Luận văn Đánh giá các chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
------------------  
Võ Văn Quốc  
Đánh giá các chính sách khuyến khích đầu tư  
trong lĩnh vực giáo dục mầm non  
tỉnh Tiền Giang  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017  
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
-----------------  
KHOA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
Võ Văn Quốc  
Đánh giá các chính sách khuyến khích đầu tư  
trong lĩnh vực giáo dục mầm non  
tỉnh Tiền Giang  
Chuyên ngành  
Mã số  
:
:
Quản lý công  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. Phạm Khánh Nam  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017  
MỤC LỤC  
Trang  
Lời cam đoan  
Mục lục  
Danh mục chữ viết tắt  
Danh mục các bảng, hình vẽ  
Chương 1 Giới thiệu ………………………………………………………………  
1
1.1  
1.2  
1.3  
1.4  
1.5  
1.6  
Đặt vấn đề ……………………………………………………………… 1  
Mục tiêu nghiên cứu …………………………………………................ 3  
Câu hỏi nghiên cứu …………………………………………………….. 3  
Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………. 3  
Cấu trúc luận văn ………………………………………………………. 5  
Tổng quan về giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang và thực trạng công  
tác XHH giáo dục mầm non tại Tiền Giang trong thời gian qua …….  
5
1.7  
Dự báo qui mô giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang đến năm 2025 …… 9  
Chương 2 Cơ sở lý luận ………………………………………………………….. 11  
2.1 Khảo lược lý thuyết …………………………………………………… 11  
2.1.1 Giáo dục mầm non …………………………………………………….. 11  
2.1.2 Chính sách xã hội hóa …………………………………………………. 12  
2.1.3 Đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực giáo dục  
2.1.4 Chính sách khuyến khích XHH hoạt động trong lĩnh vực giáo dục ở  
13  
tỉnh Tiền Giang ………………………………………………………… 16  
Khảo lược các nghiên cứu liên quan ………………………………….. 20  
2.2  
Chương 3 Thiết kế nghiên cứu …………………………………………………… 23  
3.1  
3.2  
3.3  
Khung phân tích ………………………………………………………. 23  
Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………. 24  
Phương pháp thu thập số liệu ………………………………………….. 24  
Chương 4 Kết quả phân tích ………………………………………………………. 27  
4.1 Kết quả phân tích định tính ……………………………………………. 27  
4.1.1 Kết quả phỏng vấn các trường mầm non tư thục hiện có …………… 27  
4.1.2 Kết quả phỏng vấn các nhà đầu tư tiềm năng ………………………….. 31  
4.1.3 Kết quả phỏng vấn một số sở, ban, ngành của tỉnh Tiền Giang 36  
4.2 Tóm tắt nội dung phân tích …………………………………………….. 39  
Chương 5 Hàm ý chính sách và kết luận ………………………………………….. 42  
5.1 Hàm ý chính sách ……………………………………………................. 42  
5.1.1 Đối với các bộ ngành trung ương ……………………………................ 42  
5.1.2 Đối với Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền  
Giang ………………………………………………................................ 42  
5.1.3 Đối với các sở, ban, ngành trong tỉnh Tiền Giang ……………………... 44  
5.2  
5.3  
Ý nghĩa thực tiễn, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu kế tiếp 44  
Kết luận đề tài ………………………………………………................ 45  
Danh mục tài liệu tham khảo  
Phiếu khảo sát  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
CS1  
CS2  
CS3  
CS4  
MN  
Chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất  
Chính sách ưu đãi tín dụng  
Chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng  
Chính sách miễn, giảm tiền thuê đất  
Mầm non  
Quyết định số/19/2015  
Quyết định số 19/2015/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 của  
Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành quy định về  
khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong  
lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi  
trường, giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang  
UBND tỉnh Tiền Giang Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang  
Sở GDĐT tỉnh Tiền  
Giang  
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tiền Giang  
XHH  
Xã hội hóa  
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ  
Trang  
9
Bảng 1 Dự báo qui mô học sinh giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang  
đến năm 2025  
Bảng 2 Đánh giá của các trường mần mon hiện có về bốn chính sách  
khuyến khích đầu tư  
27  
Bảng 3 Đánh giá của các nhà đầu tư tiềm năng về bốn chính sách  
khuyến khích đầu tư  
32  
Bảng 4 Đánh giá của các sở, ban, ngành của tỉnh Tiền Giang về bốn  
chính sách khuyến khích đầu tư  
36  
39  
23  
Bảng 5 Tổng hợp đánh giá của các đối tượng phỏng vấn  
Hình 1 Khung phân tích  
1
Chương 1  
GIỚI THIỆU  
1.1. Đặt vấn đề  
Trong xu thế hội nhập quốc tế và phát triển công nghiệp mạnh mẽ ở Việt Nam  
hiện nay đã làm thay đổi vùng nông thôn ở nước ta với tốc độ nhanh chóng, việc di  
cư từ khu vực nông thôn ra thành thị đã làm cho không gian đô thị mở rộng ra, nông  
thôn bị thu hẹp lại, kéo theo đó là các vấn đề về giáo dục, y tế, giao thông, nhà ở …  
phải có sự thay đổi, thích ứng cho phù hợp với xu thế ấy.  
