Luận văn Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống từ thực tiễn tỉnh Long An

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VÕ TẤN KHÔI  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG  
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH  
HÀ NỘI - 2018  
VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VÕ TẤN KHÔI  
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG  
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN  
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính  
Mã số: 8 38 01 02  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG  
HÀ NỘI - 2018  
LỜI CẢM ƠN  
Luận văn này được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ  
của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, các cá nhân và tập thể.  
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Việt  
Hương, người đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.  
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô, những người đã đem lại cho  
tôi những kiến thức bổ trợ quý báu trong những năm học vừa qua.  
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Khoa Luật và  
Cơ sở Học viện Khoa học tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi  
hoàn thành chương trình các học phần.  
Xin chân thành cảm ơn Thường trực Huyện ủy Cần Giuộc; lãnh đạo Văn  
phòng Huyện ủy Cần Giuộc; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An, Bảo tàng  
Long An, Ban quản lý Di tích Lịch sử - Văn hóa tỉnh Long An; Phòng Văn hóa và  
Thông tin huyện Cần Giuộc đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia học tập và nhiệt  
tình giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình sưu tầm tài liệu giúp tôi thực hiện  
hoàn thành luận văn này.  
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những  
người đã luôn động viên và khuyến khích tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề  
tài nghiên cứu của mình.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
MỤC LỤC  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.1: Thống kê số liệu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thu nhập bình quân theo đầu  
người hàng năm…………………………………………………………………...…….34  
Bảng 2.2: Thống kê cán bộ theo trình độ (đơn vị tính: người) ………...……..…...41  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Lễ hội truyền thống là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể, là  
nét đẹp văn hóa được hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc. Lễ hội  
truyền thống còn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là  
phương tiện quảng bá, giới thiệu văn hóa, con người, vùng đất với bạn bè trong  
nước và quốc tế.  
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, chính sách tôn trọng tự do tôn giáo, tín  
ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện cho hoạt động lễ hội truyền  
thống được phục hồi và phát triển. Song song đó, cùng với việc giữ gìn và phát huy  
những giá trị quý giá trong di sản văn hóa lễ hội thì công tác quản lý, tổ chức lễ hội  
cũng có những chuyển biến tích cực từ tư duy nhận thức của các cấp lãnh đạo và  
toàn xã hội cho đến việc thực thi các văn bản quản lý nhà nước, công tác thanh tra,  
kiểm tra lễ hội... góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa lễ  
hội truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân.  
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc tổ chức, quản lý các lễ hội  
truyền thống đã và đang nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế và tồn tại. Một bộ phận chủ  
thể quản lý nhà nước vẫn còn cái nhìn dè dặt về ý nghĩa lễ hội truyền thống, nhất là  
ý nghĩa về mặt lịch sử. Việc chưa có sự thống nhất trong tổ chức quản lý nhà nước  
về lễ hội truyền thống cũng là hạn chế, bởi cùng một lúc có nhiều chủ thể tham gia  
quản lý chồng chéo như: xã, huyện, Ban quản lý di tích, Ban hội hương, Sở Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch... trong khi chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể.  
Bên cạnh đó việc chưa có mô hình quản lý, nhất là mô hình phát huy vai trò tự quản  
của cộng đồng đã làm hạn chế việc huy động nguồn lực xã hội để phát huy giá trị  
của lễ hội. Đặc biệt, cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền  
thống còn nhiều điểm chưa hoàn thiện. Chính những điều này đã gây không ít khó  
khăn, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của  
di sản này.  
Là một trong những địa phương được lưu dân người Việt khai phá sớm ở Đồng  
bằng sông Cửu Long, Long An có mối quan hệ giao lưu nhiều mặt với toàn khu vực  
1
 
và là nơi có nhiều tín ngưỡng dân gian được người dân gìn giữ, lưu truyền cho đến  
nay trong đó có các lễ hội truyền thống. Sự hình thành và tồn tại của dạng thức lễ  
hội này ở Long An gắn liền với tiến trình lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội trong điều  
kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và nhân văn cụ thể ở địa phương.  
Luận văn “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống từ thực tiễn tỉnh Long  
An” được học viên lựa chọn thực hiện với mong muốn thông qua nghiên cứu công  
tác quản lý nhà nước đối với các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Long An sẽ  
giúp nhận diện rõ hơn những giá trị văn hóa truyền thống, các vấn đề còn tồn tại  
trong sinh hoạt lễ hội truyền thống, đồng thời vận dụng những kiến thức pháp luật  
để đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với loại  
hình di sản này. Đó là nhu cầu bức thiết trước những yêu cầu phát triển của thực  
tiễn địa phương hiện nay, góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội  
truyền thống trong cộng đồng nói riêng, di sản văn hóa phi vật thể nói chung.  
