việc sử dụng  
hệ thống pháp luật hình sự đó vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội  
phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng,  
công minh theo đúng pháp luật các loại tội phạm do đối tượng này thực hiện. Cũng  
như chính sách hình sự dành cho mọi đối tượng nói chung, chính sách hình sự đối  
với người dưới 18 tuổi phạm tội là cơ sở cho việc bảo đảm và bảo vệ các quyền, lợi  
ích hợp pháp của họ, giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm và trở thành công dân  
có ích cho xã hội; mặt khác cũng tạo điều kiện tối đa để bảo đảm cho người dưới 18  
tuổi sự phát triển một cách tự nhiên, lành mạnh nhất có thể điều này tạo nên điểm  
khác biệt so với chính sách hình sự dành cho người thành niên phạm tội.  
11  
Đứng ở góc độ bộ phận;cấu thành, chính sách hình sự đối với người dưới 18  
tuổi phạm tội được hoạch định với nền tảng dựa trên chính sách xã hội nói chung và  
chính sách pháp luật nói riên. Bởi là một khía cạnh của chính sách hình sự nói  
chung nên chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng bao gồm  
bốn loại chính sách cấu thành là: chính sách phòng ngừa tội phạm và ba loại chính  
sách pháp luật tương ứng với ba ngành luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự – chính  
sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật  
thi hành án hình sự. Ngoài ra, chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm  
tội còn được thể hiện thông qua nguyên tắc, quan điểm và đường lối xử lý. Như  
vậy, nội hàm chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội rất rộng, bao  
hàm hầu hết mọi lĩnh vực có liên quan đến việc phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử  
lý, thi hành án, tái hòa nhập cộng đồng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.  
Chính sách hình sự nói chung và chính sách pháp luật hình sự nói riêng được  
áp dụng đối với đối tượng hoặc nhóm đối tượng mang tính đặc thù xuất phát từ  
chính những đặc điểm đặc thù của đối tượng. Như vậy, chính sách pháp luật hình sự  
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội sẽ gắn liền với một bộ phận đối tượng đặc thù  
là người chưa đủ 18 tuổi hay còn gọi là trẻ em, người chưa thành niên (NCTN).  
Gần một thế kỉ qua, cộng động quốc tế luôn dành cho người dưới 18 tuổi nói  
chung và trẻ em nói riêng những sự quan tâm đặc biệt, sự quan tâm đó được thể  
nhiện trong hàng trăm văn kiện quốc tế vẫn còn giá trị thời sự và tính nhân văn cho  
tới thời điểm hiện tại và là kim chỉ nam cho pháp luật dành cho NCTN của biết bao  
quốc gia trên thế giới. Có thể dẫn ra những văn bản như: Tuyên ngôn thế giới về  
quyền;con người năm 1948 .Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm  
1959 Tuyên ngôn bảo vệ mọi người không bị tra tấn nhục hình và đối xử hoặc trừng  
trị vô nhân đạo năm 1975 Tuyên ngôn về bảo vệ những người khỏi sự cưỡng bức  
đưa đi mất tích năm 1982 Công ước chống sự tra tấn, nhục hình và đối xử hoặc  
trừng phạt vô nhân đạo năm 1984 Công ước của Liên hợh quốc về quyền trẻ em  
năm 1989; Quh tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật  
đối vớh vị thành niên (hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên  
hợp quốc thông qua năm 1985; Quy tắc chỉ đạo Riát vh phòng ngừa NCTN phạm  
pháp được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1990; Quy tắc của Liên hợp  
12  
quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông  
qua năm 1990; Tuyên ngôn thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em  
năm 1990 và Kế hoạch hành động thực hiện Tuyên ngôn thế giới về sự sống còn,  
bảo vệ và phát triển của trẻ. Trong các văn bản pháp lý quốc tế nêu trên Công ước  
Liên hợp quốc về Quyền trẻ em xuất phát từ tinh thần chung là bảo vệ quyền và lợi  
ích hợp pháp của trẻ em, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của trẻ em đã đề cập đến  
một số vấn đề cơ bản của tư pháp NCTN.  