Giáo dục mầm non ở tỉnh Tiền Giang trước năm 2005, phần lớn trẻ em ở vùng  
nông thôn trong độ tuổi mầm non (từ 0 đến 4 tuổi) sẽ được sự chăm sóc, nuôi dạy từ  
bố mẹ hoặc ông bà, khi trẻ được 5 tuổi sẽ đến lớp mẫu giáo học một năm để chuẩn  
bị vào lớp một. Nhưng hiện nay, do tác động của quá trình công nghiệp hóa, một  
lực lượng lớn người lao động ở nông thôn chuyển vào các khu công nghiệp, cụm  
công nghiệp để làm việc, người lao động có con nhỏ dưới 6 tuổi bắt buộc phải gửi  
con vào trường mầm non để đi làm, điều này tạo ra áp lực lớn cho giáo dục mầm  
non.  
Vào thời điểm đó, giáo dục mầm non của tỉnh Tiền Giang đứng trước thách  
thức lớn là không đủ phòng học để tổ chức dạy học, và thiếu đội ngũ giáo viên, nhất  
là những trường mầm non vùng nông thôn. Việc huy động học sinh đến lớp học rất  
thấp so với bình quân chung của cả nước. Toàn tỉnh huy động được 25,4% so với  
dân số độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi; bình quân chung cả nước là 56% so với dân số độ  
tuổi từ 0 đến 5 tuổi.  
Trước thực trạng trên, để đạt mục tiêu tăng cường đầu tư phát triển giáo dục  
mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn xã,  
phường thì một loại các chiến lược được các cấp quản lý giáo dục đưa ra như: Phát  
triển đa dạng các loại hình cơ sở giáo dục mầm non bao gồm công lập, dân lập, tư  
thục theo định hướng thành lập các trường công lập ở các xã vùng sâu, vùng xa, các  
xã chưa có trường mầm non; đầu tư xây dựng thêm phòng học để tạo điều kiện cho  
2
trẻ em độ tuổi mầm non đến trường; khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư mở  
trường lớp mầm non dân lập, tư thục.  
Tuy nhiên, hệ thống mạng lưới trường lớp của giáo dục mầm non ở tỉnh Tiền  
Giang hiện nay vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của người dân, tỷ lệ huy động  
của tỉnh vẫn còn thấp do bình quân chung cả nước.  
Bởi do tác động của quá trình công nghiệp hóa, một lực lượng lớn người lao  
động ở nông thôn chuyển vào các khu công nghiệp để tìm việc làm, người lao động  
có con nhỏ dưới 5 tuổi bắt buộc phải gửi con vào trường mầm non để đi làm, điều  
này tiếp tục tạo ra áp lực lớn cho ngành giáo dục. Giáo dục công lập được tài trợ từ  
ngân sách nhà nước không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu này.  