2. Tình hình nghiên cứu đề tài  
Có rất nhiều công trình của các nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu về lễ  
hội. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền  
thống thì không nhiều. Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả, có thể tập hợp một số  
công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan như sau:  
a. Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước  
- Ths. Nguyễn Thị Hương Giang (2015), Những vấn đề cơ bản về quản lý  
nhà nước, Nxb Lý luận chính trị, 2015.  
- Học viện chính trị quốc gia (2016), Những vấn đề cơ bản về quản lý hành  
chính nhà nước, Nxb Khoa học về Kỹ thuật.  
b. Các công trình nghiên cứu về lễ hội  
- Bùi Hoài Sơn, Phạm Lan Oanh, Lê Hồng Phúc, Minh Anh, (2014), Xây  
dựng nếp sống văn minh tại điểm di tích và lễ hội, Nxb Văn hóa Dân tộc.  
2
- Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa  
dân tộc, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
- Viện Văn hóa-Thông tin, Sở Văn hóa-Thông tin Tiền Giang (2004), Múa  
bóng rỗi - Nghệ thuật diễn xướng dân gian Nam Bộ, Kỷ yếu hội thảo khoa học.  
- Nguyễn Thị Hải Phượng (2014), Bóng rỗi và chặp Địa nàng trong tín  
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa  
học Xã hội và Nhân văn.  
- Nguyễn Xuân Hồng (2010), Lễ hội của người Việt đồng bằng sông Cửu  
Long, truyền thống và phát triển, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học văn hóa Tp. Hồ  
Chí Minh.  
- Nguyễn Thị Như Trang (2015), Bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ Bà  
Thiên Hậu tại Tuệ Thành Hội Quán, Luận văn thạc sỹ.  
c. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về lễ hội và quản lý nhà nước  
về lễ hội tại tỉnh Long An  
- Hoàng Nam (2005), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian, Nxb Văn hóa  
Dân tộc, Hà Nội.  
- Bùi Hoài Sơn (2009), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt từ năm  
1945 đến nay, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.  
- Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong  
tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
- Từ Thị Loan (2012), Một số mô hình quản lý lễ hội, Tạp chí Văn học Nghệ  
thuật số 340, tháng 10-2012.  
- Đoàn Thị Minh Tuyết, Học viện hành chính (2010), Bảo tồn lễ hội truyền  
thống - nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước.  
- Vũ Mỹ Anh, (2016), Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn  
tỉnh Nam Định, luận văn Cao học quản lý công.  
3
- Nguyễn Tấn Quốc, (2015), Lễ hội Miếu Bà Ngũ Hành Long Thượng, huyện  
Cần Giuộc dưới góc nhìn quản lý văn hóa, Luận văn Cao học quản lý Văn hóa.  
Những công trình nghiên cứu nói trên đã cung cấp những thông tin hữu ích  
về quản lý và quản lý nhà nước cũng như về lễ hội. Đó là những chất liệu quan  
trọng để học viên triển khai nghiên cứu đề tài luận văn. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề  
liên quan đến đặc thù, vai trò, chủ thể, nội dung, hình thức của quản lý nhà nước về  
lễ hội truyền thống cũng như thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống tại  
các địa phương cụ thể (trong đó có tỉnh Long An) chưa được triển khai nghiên cứu.  
Khắc phục những “ khoảng trống” đó trong hoạt động nghiên cứu cũng chính là một  
trong những lý do thôi thúc học viên lựa chọn thực hiện đề tài luận văn của mình.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1 Mục đích nghiên cứu  
Mục đích tổng quát của luận văn là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề  
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống tại  
tỉnh Long An nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung, góp phần vào việc bảo tồn,  
phát huy giá trị lễ hội truyền thống, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam  
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.  
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Tiếp tục làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận về quản lý nhà nước về lễ hội  
truyền thống, xây dựng tiền đề nhận thức cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất  
các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống;  
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống  
trên địa bàn tỉnh Long An, xác lập cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp  
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội;  
- Xây dựng quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý  
nhà nước về lễ hội truyền thống tại tỉnh Long An nói riêng, trên địa bàn cả nước nói  
chung  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
- Các quan điểm khoa học về lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước về lễ  
hội truyền thống;  
- Quan điểm, chính sách, pháp luật quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống ở  
Việt Nam;  
- Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống tại tỉnh Long  
An.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi nội dung: tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về  
lễ hội truyền thống theo quy định của pháp luật.  