Cụ thể, Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 nêu rõ: “Trẻ em  
do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự  
bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”[10]. Công ước Liên  
hợp quốc về Quyền trẻ em đề cao quyền lợi tốt nhất của trẻ em trong mọi hoàn cảnh  
và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải làm như vậy. Công ước kêu gọi phải  
có sự bảo vệ đặc biệt cho trẻ em bị tước đoạt môi trường gia đình và bảo vệ trẻ em  
khỏi bị cha mẹ hoặc bất kỳ ai lạm dụng, sao nhãng xác định trẻ em có quyền được  
học hành và có mức sống đầy đủ, có quyền được vui chơi giải trí và được bảo vệ  
khỏi bị bóc lột về kinh tế, tình dục và các loại bóc lột khác. Công ước còn đề cập  
đến nhu cầu bảo vệ chống lại sự đối xử phân biệt trong việc áp dụng pháp luật với  
người dưới 18 tuổi đến việc bảo vệ và thực hiện các quyền của trẻ em làm trái pháp  
luật hay nói tới các quyền của trẻ em bị tước quyền tự do, quyền của trẻ em bị quy  
là phạm tội  
Người dưới 18 tuổi phạm tội hay NCTN phạm tội là một hiện tượng, một  
thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc giai đều giải quyết vấn  
đề này theo những mức độ, cách.thức.khác nhau tùy.thuộc vào những điều kiện, tập  
quán và pháp luật của mỗi nước. Một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ  
lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống tư pháp NCTN tuân thủ theo đúng  
pháp luật quốc tế về quyền con người. Cùng với xu thế đó, các quan điểm, tư tưởng  
chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội luôn luôn có  
sự tiếp thu những quan điểm, tinh thần tiến bộ của luật pháp quốc tế. Việt Nam còn  
là quốc gia đi đầu về thực hiện Quyền trẻ em trong gần 30 năm qua. Ở.Việt Nam,  
dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quan điểm xuyên suốt thể hiện trong đường lối, chính  
sách của Đảng và Nhà nước là luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực  
13  
của sự phát triển đất nước, trong đó trẻ em, người dưới 18 tuổi được ví như măng  
non, là nguồn hạnh phúc của gia đình, tương lai của dân tộc, chủ nhân kế tục sự  
nghiệp;phát triển đất nước. Đối với người dưới 18 tuổi, quan điểm của Nhà nước ta  
là chú trọng tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em có thể phát triển toàn diện cả về  
thể chất lẫn tinh thần, thực sự xứng đáng là chủ nhân của đất nước, tương lai của  
dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có thể thấy rõ được  
tinh thần này qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa  
xã hội (bổ sung phát triển năm 2011). Cụ thể, trong Cương lĩnh đã nhấn  
mạnh: “…Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động,và học tập;của thanh niên,  
thiếu niên,;giáo dục và bảo vệ trẻ em…”. Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã  
hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”. Bên  
cạnh đó, việc thông qua và thực hiện Luật trẻ em trong hai năm qua là một bước  
tiến quan trọng, có ý nghĩa tăng cường bảo vệ quyền trẻ em qua việc tập trung vào  
những lợi ích tốt nhất của họ. Điều 5 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “...Không  
phân biệt đối xử với trẻ em. Bảo;đảm lợi ích tố nhất của trẻ em trong các quyết  
định liên quan đến trẻ em. Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện  
vọng của trẻ em...”. Trên bình diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, thì  
Hiến pháp và;pháp luật luôn coi ngườipdưới 18 tuổi là đối tượng.cần bảo vệ, chăm  
sóc và quan tâm đặc biệt trong cả hai trường hợp khi họ là chủ thể của tội phạm  
cũng như khi họ là nạn nhân của tội phạm. Chính vì vậy, chính sách pháp luật hình  
sự của Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được xây dựng dựa trên  
những điểm đặc thù của nhóm đối tượng này.  
Trước hết, người dưới 18 tuổi hay.còn được gọi là NCTN là người chưa phát  
triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần;cũng như chưa có đầy đủ quyền  
và nghĩa vụ công dân. Chính vì vậy mà họ có những đặc điểm riêng về tâm lý,  
chính những đặc điểm riêng biệt này chi phối đến quá trình xây dựng chính sách  
pháp luật hình sự của nước ta. Cụ thể:  
Về khía cạnh tâm lý: Người dưới 18 tuổi là người đang trong quá trình phát  
triển cả về sinh lý, tâm lý và ý thức. Những người dưới 18 tuổi, đặc biệt từ giai đoạn  
14 tuổi trở lên thường được gọi là người ở độ tuổi “bẻ gãy sừng trâu” tâm sinh lý  
14  
chưa ổn định, nhân cách chưa hoàn thiện, nhận thức về các vấn đề xã hội còn hạn  
chế, thậm chí sai lệch. Những đối tượng này;thường có tính cách nông nổi, hiếu  
thắng, liều lĩnh, khó tự kiềm chế bản thân khi có các yếu tố của ngoại cảnh tác  
động, dễ dẫn đến manh động và có các hành vi bạo lực để đối phó, chống trả trước  
tác động của ngoại cảnh có thiên hướng bắt chước cả những sai trái của người lớn.  