Nhu cầu trẻ em từ 0 - 5 tuổi đi học là rất lớn. Theo số liệu điều tra của Cục  
Thống kê tỉnh Tiền giang (thời điểm 01/4/2014), toàn tỉnh Tiền Giang có 129.200  
trẻ em trong độ tuổi từ 0 - 5 tuổi (Cục Thống kê tỉnh Tiền giang, 2014), nhưng đến  
năm học 2014-2015, ngành giáo dục và đào tạo Tiền Giang chỉ tiếp nhận được  
52.176 học sinh mầm non, chiếm tỷ lệ 40,38% so với tổng số trẻ trong độ tuổi từ 0  
đến 5 tuổi (Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang, 2014).  
Hệ thống trường lớp mầm non ngoài công lập (gồm nhóm trẻ gia đình, trường  
mầm non tư thục, mầm non dân lập) chưa được thành lập nhiều. Năm 2005, toàn  
tỉnh Tiền Giang có 115 trường mầm non, trong đó có 4 trường mầm non tư thục  
(chiếm tỷ lệ 3,4 % so tổng số trường) (Báo cáo thống kê Sở GDĐT Tiền Giang,  
2005). Đến năm 2015, số trường mầm non tăng lên 186 trường, trong đó số trường  
mầm non tư thục là 12 trường (chiếm tỷ lệ 6,4 % so tổng số trường), (Báo cáo thống  
kê Sở GDĐT Tiền Giang, 2015).  
Mặc dù Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ban hành nhiều  
chính sách nhằm kêu gọi thu hút các nhà đầu tư đầu xây dựng dựng trường mầm  
non, nhưng trong giai đoạn 2005-2015, số trường công lập tăng 63 trường, số  
trường tư thục chỉ tăng 8 trường. Điều này cho thấy rằng, nhà đầu tư rất quan ngại  
về khả thu hồi vốn khi đầu tư vào trường mầm non tư thục, các chính sách ưu đãi,  
khuyến khích chưa phù hợp.  
3
Đây là một vấn đề cần phải được tháo gỡ, tìm giải pháp khắc phục trong thời  
gian tới, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, nhằm thực hiện chính sách xã hội  
hóa (XHH) giáo dục một cách hiệu quả.  
Do ngân sách nhà nước (nguồn lực công) không thể đáp ứng đầy đủ các nhu  
cầu của giáo dục mầm non, nên cần có một giải pháp để kêu gọi, thu hút các nhà  
đầu tư tư nhân đầu tư xây dựng trường mầm non tư thục, dân lập, nhằm tạo môi  
trường thuận lợi hơn trong giáo dục mầm non.  
Ngày 14/02/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu  
tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), đây là cơ sở pháp lý để lựa chọn hình thức  
hợp tác giữa nhà nước và nhà đầu tư trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có  
lĩnh vực giáo dục.  
Tại tỉnh Tiền Giang, ngày 01/6/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang  
(UBND tỉnh Tiền Giang) đã ban hành Quyết định số 19/2015/QĐ-UBND quy định  
về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y  
tế, văn hóa, thể thao, môi trường, giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang  
(sau đây gọi tắt là Quyết định số 19/2015).  
Thực tế hiện nay, có rất ít các công trình nghiên cứu về chính sách khuyến  
khích đầu tư trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non.  
Từ những phân tích trên, đề tài “Đánh giá các chính sách khuyến khích đầu  
tư trong lĩnh vực giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang” sẽ nghiên cứu, phân tích  
sự phù hợp của bốn chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực giáo dục mầm  
non ở tỉnh Tiền Giang, gồm các chính sách chủ yếu như sau:  
- Chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất (CS 1);  
- Chính sách ưu đãi tín dụng (CS 2);  
- Chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng (CS 3);  
- Chính sách miễn, giảm tiền thuê đất (CS 4).  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
4
Từ phân tích nêu trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích sự phù hợp  
của bốn chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực giáo dục mầm non ở tỉnh  
Tiền Giang, bốn chính sách gồm:  
- Chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất.  
- Chính sách ưu đãi tín dụng.  
- Chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng.  
- Chính sách miễn, giảm tiền thuê đất.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
Tương ứng với mục tiêu nghiên cứu của đề tài, có bốn câu hỏi nghiên cứu sau:  
- Chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất có phù hợp với nhu cầu của  
nhà đầu tư?  
- Chính sách ưu đãi tín dụng có phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư?  
- Chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng có phù hợp với nhu cầu của  
nhà đầu tư?  
- Chính sách miễn, giảm tiền thuê đất có phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư?  
1.4. Phạm vi nghiên cứu  
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chỉ đề cập đến lĩnh vực giáo dục mầm non  
trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.  
Đối tượng nghiên cứu bốn chính sách chủ yếu trong khuyến khích đầu tư giáo  
dục mầm non, gồm chính sách cho thuê, xây dựng cơ sở vật chất; ưu đãi tín dụng;  
hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng và miễn, giảm tiền thuê đất.  
Nghiên cứu đánh giá sự phù hợp của bốn chính sách khuyến khích đầu tư  
trong lĩnh vực giáo dục mầm non nhằm đưa ra giải pháp tìm kiếm, thu hút sự đóng  
góp của cộng đồng, của các nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực mầm non ở tỉnh Tiền  
Giang.  
Các nhận xét, đánh giá của nhà đầu tư trong nghiên cứu này được xác định là  
các đánh giá về mức độ cần thiết, sự phù hợp của các chính sách khuyến khích đầu  
tư. Nghiên cứu không nhằm đến việc lượng hóa, đo lường nhu cầu của nhà đầu tư.  
5
1.5. Cấu trúc luận văn  
Luận văn bao gồm 5 chương, cấu trúc như sau:  
Chương 1: Giới thiệu  
1.1.Đặt vấn đề  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.3. Phạm vi nghiên cứu  
1.4. Cấu trúc luận văn  
1.5. Tổng quan về giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang và thực trạng công  
tác XHH giáo dục mầm non tại Tiền Giang trong thời gian qua  
1.6 Qui mô giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang đến năm 2025  
Chương 2: Cơ sở lý luận  
2.1. Khảo lược lý thuyết  
2.2. Khảo lược các nghiên cứu liên quan  
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu  
3.1 Khung phân tích  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
3.3. Phương pháp thu thập số liệu  
Chương 4: Kết quả phân tích  
4.1. Kết quả phân tích định tính  
4.2. Tóm tắt nội dung phân tích  
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách  
5.1. Kết luận, ý nghĩa thực tiễn  
5.2. Hàm ý chính sách  
1.6. Tổng quan về giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang và thực trạng công tác  
XHH giáo dục mầm non tại Tiền Giang trong thời gian qua  
Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục,  
trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang. Song về chuyên môn, Sở Giáo dục và  
Đào tạo Tiền Giang thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là mô hình  
quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, cụ thể, quản lý theo ngành thì Sở Giáo dục và  
6
Đào tạo Tiền Giang thuộc ngành giáo dục và đào tạo, chịu sự chỉ đạo chuyên môn  
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, còn quản lý theo lãnh thổ thì Sở Giáo dục và Đào tạo  
Tiền Giang chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh Tiền Giang.  
Về cơ cấu tổ chức, Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang có 7 phòng chức  
năng với 56 cán bộ công chức, trong đó, Ban Giám đốc là 3 người, 12 người là  
Trưởng/Phó các phòng chức năng, còn lại 41 công chức; mỗi phòng chức năng bình  
quân có từ 5 đến 8 công chức. Sở GDĐT tỉnh Tiền Giang được tổ chức theo mô  
hình quản lý trực tuyến – chức năng, bên cạnh những công việc theo chức năng, các  
công chức của Sở GDĐT Tiền Giang còn phân công, giao việc trực tiếp từ Giám  
đốc sở.  
Đặc biệt, lĩnh vực giáo dục mầm non, trước đây, khi một trẻ em ở vùng nông  
thôn trong độ tuổi mầm non (từ 3 tháng đến dưới 6 tuổi), phần lớn khoảng thời gian  
từ 0 đến 4 tuổi của trẻ sẽ được sự chăm sóc, nuôi dạy từ bố mẹ hoặc ông bà, khi bé  
được 5 tuổi sẽ đến lớp mẫu giáo học một năm để chuẩn bị vào lớp một. Nhưng hiện  
nay, do tác động của quá trình công nghiệp hóa, một lực lượng lớn người lao động ở  
nông thôn chuyển vào các khu công nghiệp, khu chế xuất để làm việc, người lao  
động có con nhỏ dưới 6 tuổi bắt buộc phải gửi con vào trường mầm non để đi làm,  
điều này tạo ra áp lực lớn cho ngành giáo dục.  
