Luận văn Nghiên cứu, tìm hiểu kỹ thuật giấu tin mật và ứng dụng

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN&TRUYỀN THÔNG  
NGUYỄN CAO THẮNG  
NGHIÊN CỨU, TÌM HIỂU  
KỸ THUẬT GIẤU TIN MẬT VÀ ỨNG DỤNG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
Thái Nguyên - 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN&TRUYỀN THÔNG  
NGUYỄN CAO THẮNG  
NGHIÊN CỨU, TÌM HIỂU  
KỸ THUẬT GIẤU TIN MẬT VÀ ỨNG DỤNG  
Ngành: Công nghệ thông tin  
Chuyên ngành: Khoa học máy tính  
Mã số: 848 0101  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HỒ VĂN CANH  
Thái Nguyên - 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Học viên xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự  
của bản thân, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hồ Văn Canh.  
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được  
công bố dưới bất cứ hình thức nào. Tất cả các nội dung tham khảo, kế thừa  
của các tác giả khác đều được trích dẫn đầy đủ.  
Em xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.  
Tác giả  
Nguyễn Cao Thắng  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Học viên trân trọng cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện và động viên  
của Lãnh đạo Đại học Công nghệ thông tin & Truyền thông, Đại học Thái  
Nguyên, các thầy cô Khoa Đào tạo sau đại học, các khoa đào tạo và các quý  
phòng ban Học viện trong suốt thời gian qua.  
Học viên xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới TS. Hồ Văn Canh đã nhiệt  
tình định hướng, bồi dưỡng, hướng dẫn học viên thực hiện các nội dung khoa  
học trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn.  
Xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ to lớn từ phía Cơ quan  
đơn vị, đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ học viên trong suốt quá trình triển  
khai các nội dung nghiên cứu.  
Mặc dù học viên đã rất cố gắng, tuy nhiên, luận văn không tránh khỏi  
những thiếu sót. Học viên kính mong nhận được sự đóng góp từ phía Cơ sở  
đào tạo, quý thầy cô, các nhà khoa học để tiếp tục hoàn thiện và tạo cơ sở cho  
những nghiên cứu tiếp theo.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
Thái Nguyên, tháng năm 2020  
Học viên  
Nguyễn Cao Thắng  
   
iii  
MỤC LỤC  
iv  
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Ký hiệu,  
viết tắt  
Ý nghĩa  
Advanced Encryption  
Standard  
AES  
AN-QP  
CNSS  
GCD  
Tiêu chuẩn mã hóa tiên tiến  
An ninh quốc phòng  
Committee on National  
Security Systems  
Ủy ban hệ thống an ninh quốc gia  
Greatest Common Divisor  
Ước chung lớn nhất  
Kỹ thuật giấu tin phụ thuộc vào thị  
giác  
HVS  
Human Vision System  
Human Auditory  
System  
Kỹ thuật giấu tin phụ thuộc vào thính  
HAS  
IT  
giác  
Information Technology  
International Organization  
for Standardization  
Laest Significant Bit  
Most Significant Bit  
National Institute of  
Science and Technology  
Rivest - Shamir - Adlemal  
Chinese Remainder  
Theorem  
Công nghệ thông tin  
ISO  
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế  
LSB  
Bít có trọng số bé nhất  
Bit có trọng số lớn nhất  
Viện công nghệ và tiêu chuẩn quốc  
gia Hoa Kỳ  
MSB  
NIST  
RSA  
CRT  
Hệ mật mã RSA  
Định lý đồng dư Trung Hoa  
GF(P)  
GF(2)  
Trường số hữu hạn P phần tử  
Trường nhị phân  
Tập hợp khóa mã  
K
E
Thuật toán mã hóa  
 
vi  
Thuật toán giải mã  
Tập hợp các bản rõ  
Tập hợp các bản mã  
Hàm Phi_Ơle  
D
P
C
n
   