Dạng tâm lý này còn được hiểu là nhu cầu độc lập, muốn tự khẳng định cái “tôi”  
của mình. Ở lứa tuổi này, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài  
dưới dạng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ. Ngoài ra, nhu  
cầu tìm hiểu, khám phá cái mới cũng là một trong những nhu cầu của các em ở lứa  
tuổi chưa thành niên. Tuy vậy, sự tò mò và khám phá cái mới lại trở thành một  
trong những nguyên nhân chính dẫn tới hành vi phạm tội của các em.  
Về nhận thức pháp luật: khả năng nhận thức về pháp luật của người dưới 18  
tuổi còn nhiều hạn chế. Một phần không nhỏ những đối tượng này thực hiện hành vi  
phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm  
đến những hậu quả xảy ra là nguy hiểm cho xã hội. Điều này xuất phát từ nhiều  
nguyên nhân, có thể là do người dưới 18 tuổi chưa có nhiều trải nghiệm, va vấp để  
nhận thức được đúng – sai, phải – trái, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là những  
thiếu sót, hạn chế trong công tác giáo dục hiểu biết pháp luật của gia đình, nhà  
trường và xã hội.  
Từ những đặc điểm nêu trên có thể thấy nhóm người dưới 18 tuổi phạm tội là  
nhóm chủ thể rất đặc biệt so với nhóm chủ thể là người đủ 18 tuổi (hay còn gọi là  
người đã thành niên). Các quy định pháp luật hình sự chính vì lý do trên mà cần  
phải có sự phân hóa rõ ràng để phù hợp với đặc thù của từng đối tượng, người dưới  
18 tuổi hay NCTN sẽ được hưởng những chính sách pháp luật hình sự khác nhau  
nhưng về tinh thần chung vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của việc xử lý hình sự,  
đảm bảo được mục đích, ý nghĩa của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.  
Hơn 30 năm qua, chính sách pháp luật hình sự của nước ta luôn có những  
chế định riêng dành cho NCTN phạm tội. Ở các giai đoạn khác nhau, nội dung các  
quy định cụ thể có thể khác nhau nhưng nhìn chung chúng đều được xây dựng trên  
cơ sở cân nhắc các yếu tố gắn với đặc thù của NCTN phạm tội [21]. Chính sách  
pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có một số dấu hiệu đặc trưng  
15  
chung của;chính sách pháp luật gồm dấu hiệu ý chí của Đảng, Nhà nước và mệnh  
lệnh quyền lực, tính chất liên kết và chính thức, tính hệ thống, tính nền tảng, tính  
quan niệm tổng thể, tính hiện thức, tính chất công, tính năng động và tính ổn định,  
tính kế hoạch, sự phụ thuộc vào các nhân tố của môi trường bên ngoài và bên trong  
và các dấu hiệu khác[14]. Đồng thời, các quy định của pháp luật hình sự cũng  
hướng đến việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật của xã hội, hoàn thiện  
pháp luật hình sự, hướng đến sự thay đổi tiến bộ của hệ thống pháp luật hình sự,  
đến sự phát triển pháp luật hình sự tương ứng của xã hội và hướng đến việc nâng  
cao nhận thức, hiểu biết pháp luật của công dân.  
Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, chính sách pháp luật hình sự  
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hệ thống các quy định pháp luật hình sự về  
việc xác định tội phạm, đường lối xử lý và hình phạt đối với người dưới 18 tuổi  
phạm tội, trên cơ sở những quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược  
của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật  
hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong việc sử dụng hệ thống pháp luật  
hình sự đó vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới  
18 tuổi thực hiện, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng  
pháp luật các loại tội phạm do nhóm đối tượng này thực hiện.  
Xuất phát từ khái niệm trên, chúng ta có thể chỉ ra những đặc điểm nổi bật  
của chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:  
Thứ nhất, đó là hệ thống các quy định pháp luật hình sự về đường hướng xử  
lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, được ấn định trong các văn bản pháp luật  
hình sự mà trọng tâm là Bộ luật Hình sự và các Nghị định hướng dẫn thi hành, trong  
đó BLHS là công cụ chủ yếu thực hiện chính sách hình sự đối với người dưới 18  
tuổi phạm tội. Nó là sự cụ thể hóa những nguyên tắc cơ bản để xử lý đối với người  
dưới 18 tuổi phạm tội được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, Nghị quyết của  
Quốc hội, thông qua việc quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự, miễn trách  
nhiệm hình sự cũng như hình phạt, hệ thống hình phạt và các căn cứ, điều kiện áp  
dụng từng loại hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Việc trực tiếp ghi  
nhận những nội dung quan trọng này trong BLHS là một trong những điều kiện cần  
thiết bảo đảm sự thắng lợi của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chỉ khi  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 86 trang yennguyen 17920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Chính sách hình sự Việt Nam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Khía cạnh so sánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_chinh_sach_hinh_su_viet_nam_doi_voi_nguoi_duoi_18_t.pdf