Khi tiến hành hoạt động giáo dục mầm non, có hai yếu tố cơ bản phải đáp ứng  
đó là cơ sở vật chất nhà trường và đội ngũ giáo viên, thiếu một trong hai vấn đề trên  
thì không thể thực hiện được hoạt động nuôi và dạy trẻ.  
Trước năm 2005, giáo dục mầm non của tỉnh Tiền Giang đứng trước thách  
thức lớn là không đủ phòng học để tổ chức dạy học, và thiếu đội ngũ giáo viên, nhất  
là những trường mầm non vùng nông thôn. Việc huy động học sinh đến lớp học rất  
thấp so với bình quân chung của cả nước. Toàn tỉnh huy động được 25,4% so với  
dân số độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi; bình quân chung cả nước là 56% so với dân số độ  
tuổi từ 0 đến 5 tuổi.  
Hoạt động nuôi và dạy trẻ của giáo dục mầm non được thực hiện với hai hình  
thức: (i) Trường mầm non được Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thành  
7
lập, có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; (ii)  
Tổ mầm non ghép với trường tiểu học, không được Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra  
quyết định thành lập, do thiếu các điều kiện về phòng học, giáo viên, cán bộ quản  
lý. Các tổ mầm non này chịu sự quản lý của hiệu trưởng trường tiểu học và phòng  
học phải mượn của trường tiểu học.  
Bên cạnh đó, một lý do xuất phát từ chủ trương quản lý giáo dục trước năm  
2005 là “đưa trường học đến với học sinh”, trong mỗi địa bàn xã, trường mầm non  
có rất nhiều điểm trường, có thể nói là mỗi một ấp (thôn) thì có một hai phòng học  
hiện diện ở đó. Một trường mầm non có đến 7 hoặc 8 điểm trường phụ nằm rải rác  
ở các ấp. Điều này được giải thích là do học sinh mầm non không thể đi một đoạn  
đường quá xa từ nhà đến trường với điều kiện địa lý có nhiều kênh rạch chằng chịt.  
Từ năm 2005 đến nay, bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước (nguồn lực công)  
của trung ương và địa phương, ngành Giáo dục Tiền Giang đã tổ chức xây dựng  
mới được 76 ngôi trường với trên 450 được xây phòng học được xây dựng; điều này  
đã làm cho tỷ lệ huy động học sinh mầm non tăng lên 21,9% (2002) lên 39% (năm  
2014).  
Tuy nhiên, hệ thống mạng lưới trường lớp của giáo dục mầm non ở tỉnh Tiền  
Giang hiện nay vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của người dân, tỷ lệ huy động  
của tỉnh vẫn còn thấp do bình quân chung cả nước. Bởi do tác động của quá trình  
công nghiệp hóa, một lực lượng lớn người lao động ở nông thôn chuyển vào các  
khu công nghiệp để tìm việc làm, người lao động có con nhỏ dưới 5 tuổi bắt buộc  
phải gửi con vào trường mầm non để đi làm, điều này tiếp tục tạo ra áp lực lớn cho  
ngành giáo dục. Giáo dục công lập được tài trợ từ ngân sách nhà nước không thể  
đáp ứng đầy đủ nhu cầu này.  
Nhu cầu trẻ em từ 0 - 5 tuổi đi học là rất lớn. Theo số liệu điều tra của Cục  
Thống kê tỉnh Tiền giang (thời điểm 01/4/2014), toàn tỉnh Tiền Giang có 129.200  
trẻ em trong độ tuổi từ 0 - 5 tuổi (Cục Thống kê tỉnh Tiền giang, 2014), nhưng đến  
năm học 2014-2015, ngành giáo dục và đào tạo Tiền Giang chỉ tiếp nhận được  
8
52.176 học sinh mầm non, chiếm tỷ lệ 40,38% so với tổng số trẻ trong độ tuổi từ 0  
đến 5 tuổi (Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang, 2014).  