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các hoạt động lễ hội truyền  
thống và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Long An, có đối  
chiếu, so sánh với một số địa bàn khác trong nước.  
- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về  
lễ hội truyền thống từ trước đến nay, tập trung tham khảo số liệu từ năm 2014 đến  
năm 2017 tại tỉnh Long An.  
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1 Phương pháp luận  
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư  
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt  
Nam về lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống hiện nay.  
Luận văn tiếp cận dựa trên quyền, xuất phát từ các quan niệm của Liên Hiệp  
Quốc và các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn chú trọng các phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích,  
tổng hợp và một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: so sánh, thống kê,  
5
lịch sử; chú trọng việc thu thập các số liệu từ các báo cáo thực tế về lễ hội truyền  
thống nói chung, lễ hội truyền thống ở tỉnh Long An nói riêng.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
Luận văn là công trình nghiên cứu khảo sát một cách toàn diện và chuyên  
sâu về quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống của tỉnh Long An. Là một trong  
số ít công trình nghiên cứu vấn đề này được thực hiện ở cấp tỉnh. Vì vậy, luận văn  
cung cấp những kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất mới có giá trị tham khảo  
với các cơ quan nhà nước ở tỉnh Long An và các tỉnh khác trong việc nâng cao hiệu  
quả quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong  
thời gian tới.  
Tác giả hi vọng rằng kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng  
làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà  
nước đối với lễ hội truyền thống thuộc tỉnh Long An nói riêng và trên toàn quốc nói  
chung. Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng  
dạy, học tập, nghiên cứu hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực này.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội  
dung luận văn bao gồm 3 chương:  
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về lễ  
hội truyền thống.  
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống tại tỉnh Long  
An.  
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về  
lễ hội truyền thống từ thực tiễn tỉnh Long An.  
6
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH  
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống  
trên địa bàn tỉnh  
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống  
1.1.1.1. Lễ hội truyền thống  
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ  
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần  
linh, người linh thiêng, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước  
cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. "Hội" là sinh hoạt văn hóa,  
tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.  
Điều 3, Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL, ngày 22/12/2015 của Bộ Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức lễ hội ghi nhận có 4 loại hình lễ hội  
sau:  
1. Lễ hội truyền thống là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công  
với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và  
các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về  
truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.  
2. Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh những  
danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng.  
3. Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn  
hóa, thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; tuần  
văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn  
hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác.  
4. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do tổ chức  
của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ  
7
   
chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt  
Nam. [18].  
Theo đó, Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng dân  
gian; là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều  
kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định gắn với những đặc điểm văn hóa  
cộng đồng. Lễ hội truyền thống bao gồm hai thành tố lễ và hội. Trong đó lễ là  
những nghi thức thiêng liêng gắn với nhân vật, biểu tượng thờ phụng còn hội là  
những trò diễn, trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa văn nghệ gắn liền với hệ  
thống lễ. Lễ hội truyền thống là di sản văn hóa quý báu của quốc gia, dân tộc.  
Lễ hội truyền thống có các đặc trưng sau:  
- Gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang tính thiêng, do vậy  
nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục.  
- Là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện  
tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác  
nhau của đời sống xã hội: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn  
kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các  
cuộc thi tài, vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán…  
- Chủ thể là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng  
đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng quốc gia dân tộc. Lễ hội truyền thống nào  
cũng thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội  
làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội  
nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng), đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn như gia  
tộc, dòng họ... Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá  
trị văn hóa của lễ hội truyền thống.  
Ba đặc trưng trên nó quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức,  
thái độ, hành vi, tình cảm của những người tham gia lễ hội truyền thống, phân biệt  
với các loại hình lễ hội khác. Đó là bản chất, là yếu tố bất biến. Việc làm mất đi các  
đặc trưng trên sẽ là làm biến dạng và phá hoại lễ hội truyền thống.  
8
Lễ hội truyền thống có vai trò rất quan trọng, thể hiện trên phương diện sau:  
- Cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng: Lễ hội truyền thống là dịp biểu  
dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng.  
Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết như:  
gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và  
lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng  
siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt  
động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)… Lễ hội truyền thống là môi  
trường góp phần quan trọng tạo nên sự cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng  
đồng.  
Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng  
định bản thân, cá tính của mình nhưng không vì thế mà tính cộng đồng bị phá  
vỡ.Con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng.  