p,q  
Cặp số nguyên tố  
Số nguyên dương bất kỳ  
Văn bản rõ thuộc  
Bản mã thuộc  
và  
p q  
n
x
y
P
C
k'  
k''  
s
Thành phần khóa công khai  
Thành phần khóa bí mật  
Số nguyên tố Mersenne  
Số nguyên lẻ  
r
vii  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Với mục đích truyền tải thông điệp nhạy cảm, kỹ thuật ẩn giấu thông  
tin xuất hiện sớm từ thời kỳ cổ đại với những hình thức đơn giản “mang màu  
sắc tự nhiên” gần gũi các kỹ thuật hóa trang và sử dụng giấu trong các vỏ bọc  
container. Tiếp theo đó là giai đoạn ứng dụng thành tựu của ngành hóa học để  
tạo các cặp chất viết và hiện. Trong những năm gần đây kỹ thuật ẩn giấu  
thông tin đặc biệt phát triển trong lĩnh vực truyền thông đa phương tiện [1].  
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ số hóa và  
tốc độ phát triển của mạng truyền thông hiện nay, làm cho việc sản xuất, quản  
lý, phân phối các sản phẩm multimedia trở nên nhanh gọn. Điều đó tạo nền  
tảng cho các quốc gia, các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu kỹ  
thuật ẩn giấu thông tin trên môi trường đa phương tiện sử dụng vào mục đích  
đảm bảo an toàn và che giấu thông tin quan trọng. Việc kết hợp ứng dụng kỹ  
thuật mật mã với ẩn giấu thông tin làm tăng độ bảo mật của thông tin và khả  
năng tránh bị phát hiện của thông tin khi truyền. Hiện nay, trên thế giới và  
trong nước đã có nhiều kết quả và công trình nghiên cứu về ẩn giấu thông tin  
[4], [9]. Tuy vậy, việc ứng dụng các kết quả đó vào thực tiễn đời sống kinh tế  
xã hội chưa thực sự phổ biến.  
Trong lĩnh vực An ninh - Quốc phòng (AN-QP), công tác thông tin liên  
lạc có vai trò và là yếu tố quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm  
vụ, kế hoạch công tác đề ra. Tin tức đòi hỏi phải được đảm bảo bí mật, chính  
xác, kịp thời và trong nhiều trường hợp còn phải giữ bí mật danh tính người  
gửi cũng như người nhận tin. Thực tiễn cho thấy nhu cầu liên lạc mật, trao đổi  
thông tin giữa các đầu mối với trung tâm chỉ huy hoặc với nhau ngày càng  
nhiều; trong khi các sản phẩm trang bị, đảm bảo nhu cầu đó, hiện tại còn  
khiêm tốn về chủng loại và số lượng; đồng thời đây cũng là đối tượng để cơ  
quan đặc biệt đối phương tấn công, khai thác. Vì vậy, nghiên cứu giải pháp  
kết hợp mã hóa với kỹ thuật ẩn giấu thông tin trong môi trường đa phương  
   
2
tiện là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra, là cơ sở khoa học, nghiệp vụ đề xuất ứng  
dụng và phát triển sản phẩm, góp phần đa dạng hóa các loại hình thông tin  
liên lạc, phục vụ yêu cầu công tác mang tính đặc thù trong lĩnh vực AN-QP.  
Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu tìm hiểu kỹ thuật giấu tin  
mật và ứng dụng” mang tính cấp thiết, khoa học, thực sự có ý nghĩa về lý  
luận và thực tiễn gắn với công tác của học viên.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Luận văn nghiên cứu một số kỹ thuật mã hóa và các nội dung liên quan  
tới việc ẩn giấu thông tin trong môi trường đa phương tiện, cụ thể hơn là các  
thuật toán giấu thông tin trong ảnh số. Trên cơ sở đó nghiên cứu đề xuất giải  
pháp kết hợp mã hóa với kỹ thuật ẩn giấu thông tin trên một định dạng ảnh  
tiêu biểu. Đồng thời nghiên cứu thử nghiệm, đánh giá chất lượng sản phẩm  
tạo cơ sở khoa học đề xuất triển khai ứng dụng thực tiễn công tác.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Các kỹ thuật mật mã và ảnh số.  
Phạm vi nghiên cứu: Ứng dụng các kỹ thuật giấu tin và kỹ thuật mã hóa  
sử dụng trong lĩnh vực AN-QP.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Phân tích, tổng hợp, kết hợp với phương pháp chuyên gia, thử nghiệm,  
đánh giá thực tế dựa trên các cơ sở khoa học kỹ thuật và lý luận trong công tác  
nghiệp vụ.  
5. Bố cục luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt,  
hình vẽ, danh mục phụ lục, luận văn gồm 03 chương:  
Chương 1: Tổng quan về kỹ thuật giấu tin  
Chương 2: Nghiên cứu một số kỹ thuật giấu tin mật trong ảnh số  
Chương 3: Nghiên cứu xây dựng giải pháp kết hợp mã hóa và kỹ thuật  
giấu thông tin trong ảnh.  
       
