Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp trong giao tiếp cho sinh viên Sư phạm trường Đại học Đồng Nai

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
KỸ THUẬT TẠO SỨC MẠNH THÔNG ĐIỆP TRONG GIAO TIẾP  
CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI  
Trần Thông Tuệ1  
TÓM TẮT  
Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp trong giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong  
việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, giúp sinh viên sư phạm phát triển  
được năng lực dạy học tích cực thông qua giao tiếp; tạo hứng thú cho người học,  
tăng cường hiệu quả tương tác với người học; khắc phục được những hạn chế trong  
việc sử dụng, lựa chọn ngôn từ; cải thiện chất giọng trong phát âm, tốc độ nói, âm  
lượng và ngữ điệu; chú trọng việc xây dựng hình ảnh chuẩn mực của người dạy, góp  
phần quan trọng trong việc hình thành năng lực, phẩm chất cho sinh viên sư phạm,  
là hành trang giúp các em trở nên yêu nghề, tự tin hơn khi ra trường đi dạy.  
Từ khóa: Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp, giao tiếp, sinh viên sư phạm,  
phương pháp dạy học tích cực  
gian nhận tin. Những yêu cầu này sẽ đảm  
bảo tính hiệu quả của truyền thông trong  
giao tiếp dạy học. Nếu là ngôn ngữ viết  
thì việc soạn thảo nội dung thông điệp  
cần phải chú trọng vấn đề chọn nội dung,  
bố cục cũng như hình thức thể hiện của  
thông điệp. Nếu là ngôn ngữ nói thì người  
1. Tổng quát về kỹ thuật tạo sức  
mạnh thông điệp trong giao tiếp với  
người học  
1.1. Khái niệm về thông điệp và kỹ  
thuật tạo sức mạnh thông điệp trong  
giao tiếp dạy học  
dạy cần chú trọng tốc độ, phát âm, ngữ  
điệu, âm lượng.  
Theo khoa học giao tiếp, thông điệp  
trong giao tiếp sư phạm là thông tin cần  
truyền đi đã được mã hóa dưới dạng  
ngôn ngữ, hình ảnh nào đó của người  
dạy đến người học thông qua một kênh  
giao tiếp cụ thể. Thông tin cần truyền đi  
phải được người dạy mã hóa chính xác,  
rõ ràng và phù hợp với đối tượng người  
học nhằm tránh hiểu nhầm thông điệp  
tạo sai lầm trong giao tiếp dạy học, làm  
cho người học phản hồi tiêu cực trong  
quá trình dạy học.  
Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp sư phạm là việc ứng  
dụng kiến thức khoa học giao tiếp sư  
phạm vào dạy học, giúp người học hình  
thành được năng lực tạo sức mạnh  
thông điệp, xác lập và vận hành mối  
quan hệ người dạy và người học đạt  
được mục tiêu dạy học.  
1.2. Tầm quan trọng của việc tạo  
sức mạnh thông điệp trong giao tiếp  
Yêu cầu đối với nội dung thông điệp  
là phải ngắn gọn, lượng thông tin cao,  
phù hợp với đối tượng người học về tâm  
lý, thị hiếu, văn hóa, thời gian và không  
Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp giúp quá trình giao tiếp,  
tương tác với người học có hiệu quả.  
Khi truyền thụ tri thức, yêu cầu người  
1Trường Đại học Đồng Nai  
117  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
dạy phải biết và vận dụng được cách  
truyền đạt thông điệp cho người học  
tiếp cận và lĩnh hội tri thức một cách  
chính xác nhất. Nếu không ứng dụng  
được kỹ thuật này, người dạy sẽ gặp  
khó khăn trong việc sử dụng hiệu quả  
các phương pháp dạy học tích cực do  
quá trình dạy học thực tiễn có thể tạo ra  
nhiều sai lầm từ những thông điệp đa  
dạng của người dạy, hoặc sự hiểu lầm  
của người học khi tiếp nhận.  
phạm hiện nay còn nhiều hạn chế trong  
việc vận dụng kỹ thuật giao tiếp trong  
giảng dạy. Sinh viên sư phạm thường  
gặp khó khăn khi tổ chức, thiết kế một  
hoạt động học có sự tương tác hiệu quả  
giữa người dạy và người học cũng như  
còn nhiều hạn chế về năng lực sử dụng  
ngôn ngữ hình thể.  