Trong điều kiện như vậy, lễ hội truyền thống có giá trị biểu tượng của sức mạnh  
cộng đồng và tạo nên sự cố kết cộng đồng ấy.  
- Hướng về cội nguồn: Tất cả mọi lễ hội truyền thống đều hướng về nguồn  
cội, đó là nguồn cội tự nhiên mà con người từ đó sinh ra, nguồn cội cộng đồng như  
dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hóa... Và hơn nữa, hướng về  
nguồn cội đã trở thành tâm thức, là truyền thống của con người Việt Nam “uống  
nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”.  
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hóa, toàn cầu hóa như  
hiện nay, con người ngày càng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, với môi  
trường, với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hóa độc đáo đang dần bị mai một.  
Vì vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội  
tự nhiên của mình, hòa mình vào với môi trường thiên nhiên, khẳng định cái nguồn  
gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa của mình trong cái chung của văn hóa nhân loại.  
Chính nền văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội truyền thống là một biểu tượng  
có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy. Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu  
sắc của lễ hội truyền thống.  
9
- Giá trị cân bằng đời sống tâm linh: Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống  
tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh. Đó là đời sống của con người  
hướng về cái cao cả thiêng liêng , chân-thiện- mỹ, cái mà con người ngưỡng mộ,  
ước vọng, tôn thờ. Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả  
mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người.  
- Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa: Trong các lễ hội truyền thống, Nhân  
dân tự đứng ra tổ chức, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và  
hưởng thụ các giá trị văn hóa, tâm linh. Do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh  
thần dân chủ và nhân bản sâu sắc. Trong thời điểm cao trào của lễ hội, khi mà tất cả  
mọi người chan hòa trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội  
giữa cá nhân dường như được xoá nhòa, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ  
những giá trị văn hóa của mình. Chính nền văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội  
truyền thống là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng  
thụ các giá trị văn hóa ấy.  
- Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa: Trong chu kỳ một năm, sau bao  
ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, người dân lại tụ hội nơi đình chùa mở hội. Nơi  
đó, con người hóa thân thành văn hóa văn hóa làm biến đổi con người, một “bảo  
tàng sống” về văn hóa dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này  
sang thế hệ khác. Qua các nghi lễ và hội hè, các làn điệu dân ca, các điệu múa, các  
hình thức sân khấu như chèo, hát bội, rối nước, cải lương, các trò chơi, trò diễn như  
chọi gà, chơi đu, đánh vật... đã ra đời và duy trì trong dân gian suốt hàng nghìn năm  
qua.  
- Giá trị đối với việc phát triển kinh tế-xã hội: Lễ hội truyền thống góp phần  
tích cực vào việc xây dựng đời sống văn hóa và đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển  
kinh tế của các địa phương thông qua các hoạt động dịch vụ. Hầu hết lễ hội có quy  
mô, đầu tư càng lớn thì nguồn thu càng nhiều. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng coi lễ  
hội như là một nguồn lợi kinh tế làm giảm đi giá trị văn hóa tâm linh, tránh tổ chức  
lễ hội xa rời mục đích bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.  
1.1.1.2. Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh  
10  
Quản lý là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định. Trong  
đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động chung của con người. Quản lý  
điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp riêng lẻ của từng cá  
nhân tạo thành hoạt động thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước.  
Để thực hiện quản lý cần phải có tổ chức và quyền uy. Tổ chức phân định rõ ràng  
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt  
động chung; quyền uy mang lại khả năng áp đặt ý chí của chủ thể quản lý đối với  
các đối tượng quản lý, đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức. Quyền uy  
là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc  
các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của mình.  
Sự quản lý được thực hiện bởi chủ thể là các cơ quan và nhân viên nhà nước  
trên cơ sở pháp luật gọi là quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước được hiểu theo  
nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành  
pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp, quản lý  
nhà nước là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành  
pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Quá trình quản lý  
nhà nước bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đến khi đạt được hiệu quả thực tế, tạo  
thành một chu kì quản lý liên tục nối tiếp nhau. Quản lý xuất hiện trong mọi tổ  
chức, tập thể có hoạt động chung.  
Chủ thể quản lý là cơ quan nhà nước hay cá nhân có thẩm quyền trong bộ  
máy nhà nước thực hiện chức năng quản lý. Pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý  
nhà nước. Đối tượng quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong một  
quốc gia, là sinh hoạt, đời sống của xã hội diễn ra trên từng lĩnh vực.  