3
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ KỸ THUẬT GIẤU TIN  
1.1 Giới thiệu chung về giấu thông tin  
Giấu tin là kỹ thuật nhúng (giấu) một lượng thông tin số nào đó vào một  
vật mang tin khác. Giấu tin trong ảnh số là giấu các mẩu tin dạng số trong máy  
tính vào các tệp ảnh nhị phân sao cho không bị người ngoài phát hiện [10].  
Kỹ thuật giấu tin nhằm hai mục đích bảo mật cho dữ liệu được đem  
giấu và bảo vệ cho chính đối tượng mang tin giấu. Hai khía cạnh khác nhau  
này dẫn đến hai kỹ thuật chủ yếu giấu tin mật (steganography) và thủy vân số  
hay thủy ấn (watermaking). Kỹ thuật giấu tin mật với mục đích đảm bảo an  
toàn và bảo mật thông tin, tập trung giấu được nhiều thông tin nhất đồng thời  
hạn chế tối đa khả năng bị phát hiện. Kỹ thuật thủy vân số đánh giấu vào đối  
tượng nhằm khẳng định bản quyền sở hữu hay phát hiện xuyên tạc thông tin,  
tập trung đảm bảo tính bền vững của đối tượng chứa tin.  
Mỗi kỹ thuật giấu tin gồm thuật toán giấu tin và bộ giải mã thông tin.  
Thuật toán giấu tin được dùng để giấu thông tin vào phương tiện mang bằng  
cách sử dụng khóa bí mật được dùng chung giữa người gửi và nhận, việc giải  
mã thông tin chỉ có thể thực hiện được khi có khoá. Bộ giải mã trên phương  
tiện mang đã chứa dữ liệu và trả lại thông điệp ẩn trong nó.  
Phương tiện chứa bao gồm các đối tượng được dùng làm môi trường để giấu  
tin như text, audio, video, ảnh…Thông tin giấu là lượng thông tin mang một ý nghĩa  
nào đó như ảnh, logo, đoạn văn bản… tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng.  
Thông tin sẽ được giấu vào trong phương tiện chứa nhờ một bộ nhúng, bộ nhúng là  
những chương trình triển khai các thuật toán để giấu tin và được thực hiện với một  
khóa bí mật giống như các hệ mã cổ điển. Sau khi giấu tin ta thu được phương tiện  
chứa bản tin đã giấu và phân phối sử dụng trên mạng. Sau khi đối tượng nhận được  
phương tiện có giấu thông tin, quá trình giải mã được thực hiện thông qua một bộ giải  
   
4
mã tương ứng với bộ nhúng thông tin cùng với khóa của quá trình nhúng. Kết quả  
thu được gồm phương tiện chứa gốc và thông tin đã giấu. Bước tiếp theo thông tin  
giấu sẽ được xử lý kiểm định so sánh với thông tin giấu ban đầu.  
Tóm lại, giấu thông tin là nghệ thuật và khoa học của truyền thông bên  
trong một truyền thông, mục đích của steganography là che giấu những thông  
báo bên trong những thông báo khác mà không làm ảnh hưởng đáng kể đến  
thông báo này, qua đó làm tăng độ an toàn của thông tin.  
1.2 Lịch sử ẩn giấu thông tin  
Từ Steganography bắt nguồn từ Hy Lạp và được sử dụng cho tới ngày  
nay, nó có nghĩa là tài liệu được phủ (covered writing). Những ghi chép sớm  
nhất về kỹ thuật giấu thông tin theo nghĩa nguyên thủy thuộc về sử gia Hy  
Lạp Herodotus. Khi bạo chúa Hy Lạp Histiaeus bị vua Darius bắt giữ ở Susa  
vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, ông đã gửi một thông báo bí mật cho  
con rể của mình là Aristagoras ở Miletus bằng cách cạo trọc đầu một nô lệ tin  
cậy và xăm thông báo bí mật trên da đầu của người nô lệ ấy. Khi tóc của  
người nô lệ này mọc đủ dài thì hắn được gửi tới Miletus.  
Một câu chuyện khác về thời Hi Lạp cổ đại cũng do Herodotus ghi lại,  
môi trường để ghi văn bản chính là các viên thuốc được bọc trong sáp ong.  
Demeratus cần thông báo cho Sparta việc Xerxes định xâm chiếm Hy Lạp.  
Tuy nhiên, để tránh bị phát hiện, anh ta đã bóc lớp sáp ra khỏi các viên thuốc  
và khắc thông báo lên bề mặt các viên thuốc này, sau đó bọc lại các viên  
thuốc bằng một lớp sáp mới. Những viên thuốc được để ngỏ và đã lọt qua mọi  
sự kiểm tra một cách dễ dàng.  
Mực không màu là phương tiện hữu hiệu cho bảo mật thông tin trong  
một thời gian dài. Người Romans cổ đã biết sử dụng những chất sẵn có như  
nước quả, nước tiểu và sữa để viết các thông báo bí mật giữa những hàng văn  
tự thông thường. Khi bị hơ nóng, loại mực không nhìn thấy này trở nên sẫm  
 