Hệ thống trường lớp mầm non ngoài công lập (gồm nhóm trẻ gia đình, trường  
mầm non tư thục, mầm non dân lập) chưa được thành lập nhiều. Năm 2005, toàn  
tỉnh Tiền Giang có 115 trường mầm non, trong đó có 4 trường mầm non tư thục  
(chiếm tỷ lệ 3,4 % so tổng số trường) (Báo cáo thống kê Sở GDĐT Tiền Giang,  
2005). Đến năm 2015, số trường mầm non tăng lên 186 trường, trong đó số trường  
mầm non tư thục là 12 trường (chiếm tỷ lệ 6,4 % so tổng số trường), (Báo cáo thống  
kê Sở GDĐT Tiền Giang, 2015).  
Phần lớn các trường học là loại hình trường mầm non công lập. Loại hình  
trường tư thục, dân lập chưa phát triển do chưa có chính sách ưu đãi, khuyến khích  
đầu tư vào giáo dục mầm non. Các trường mầm non tư thục chỉ hoạt động trên địa  
bàn thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Gông và trung tâm của một số huyện, còn lại các  
huyện vùng nông thôn của tỉnh chưa có trường mầm non tư thục, dân lập.  
Một lý do khác dẫn đến loại hình trường mầm non tư thục không tăng là do  
nhà đầu tư có sự so sánh giữa chi phí đầu tư và lợi nhuận thu được trong đầu tư  
trường mầm non tư thục.  
Đến năm 2015, toàn tỉnh có 186 trường mầm non, gồm 174 trường công lập và  
12 trường tư thục, với 1.618 lớp (1.471 lớp công lập, 147 lớp tư thục), huy động  
được 52.176 học sinh từ 0 đến dưới 6 tuổi ra lớp, chiếm tỷ lệ 40,38% so dân số độ  
tuổi 0-5 tuổi (52.176/129.200). Trong tổng số học sinh huy động ra lớp, các trường  
tư thục đã huy động được 4.317 học sinh, chiến tỷ lệ 8,27% so tổng số học sinh huy  
động trong toàn tỉnh (Báo cáo thống kê của SGDĐT TG, 2015). Điều này cho thấy  
rằng, mặc dù qui mô học sinh có tăng lên so năm 2005, nhưng tăng chủ yếu ở các  
trường công lập, trường tư thục tăng không đáng kể.  
Thời điểm 2005, toàn tỉnh có 2.697 giáo viên mầm non (loại hình công lập có  
2.306 giáo viên, loại hình tư thục có 391 giáo viên); toàn tỉnh có 1.824 phòng học  
giáo dục mầm non (loại hình công lập có 1.653 phòng, loại hình tư thục có 171  
phòng).  
9
Trước áp lực gia tăng về qui mô học sinh do tác động của quá trình công  
nghiệp hóa của tỉnh, một lực lượng lớn người lao động ở nông thôn chuyển vào các  
khu công nghiệp, cụm công nghiệp để làm việc, người lao động có con nhỏ dưới 6  
tuổi bắt buộc phải gửi con vào trường mầm non để đi làm, điều này tạo ra áp lực lớn  
cho ngành giáo dục của tỉnh.  