Quản lý nhà nước được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và được  
phân biệt với quản lý mang tính chất nội bộ một tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị, xí  
nghiệp, một cộng đồng dân cư mang tính tự quản.[52, tr.8].  
Tóm lại, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền  
lực nhà nước, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ  
chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các công chức và cơ quan trong bộ  
11  
máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ Nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển  
của xã hội.  
Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh là một bộ phận,  
một lĩnh vực hoạt động của quản lý nhà nước cấp tỉnh. Theo tác giả Bùi Hoài Sơn:  
“Quản lý lễ hội truyền thống là công việc của nhà nước được thực hiện thông qua  
việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản  
quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy  
những giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống được cộng đồng coi trọng, đồng thời  
góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói  
chung”. [55, tr. 91].  
Như vậy, quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh là quá  
trình Ủy ban nhân dân tỉnh sử dụng các cách thức và công cụ như chính sách, luật  
pháp, bộ máy và các nguồn lực khác để kiểm soát hoặc can thiệp vào các hoạt động  
lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn  
hóa tốt đẹp của lễ hội truyền thống.  
Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh là quá trình chấp  
hành luật pháp, ban hành các văn bản, cụ thể hóa các quy phạm pháp luật về hoạt  
động quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh; tổ chức điều  
hành để đưa các văn bản quy phạm pháp luật đó vào thực tiễn; tổ chức bộ máy quản  
lý; đào tạo, quản lý nguồn nhân lực phục vụ hoạt động quản lý nhà nước đối với lễ  
hội truyền thống; tiến hành kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với việc thực  
hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong tổ chức, hoạt  
động lễ hội truyền thống; đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động quản  
lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống.  
Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh thực hiện thông  
qua hoạt động tổ chức, điều hành của các cơ quan nhà nước trong tỉnh, tổ chức, cá  
nhân được Ủy ban nhân dân tỉnh giao quyền mà cụ thể là đảm bảo các yếu tố vật  
chất, tinh thần, ý nghĩa, tính pháp lý cho hoạt động lễ hội truyền thống, tạo tiền đề  
12  
thuận lợi cho việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ văn hóa, xã hội, kinh tế...  
của đất nước trong giai đoạn hiện nay.  
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn  
tỉnh  
Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh mang những đặc  
điểm và yêu cầu chung của quản lý nhà nước cấp tỉnh. Bên cạnh đó, quản lý nhà  
nước về về lễ hội truyền thống còn có các đặc điểm riêng sau đây:  
Thứ nhất, quản lý nhà nước về về lễ hội truyền thống mang tính quyền lực  
nhà nước, thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí quản lý của  
mình bằng những phương tiện nhất định, trong đó quan trọng nhất là sử dụng các  
văn bản quản lý nhà nước. Thông qua việc ban hành các văn bản, chủ thể quản lý  
thể hiện ý chí của mình bằng các chủ trương, đường lối định hướng cho hoạt động  
xây dựng và áp dụng pháp luật dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các  
quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện ở việc chủ thể  
có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo thực hiện ý chí nhà  
nước như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền, cưỡng chế… Thông qua các biện  
pháp này, ý chí quyền lực nhà nước được thể hiện và đảm bảo thực hiện.  
Trong quản lý nhà nước về về lễ hội truyền thống, tính quyền lực được thể  
hiện thông qua việc nhà nước ban hành các văn bản quản lý nhà nước mà trực tiếp  
là Luật Di sản văn hóa nhằm điều chỉnh trực tiếp hoạt động về văn hóa, trong đó có  
lễ hội truyền thống; các văn bản quy phạm pháp luật như Chỉ thị số 27- CT/TW của  
Bộ Chính trị, ngày 12/01/1998 “Về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc  
cưới, việc tang và lễ hội”; các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Văn hóa, Thể  
thao và Du lịch như: Chỉ thị số 265/CT-BVHTTDL, ngày 18/12/2012 “Về việc tăng  
cường công tác quản lý, tổ chức và thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ  
hội”, Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL, ngày 21/01/2011 “Quy định về việc  
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội”, Thông tư liên  
tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và  
13  
Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 30/12/2013 “Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong  
hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích”; Nghị định số 98  
“Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Luật Di sản văn hóa”, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày  
12/11/2013 “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du  
lịch và quảng cáo” của Chính phủ… để cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ  
chức, cá nhân làm công tác liên quan đến hoạt động, tổ chức lễ hội truyền thống làm  
căn cứ thực hiện, đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi vi phạm.  