5
màu và dễ dàng đọc nội dung. Mực không màu cũng được sử dụng phổ biến  
trong chiến tranh thế giới thứ hai [6].  
Ý tưởng về che giấu thông tin đã có từ hàng nghìn năm trước và được  
dùng chủ yếu trong quân đội và các cơ quan tình báo. Thực tiễn, các kỹ thuật  
giấu tin này được sử dụng kết hợp với các bài toán, yêu cầu, biện pháp nghiệp  
vụ khác, làm tăng hiệu quả cho mục đích sử dụng.  
1.3 Các thành phần của hệ giấu tin  
Một hệ giấu tin gồm có các thành phần cơ bản sau:  
Mẩu tin: Có thể là văn bản, hình ảnh hay tệp tin tùy ý (âm thanh số,  
video số…), vì trong quá trình giấu tin, chúng đều được chuyển thành các  
chuỗi bit.  
Môi trường chứa tin: Thường là ảnh, nên gọi là ảnh phủ hay ảnh gốc.  
Ngoài ra còn có thể là âm thanh số, video số, văn bản…  
Khóa K: Khóa mật, tham gia vào quá trình giấu tin để tăng tính bảo mật.  
Môi trường đã chứa tin: Là môi trường chứa tin mật sau khi đã được  
nhúng tin mật vào; trường hợp môi trường ảnh thì gọi là ảnh mang.  
Xét theo góc độ toán học, có thể định nghĩa một lược đồ giấu tin như sau:  
K
Gọi Ks là một khóa viết mật (stego key) được xác định từ một tập  
M
của tất cả các khóa viết mật; là tập tất cả các thông điệp có thể được nhúng  
và là tập tất cả các vật mang có thể. Khi đó, một lược đồ giấu tin được thiết  
C
lập bởi 2 ánh xạ, ánh xạ nhúng Emb và ánh xạ trích xuất Ext:  
Emb: CKM  
C
C
M
sao cho:  
Ext:  
Ext(Emb(c, Ks ,m)) m với  
Vật mang s Emb(c,Ks ,m)được gọi là stego data.  
c
K
m
M
.
,
Ks  
và  
C
 
6
1.4 Phân loại các kỹ thuật giấu tin  
Do kỹ thuật giấu tin số mới được hình thành trong thời gian gần đây  
nên xu hướng phát triển chưa ổn định. Có nhiều cách phân loại khác nhau dựa  
trên các tiêu chí khác nhau. Theo Fabien A.P. Petitcolas đề xuất năm 1999 có  
thể chia lĩnh vực giấu tin theo hai hường lớn là giấu tin mật và thủy vân số.  
Trong đó kỹ thuật thủy vân số được chia thành hai xu hướng nhỏ là thủy vân  
dễ vỡ và thủy vân bền vững. Trong đó, thủy vân dễ vỡ yêu cầu thông tin giấu  
sẽ bị sai lệch nếu có bất kỳ sự thay đổi nào vào dữ liệu chứa tin, còn thủy vân  
bền vững quan tâm nhiều đến việc nhúng các mẩu tin đòi hỏi độ bền cao của  
thông tin được giấu trước các biến đổi thông thường trên dữ liệu chứa tin.  
Giấu thông tin  
Information hiding  
Giấu tin mật  
Thủy vân số  
Steganography  
Watermarking  
Thủy vân bền vững  
Copyright marking  
Thủy vân rễ vỡ  
Watermarking  
Thủy vân ẩn  
Imperceptible  
Thủy vân hiện  
Visible  
watermaring  
watermaring  
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại các kỹ thuật giấu tin  
1.5 Môi trường giấu tin  
1.5.1 Giấu tin trong ảnh  
Hiện nay, giấu tin trong ảnh chiếm tỉ lệ lớn nhất trong giấu tin đa  
phương tiện, bởi lượng thông tin được trao đổi bằng hình ảnh là rất lớn, chúng  
       