4.2. Dự báo qui mô giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang đến năm 2025  
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tiền Giang dự báo qui mô học sinh giáo dục  
mầm non tỉnh Tiền Giang đến năm 2025 được trình bày tại bảng 1 như sau:  
Bảng 1: Dự báo qui mô học sinh giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang đến  
năm 2025  
Đơn  
vị  
tính  
TH  
năm  
2005  
TH  
năm  
2015  
KH  
năm  
2016  
KH  
năm  
2017  
KH  
năm  
2018  
KH  
năm  
2019  
KH  
năm  
2020  
KH  
năm  
2025  
Các chỉ tiêu  
STT  
Dân số độ  
tuổi từ 0 đến  
5 tuổi  
Tổng số học  
sinh mầm non  
Người 168.921 129.200 131.000 134.000 134.500 135.000 135.000 136.350  
1
2
Người  
42.967  
52.176  
59.633  
61.535  
62.249  
63.014  
63.722  
77.528  
- Tỷ lệ HS  
mầm non so  
dân số độ tuổi  
0-5 tuổi (2/1)  
Học sinh  
%
25,44% 40,38% 45,52% 45,92% 46,28% 46,68% 47,20% 56,86%  
mầm non  
công lập  
Người  
%
38.968  
47.859  
54.800  
56.535  
49.729  
49.868  
49.919  
60.078  
2.1  
2.2  
- Tỷ lệ HS  
mầm non  
công lập so  
tổng số học  
sinh mầm non  
(2.1/2)  
Học sinh  
mầm non tư  
thục  
- Tỷ lệ HS  
mầm non tư  
thục so tổng  
số học sinh  
mầm non  
90,69% 91,73% 91,90% 91,87% 79,89% 79,14% 78,34% 77,49%  
Người  
%
3.999  
4.317  
4.833  
5.000  
12.520  
13.146  
13.803  
17.449  
9,31%  
8,27%  
8,10%  
8,13% 20,11% 20,86% 21,66% 22,51%  
(2.2/2)  
10  
Tóm tắt chương 1:  
Giới thiệu tổng quan về giáo dục mầm non của tỉnh Tiền Giang, điều kiện,  
bối cảnh nghiên cứu. Tác giả trình bày, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi, phương pháp  
nghiên cứu; trình bày kết cấu của luận văn. Phân tích thực trạng công tác xã hội hóa  
giáo dục mầm non trong giai đoạn 2005-2015.  
11  
Chương 2  
CƠ SỞ LÝ LUẬN  
2.1. Khảo lược lý thuyết  
2.1.1 Giáo dục mầm non  
Theo Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số  
điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009, thì giáo dục mầm mon được  
quy định như sau:  
Giáo dục mầm non: Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm  
sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.  
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình  
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho  
trẻ em vào học lớp một.  
Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non; cụ thể  
hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định  
việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình  
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi  
mầm non.  
Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:  
+ Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi;  
+ Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi;  
+ Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ  
em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.  
XHH sự nghiệp giáo dục được khẳng định: Phát triển giáo dục, xây dựng xã  
hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ  
đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường  
và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá  
nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có  
trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục  
tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.  
12  
2.1.2 Chính sách xã hội hóa  
Nhằm khuyến khích toàn bộ xã hội tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ  
mang tính chất sự nghiệp (giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi  
trường…), nhà nước đã ban hành các văn bản quy định ưu đãi dành cho các cá  
nhân, tổ chức tham gia hoạt động đó. Các quy định này được thể hiện lần đầu trong  
Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến  
khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao;  
kế tiếp là Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về về đẩy  
mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Chính sách  
hiện nay được quy định trong Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của  
Chính phủ về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực  
giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.  
Chính sách về XHH được khẳng định nhằm mở rộng các nguồn lực đầu tư,  
khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội. Phát huy và sử  
dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục,  
y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, là chính sách lâu dài, là  
phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là  
biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩ tình thế trược mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho  
các hoạt động này.  
Chính sách XHH cũng được coi là giải pháp để giải quyết vấn đề công bằng  
xã hội, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho dịch vụ công. Thực hiện XHH giáo dục, y tế,  
văn hóa là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong  
chiến lược phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta. Công bằng xã hội không chỉ biểu  
hiện về mặt hưởng thụ (tức là người dân được xã hội và nhà nước chăm lo), mà còn  
biểu hiện cả về mặt người dân đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế  
của từng người, từng tổ chức.  
Trong lĩnh vực giáo dục thực hiện đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực  
hiện công bằng xã hội trong giáo dục: người đi học phải đóng học phí, người sử  
13  
dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo. Nhà nước có chính sách  
bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học.  
Chính sách XHH tiếp tục được khẳng định như là chủ trương quan trọng để  
đẩy mạnh phát triển giáo dục, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 05/2005/NQ-  
CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và  
thể dục thể thao, Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy  
định về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo  
dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.  
2.1.3 Đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực giáo dục  
Hiện nay, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo so  
với GDP của Việt Nam không thấp so với nhiều nước trên thế giới, song phần dành  
cho đầu tư không nhiều, cộng thêm công tác quản lý còn hạn chế khiến nguồn lực  
đầu tư cho giáo dục lại càng thêm hạn hẹp và kém hiệu quả. Đầu tư cho con người  
là lĩnh vực quan trọng trong đầu tư công, bởi xét về dài hạn, chính sự gia tăng về  
chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng cũng như năng lực cạnh  
tranh của một quốc gia.  