Song song đó, sinh viên sư phạm lại  
ít chú trọng đến việc xây dựng hình ảnh  
cá nhân; không tạo được phong cách độc  
đáo, thu hút trong giao tiếp với người  
học; thiếu tự tin về bản thân; hạn chế khả  
năng lựa chọn, diễn đạt ngôn từ; chưa  
biết cách tạo văn hóa ứng xử, tác phong  
sư phạm trong lúc dạy học [2].  
Trong thực tiễn, giao tiếp chỉ thành  
công khi cả người dạy và người học đều  
hiểu đúng cùng một thông điệp. Bằng  
cách giao tiếp thành công, người dạy  
hoàn toàn có thể truyền thụ tri thức của  
mình một cách hiệu quả. Nếu không,  
việc dạy học thất bại và cản trở con  
đường thành công trong dạy học của  
người dạy [1].  
Ngoài ra, sinh viên sư phạm còn  
mắc phải sai lầm trong kỹ thuật lắng  
nghe. Khá nhiều sinh viên làm việc  
riêng trong giờ học; thiếu sự tập trung  
cũng như rèn luyện phương pháp lắng  
nghe thành thói quen nhằm nâng cao  
năng lực giao tiếp sư phạm.  
Tóm lại, muốn giao tiếp thành công  
với người học, người dạy phải biết cách  
tạo ra một thông điệp rõ ràng, chính  
xác; muốn người học hứng thú, người  
dạy phải có phương pháp dạy học tích  
cực phù hợp; muốn phương pháp dạy  
học tích cực hiệu đạt hiệu quả không gì  
bằng người dạy phải biết cách tạo ra sức  
mạnh thông điệp.  
Cùng với các hạn chế về năng lực  
giao tiếp trên, sinh viên sư phạm hiện  
nay cũng mắc phải những hạn chế về kỹ  
năng diễn đạt ngôn ngữ chữ viết. Điều  
đó thể hiện qua việc thiếu nội dung  
hoặc trình bày nội dung một cách lộn  
xộn, thiếu logic, mâu thuẫn nhau.  
Nguyên nhân của thực trạng trên vừa  
mang tính chủ quan vừa mang tính  
khách quan [3].  
2. Thực trạng kỹ thuật tạo sức  
mạnh thông điệp trong giao tiếp của  
sinh viên sư phạm trường Đại học  
Đồng Nai  
2.1. Thực trạng năng lực giao tiếp  
của sinh viên sư phạm hiện nay  
2.2. Thực trạng năng lực tạo sức  
mạnh thông điệp trong giao tiếp của  
sinh viên ngành sư phạm trường Đại  
học Đồng Nai  
Theo khoa học giao tiếp, thực tiễn  
năng lực giao tiếp của sinh viên sư  
118  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
Căn cứ các yếu tố ảnh hưởng và  
quyết định quan trọng đến việc hình  
thành năng lực tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp của sinh viên sư phạm,  
chúng tôi tiến hành xây dựng bảng hỏi  
với nội dung tương ứng ba yếu tố quyết  
định kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp.  
Mục tiêu bảng hỏi nhằm tìm ra khả  
năng tạo sức mạnh thông điệp trong  
giao tiếp dạy học của sinh viên Đại học  
Đồng Nai. Mỗi câu hỏi trưng cầu ý kiến  
có 4 mức lựa chọn năng lực tương ứng  
như: thấp, trung bình, tương đối cao và  
cao với ba nhóm yêu tố như: 1. Khả  
năng tạo dựng hình ảnh người thầy  
trong giao tiếp dạy học; 2. Khả năng sử  
dụng ngôn từ trong giao tiếp dạy học; 3.  
Khả năng sử dụng và điều chỉnh chất  
giọng phù hợp trong giao tiếp dạy học.  
Thang điểm đánh giá tương ứng bốn  
mức lựa chọn năng lực là: 0,1,2,3,4.  
giao tiếp sư phạm của phần lớn sinh  
viên đều ở mức trung bình và thấp: mức  
thấp (7-15%), mức trung bình (38-  
51%), mức độ tương đối cao (24-40%),  
mức cao (11-15%).  
Ở nhóm khả năng tạo dựng hình  
ảnh người thầy có vai trò quan trọng  
nhất trong việc tạo dựng sức mạnh  
thông điệp trong giao tiếp với người  
học, tạo hình ảnh thân thiện, nhiệt tình,  
tâm huyết với nghề thì qua khảo sát,  
mức độ từ thấp đến trung bình là 53%,  
ở mức độ cao rất ít (11%).  
Ở nhóm khả năng lựa chọn ngôn từ,  
qua khảo sát mức độ thấp và trung bình  
là 61%, cao là 15%.  