7
còn đóng vai trò quan trọng trong các ứng dụng xác thực, bảo vệ quyền tác  
giả, điều khiển truy cập, phát hiện xuyên tạc thông tin.  
Hình 1.2: Tỉ lệ phương tiện được lựa chọn để giấu tin  
Hình 1.3: Kỹ thuật giấu tin công bố trong giai đoạn 1992- 2007  
Thông tin sẽ được giấu cùng với dữ liệu ảnh nhưng chất lượng ảnh ít  
thay đổi và chẳng ai biết được đằng sau bức ảnh đó mang những thông tin có  
ý nghĩa. Ngày nay, khi ảnh số được sử dụng phổ biến, thì giấu thông tin trong  
ảnh đã đem lại nhiều ứng dụng quan trọng trong các lĩnh vực đời sống xã hội  
như tại các quốc gia phát triển, chữ ký tay đã được số hóa và lưu trữ sử dụng  
như hồ sơ cá nhân của các dịch vụ ngân hàng và tài chính. Nó được dùng để  
nhận thực trong các thẻ tín dụng của người tiêu dùng.  
   
8
Một số ứng dụng cho phép người dùng lưu trữ chữ ký trong ảnh nhị  
phân rồi gắn vào vị trí nào đó trong file văn bản để đảm bảo tính an toàn của  
thông tin. Tài liệu sau đó được truyền trực tiếp qua máy fax hoặc lưu truyền  
trên mạng và việc nhận thực chữ ký, xác thực thông tin trở thành một vấn đề  
quan trọng khi mà việc ăn cắp thông tin hay xuyên tạc thông tin bởi tin tặc  
đang trở thành một vấn nạn đối với bất kỳ quốc gia hay tổ chức nào. Thêm  
đó, có rất nhiều thông tin quan trọng, nhạy cảm cần được bảo mật, chúng  
được số hóa lưu trữ trong hệ thống máy tính hay trên mạng và xuất hiện nguy  
cơ dễ bị lấy cắp hoặc bị thay đổi. Việc nhận thực cũng như phát hiện thông tin  
xuyên tạc cũng trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. Đặc điểm nữa của  
giấu thông tin trong ảnh là thông tin được giấu một cách vô hình, tránh sự  
phát hiện của kẻ thứ ba, bởi chất lượng ảnh sau khi giấu gần như không thay  
đổi so với ban đầu.  
1.5.2 Giấu tin trong audio  
Giấu tin trong audio mang những đặc điểm riêng khác với giấu thông  
tin trong các đối tượng đa phương tiện khác. Kỹ thuật giấu tin trong ảnh phụ  
thuộc vào hệ thống thị giác của con người (HVS_Human Vision System) còn  
kỹ thuật giấu tin trong audio phụ thuộc vào hệ thống thính giác của con người  
(HAS_ Human Auditory System). HAS cảm nhận được các tín hiệu ở dải tần  
rộng và công suất lớn, nhưng lại kém trong việc phát hiện sự khác biệt nhỏ  
giữa các dải tần và công suất, có nghĩa các âm thanh to, cao tần có thể che  
giấu được các âm thanh nhỏ thấp một cách dễ dàng. Kênh truyền tin cũng là  
một vấn đề liên quan tới băng thông hay tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng đến chất  
lượng thông tin sau khi giấu. Giấu thông tin trong audio yêu cầu rất cao về  
tính đồng bộ và tính an toàn của thông tin.  
1.5.3 Giấu tin trong video  
Giấu tin trong video được quan tâm và phát triển mạnh mẽ cho nhiều  
ứng dụng như điều khiển truy cập thông tin, nhận thực thống tin và bảo vệ  
   