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu  
nhận thấy nguồn lực ngân sách không thể đáp ứng được nhu cầu cơ bản của việc  
cung cấp dịch vụ giáo dục có chất lượng cho xã hội. Do đó, họ đã nghiên cứu các  
mô hình nhằm kêu gọi sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước vào đầu tư cung  
ứng dịch vụ công và đã đạt được nhiều thành công. Mục đích của việc hình thành  
mối quan hệ công - tư này là huy động nguồn lực và tính sáng tạo, công nghệ tiên  
tiến cũng như kinh nghiệm quốc tế về giáo dục của khu vực tư nhân.  
Ở Việt Nam, với nguồn tài chính còn hạn hẹp, hệ thống giáo dục và đào tạo  
đâu đó còn mang nặng tính lý thuyết, tuyên truyền, thiếu sự sáng tạo, thì việc áp  
dụng hình thức đầu tư đối tác công tư có thể tạo nên những thay đổi đáng kể trong  
hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam.  
Cụ thể, đối với giáo dục và đào tạo, trong giai đoạn 2009 - 2013, tổng vốn  
đầu tư của Chính phủ dành cho lĩnh vực này liên tục tăng từ 9 - 13%/năm, nhưng tỷ  
14  
lệ vốn đầu tư chỉ ở mức 2,8 - 3,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Từ đầu năm 2014,  
vốn đầu tư cho giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ dù có tăng, nhưng vẫn  
chưa thể mang lại hiệu quả vượt bậc cho giáo dục và đào tạo cũng như khoa học và  
công nghệ.  
Mặt khác, nhìn vào Bảng tổng hợp chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo và khoa  
học công nghệ trong giai đoạn nêu trên do Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và  
Đầu tư) cung cấp cũng có thể thấy: Phần lớn số vốn chi cho giáo dục của Việt Nam  
là đổ vào các trường công ở mọi cấp học. Số lượng các trường công ở mức cao,  
trong đó có cấp tiểu học và trung học cơ sở luôn chiếm trên 99% số lượng trường  
trên cả nước. Cơ cấu chi tiêu công thường xuyên trong lĩnh vực này vẫn lấn át so  
với chi tiêu cho đầu tư, đặc biệt là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.  
Chính bởi những lý do đó, cần có các biện pháp ưu đãi để khuyến khích khu  
vực kinh tế ngoài nhà nước tham gia vào phát triển giáo dục và đào tạo. Đây là công  
cụ được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển để đảm bảo chất lượng đào tạo cũng  
như “lợi dụng” những chính sách ưu đãi để thu hút nguồn lực xã hội. Đẩy mạnh áp  
dụng hình thức đầu tư PPP trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo sẽ góp phần thu hút  
khu vực tư nhân cùng tham gia phát triển đất nước.  
Như vậy, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về  
đầu tư theo hình thức đối tác công tư được ban hành sẽ tạo điều kiện và khuyến  
khích cho nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các dự án công, trong đó có lĩnh vực  
giáo dục.  
Theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu  
tư theo hình thức đối tác công tư đã quy định đầu tư theo hình thức đối tác công tư  
là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự  
án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.  
Các hợp đồng thực hiện dự án PPP bao gồm:  
+ Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là  
hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và  
15  
nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công  
trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất  
định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền.  
+ Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là  
hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và  
nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công  
trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được  
quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.  
+ Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là  
hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây  
dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự  
án khác theo các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 14 và Khoản 3 Điều 43  
Nghị định này.  
+ Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp  
đồng BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà  
đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình,  
nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn  
nhất định.  
+ Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (sau đây gọi tắt là  
hợp đồng BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và  
nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công  
trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được  
quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một  
thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán  
cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định này.  
+ Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là  
hợp đồng BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 59 trang yennguyen 17640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Đánh giá các chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực giáo dục mầm non tỉnh Tiền Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_danh_gia_cac_chinh_sach_khuyen_khich_dau_tu_trong_l.pdf