Ở nhóm khả sử dụng chất giọng  
được khảo sát với kết quả thống kê qua  
bảng số liệu ở mức độ thấp và trung  
bình là 47%, cao là 13%.  
Kết quả thu ở bảng 1 cho thấy khả  
năng tạo sức mạnh thông điệp trong  
Bảng 1: Tổng kết số liệu trưng cầu ý kiến về khả năng tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp dạy học của 100 sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai  
Mức độ  
Năng lực  
Tương đối  
Thấp  
SL  
Trung bình  
Cao  
cao  
%
SL  
38  
%
SL  
36  
%
SL  
11  
%
Khả năng tạo dựng  
hình ảnh  
15  
10  
7
15  
38  
36  
11  
Khả năng lựa chọn  
ngôn từ  
10  
7
51  
40  
51  
40  
24  
40  
24  
40  
15  
13  
15  
13  
Khả năng sử dụng  
chất giọng  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
Tóm lại, từ khảo sát thực trạng khả  
giao tiếp với người học của sinh viên sư  
phạm trường Đại học Đồng Nai cho  
năng tạo sức mạnh thông điệp trong  
119  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
thấy năng lực tạo sức mạnh thông điệp  
của hầu hết sinh viên sư phạm không  
cao (11-15%). Điều này cho thấy việc  
hướng dẫn sinh viên sư phạm trường  
Đại học Đồng Nai những kỹ thuật tạo  
sức mạnh thông điệp là nhu cầu cần  
thiết và quan trọng để nâng cao năng  
lực và phẩm chất của sinh viên các  
ngành sư phạm, nâng cao chất lượng  
sản phẩm đầu ra của sinh viên trường  
Đại học Đồng Nai.  
Theo khoa học giao tiếp, sự yếu  
kém về kỹ năng giao tiếp của con người  
có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên  
nhân chủ yếu, cơ bản là do hiểu nhầm  
thông điệp trong giao tiếp dẫn đến giao  
tiếp thất bại.  
Một thông điệp mạnh rất quan trọng  
khi tạo nên hiệu quả giao tiếp và giúp  
người dạy dễ dàng tiếp cận các phương  
pháp dạy học tích cực, giúp người dạy  
xác lập và vận hành các mối quan hệ  
nhằm hoàn thành mục tiêu giáo dục.  
3. Kỹ thuật tạo sức mạnh thông  
điệp cho sinh viên sư phạm trường  
Đại học Đồng Nai  
Theo khoa học giao tiếp, có 5 yếu  
tố tác động đến kỹ thuật tạo sức mạnh  
thông điệp trong giao tiếp dạy học ở  
(bảng 2) và 3 yếu tố quyết định quan  
trọng đến việc tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp của sinh viên sư phạm  
(bảng 3).  
3.1. Các yếu tố tác động và quyết  
định đến kỹ thuật tạo sức mạnh thông  
điệp trong giao tiếp dạy học tích cực  
Bảng 2: Các yếu tố tác động đến kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp trong  
giao tiếp sư phạm  
STT  
Nội dung yếu tố  
Tác động  
Thông điệp của người dạy không rõ  
ràng.  
1
2
3
4
5
Làm người học suy diễn sai.  
Thông điệp của dạy có chứa từ đa Làm người học nhầm lẫn nghĩa  
nghĩa.  
của từ  
Thông điệp không phù hợp nhận thức  
đối tượng người học.  
Làm người học hiểu sai.  
Thông điệp đưa ra vào thời điểm  
không thích hợp.  
Làm người học thiếu tập trung.  
Làm người học quá tải kiến  
thức.  
Thông điệp mang nhiều thông tin.  