9
quyền tác giả. Ta có thể lấy một số ví dụ các hệ thống chương trình trả tiền  
xem theo video clip (pay per view application). Các thuật toán trước đây  
thường cho phép giấu ảnh vào trong video, nhưng kỹ thuật gần đây cho phép  
giấu được cả hình ảnh và âm thanh vào video.  
1.5.4 Giấu tin trong văn bản dạng text  
Giấu thông tin vào các văn bản dạng text khó thực hiện hơn do có ít các  
thông tin dư thừa, để làm được điều này người ta phải khéo léo khai thác các  
dư thừa tự nhiên của ngôn ngữ. Một cách khác là tận dụng các định dạng,  
khoảng cách giữa các từ khóa hay các dòng văn bản. Từ nội dung của thông  
điệp cần truyền đi, người ta cũng có thể sử dụng văn phạm phi ngữ cảnh để  
tạo nên các văn bản “phương tiện chứa” rồi truyền đi.  
1.6 Giấu tin trong ảnh số  
1.6.1 Một số khái niệm  
Giấu thông tin trong ảnh số là một phần của khái niệm giấu thông tin  
với việc sử dụng ảnh số làm phương tiện mang. Trong đó:  
Ảnh môi trường hay ảnh gốc (host image) là ảnh mà ta đem nhúng  
thông tin vào. Ảnh thu được sau khi đã giấu thông tin gọi là ảnh kết quả  
(result image). Ảnh kết quả càng ít nhiễu càng khó gây ra nghi ngờ về sự tồn  
tại của thông tin trong ảnh.  
Thông tin nhúng là lượng thông tin được nhúng vào trong ảnh môi trường.  
Phương tiện nhúng là đối tượng đa phương tiện ảnh đã có thông tin nhúng.  
Nhiễu là những đặc điểm lạ của phương tiện nhúng so với phương tiện  
chứa ban đầu.  
Thuỷ vân số: Là một kỹ thuật giấu các thuỷ vân vào trong phương tiện  
chứa, kỹ thuật không yêu cầu về tính không nhìn thấy của thông tin nhúng.  
Có nhiều cách để phân loại các kỹ thuật giấu thông tin trong ảnh số, dựa  
trên lĩnh vực áp dụng các kỹ thuật người ta chia kỹ thuật giấu tin trong ảnh thành  
watermarking và image hiding. Watermarking là kỹ thuật nhúng một biểu tượng  
     
10  
vào trong ảnh môi trường để xác định quyền sở hữu ảnh môi trường. Kích thước  
của biểu tượng thường nhỏ từ vài bit đến vài nghìn bit. Kỹ thuật này cho phép  
đảm bảo nguyên vẹn biểu tượng khi ảnh môi trường bị biến đổi bởi các phép  
thao tác như lọc, nén mất dữ liệu, hay các biến đổi hình học...  
Image hiding là kỹ thuật dùng một ảnh môi trường để lưu trữ và chuyển  
giao các dữ liệu quan trọng với kích thước tương đối lớn một cách an toàn.  
Mục đích của ảnh image hiding là làm cho dữ liệu trở nên không quan sát  
được đối với thị giác của con người.  
1.6.2 Mô hình kỹ thuật giấu tin, tách tin  
Giấu thông tin vào phương tiện chứa và tách lấy thông tin là hai quá  
trình trái ngược nhau và có thể mô tả qua sơ đồ khối của hệ thống như sau:  
Hình 1.4: Sơ đồ giấu tin  
Đầu vào:  
Thông tin cần giấu (M) tuỳ theo mục đích của người sử dụng, nó có thể  
là thông điệp (với giấu tin bí mật) hay các logo, hình ảnh bản quyền.  
Phương tiện chứa (C): các file ảnh, text, audio…là môi trường để  
nhúng tin.  
Khoá (K) là thành phần để góp phần làm tăng độ bảo mật.  
Bộ nhúng thông tin: là những chương trình thực hiện việc giấu tin.  
Đầu ra: là các phương tiện chứa đã có tin giấu trong đó.  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 88 trang yennguyen 19520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu, tìm hiểu kỹ thuật giấu tin mật và ứng dụng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_tim_hieu_ky_thuat_giau_tin_mat_va_ung_du.pdf