Vì vậy, ban hành văn bản quản lý nhà nước là hình thức quan trọng nhất của các  
chủ thể trong hoạt động quản lý đối với lễ hội truyền thống.  
Thứ hai, quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống được tiến hành bởi các chủ  
thể được nhà nước giao thẩm quyền. Đứng trên nguyên lý chủ quyền Nhân dân thì  
toàn bộ quyền lực trong nhà nước ta đều thuộc về Nhân dân. Tuy nhiên, Nhân dân  
không trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý mà ủy quyền cho đại diện của mình  
thực hiện các công việc quản lý và thông qua cơ chế giám sát để kiểm tra việc thực  
hiện hoạt động quản lý nhà nước đã trao cho những người đại diện của mình. Đây  
chính là cơ sở để hình thành chủ thể trực tiếp quản lý ở mỗi lĩnh vực, công việc  
khác nhau được pháp luật quy định cụ thể.  
Các chủ thể được nhà nước giao thẩm quyền quản lý đối với lễ hội truyền  
thống là các cơ quan hành chính nhà nước như: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các  
cấp; ngoài ra còn có các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao  
quyền quản lý như: Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban  
Tôn giáo Chính phủ... thực hiện chức năng chủ yếu là giáo dục, tuyên truyền nhằm  
giúp cho người dân nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước  
về tự do tín ngưỡng, về tôn giáo dân tộc, nâng cao nhận thức vễ lễ hội truyền thống;  
xây dựng ý thức trách nhiệm khi tham gia lễ hội truyền thống; đảm bảo lễ hội  
truyền thống hoạt động thực sự văn hoá, văn minh, mang đậm bản sắc văn hoá dân  
tộc, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả. Quy định việc ban hành các văn bản về quản lý,  
hướng dẫn tổ chức lễ hội. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý những hành  
14  
vi vi phạm pháp luật. Ngành văn hóa đóng vai trò chủ đạo phối hợp các ngành chức  
năng liên quan thực hiện công tác tham mưu, phối hợp quản lý, hướng dẫn việc tổ  
chức thực hiện và kiểm tra, giám sát hoạt động của lễ hội truyền thống.  
Thứ ba, quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống được tổ chức chặt chẽ, hoạt  
động thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được tổ chức từ Trung ương đến địa  
phương.  
Ngày 22/12/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số  
15/2015/TT-BVHTTDL quy định về tổ chức lễ hội làm cơ sở cho các tổ chức, cá  
nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động tổ chức lễ  
hội tại Việt Nam căn cứ để thực hiện công tác quản lý nhà nước, tổ chức, tham gia  
hoạt động lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng. Thông tư quy định rõ  
yêu cầu nội dung lễ hội (Điều 4) “Nghi lễ được tiến hành trang trọng, trên cơ sở  
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp...Phần hội đảm bảo vui  
tươi, lành mạnh...”; thẩm quyền cấp phép tổ chức lễ hội (Điều 5); thành phần, trách  
nhiệm của Ban Tổ chức lễ hội (Điều 6) “ ... phải thành lập Ban Tổ chức...Thành  
phần Ban Tổ chức gồm đại diện chính quyền, ngành văn hóa thể thao và du lịch,  
công an, y tế, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, thông tin và truyền  
thông, tôn giáo, mặt trận tổ quốc; đại diện ngành đoàn thể hoặc cá nhân khác có  
liên quan đến việc tổ chức lễ hội. Ban Tổ chức có trách nhiệm quản lý, điều hành lễ  
hội theo đúng chương trình đã thông báo...”; chế độ báo cáo tổ chức lễ hội (Điều  
7), thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội (Điều 8), tổ chức hoạt động dịch vụ  
trong khu vực lễ hội (Điều 9), Quản lý, thu, chi tiền công đức, tài trợ (Điều 10),  
tuyên truyền trong lễ hội (Điều 11), đảm bảo vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự,  
phòng, chống cháy nổ, an toàn giao thông trong lễ hội (Điều 12), trách nhiệm của  
các chủ thể tham gia quản lý lễ hội (Điều 13, 14, 15).  
Thứ tư, quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống đòi hỏi tính liên tục, kịp thời  
và linh hoạt trong thực hiện hoạt động tổ chức, quản lý, giám sát hoạt động lễ hội,  
đảm bảo phù hợp với từng thời kỳ, từng hoàn cảnh, địa phương cụ thể nhưng vẫn  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 94 trang yennguyen 19360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống từ thực tiễn tỉnh Long An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_le_hoi_truyen_thong_tu_thuc_tie.pdf