(Nguồn: Chu Văn Đức [4])  
120  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
Bảng 3: Các yếu tố quyết định quan trọng đến việc tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp của sinh viên sư phạm  
Quyết định kỹ  
STT  
Nội dung yếu tố  
Diễn giải  
thuật tạo sức mạnh  
thông điệp  
Trang phục, ngoại hình,  
phẩm chất và năng lực  
1
2
Hình ảnh người dạy  
Chất giọng người dạy  
55%  
38%  
Âm lượng, ngữ điệu, tốc  
độ nói, cách phát âm  
Diễn đạt chính xác, rõ  
3
Ngôn từ của người dạy ràng, có lựa chọn ngôn từ,  
sáng tạo  
7%  
(Nguồn: Chu Văn Đức [4])  
thông qua việc xây dựng hình ảnh  
3.2. Rèn luyện kỹ thuật tạo sức  
mạnh thông điệp trong giao tiếp cho  
sinh viên sư phạm trường Đại học  
Đồng Nai  
người giáo viên  
Bước 1: Xây dựng hình ảnh người  
giáo viên có trang phục: quần áo, giày  
dép, trang sức phù hợp môi trường giáo  
dục; ngoại hình đẹp, giản dị, chuẩn mực  
về hình thức bên ngoài: cử chỉ, dáng  
điệu, gương mặt biểu cảm, giọng điệu  
nhấn nhá; chú trọng đúng giờ giấc  
không đi trễ về sớm, không dạy tăng  
giờ hoặc cắt xén tiết giảng; khoảng cách  
giao tiếp đủ thân thiện nhưng không quá  
giới hạn với người học.  
Căn cứ vào kết quả khảo sát năng  
lực tạo sức mạnh thông điệp trong giao  
tiếp của sinh viên sư phạm trường Đại  
học Đồng Nai ở bảng 1 và các yếu tố  
tác động và quyết định quan trọng đến  
kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp ở  
bảng 2 và bảng 3, chúng tôi đưa ra một  
số kỹ thuật giao tiếp cho sinh viên nhằm  
giúp các em dễ nắm bắt và hình thành  
được năng lực tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp sư phạm, làm hành trang  
cho các em ra trường đi dạy thêm yêu  
nghề và tự tin trong giao tiếp sư phạm  
cũng như giao tiếp cộng đồng.  
Bước 2: Hình thành phẩm chất  
người giáo viên: có trách nhiệm với  
người học, yêu thương học sinh và  
chủ động trong việc nắm bắt quá trình  
dạy học. Xây dựng hình ảnh “Cô giáo  
như mẹ hiền”, làm tấm gương sáng về  
nhân cách để giáo dục người học.  
3.2.1. Kỹ thuật tạo sức mạnh thông  
điệp trong giao tiếp với người học  
121  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
3.2.2. Kỹ thuật tạo sức mạnh thông  
điệp trong giao tiếp với người học  
thông qua việc thực hành phương pháp  
rèn luyện chất giọng  
Bước 3: Cải thiện ngữ điệu khi diễn  
đạt: Một giọng giảng bài đều đều luôn  
là thảm họa trong việc thu hút sự tập  
trung của người học. Kỹ thuật nhấn nhá  
trong khi nói, lên xuống giọng theo ngữ  
cảnh, tình huống lớp học là kỹ thuật  
quan trọng bắt buộc sinh viên sư phạm  
phải rèn luyện.  
Chất giọng của người giáo viên ảnh  
hưởng đến việc truyền thụ tri thức cũng  
như khả năng lắng nghe lĩnh hội tri thức  
của người học, vì vậy cần chủ động  
phát hiện và điều chỉnh mặt hạn chế để  
cải thiện chất giọng. Sinh viên sư phạm,  
giáo viên cần phải chú ý rèn luyện các  
kỹ thuật sau:  
Bước 4: Cải thiện âm lượng: Âm  
lượng phải vừa đủ cho người nghe dễ  
chịu, tránh nói quá to hoặc quá nhỏ  
đều gây hạn chế việc lĩnh hội tri thức  
của người học. Khi giảng bài để tạo sự  
thu hút cho người nghe lắng nghe,  
sinh viên sư phạm phải biết sử dụng  
kỹ thuật giảm âm lượng, tạo sự tập  
trung với nguyên tắc nói càng nhỏ nhẹ  
càng tốt.  
Bước 1: Cải thiện cách phát âm:  
Sinh viên sư phạm rèn luyện cách phát  
âm chuẩn theo tiếng Việt phổ thông;  
chú trọng vùng miền, địa phương  
thường phát âm sai các âm đầu, giữa và  
âm cuối.  
3.2.3. Kỹ thuật tạo sức mạnh thông  
điệp trong giao tiếp với người học chú  
trọng việc rèn luyện khả năng diễn đạt  
ngôn ngữ, sử dụng ngôn từ  
Bước 2: Cải thiện tốc độ nói:  
Trong giao tiếp dạy học các chuyên gia  
về giao tiếp khuyên người giáo viên  
phải biết điều khiển và điều chỉnh tăng  
hay giảm tốc độ nói theo từng tình  
huống dạy học để quá trình dạy học đạt  
được mục tiêu dạy học tích cực. Tốc độ  
nói phải đảm bảo người nghe có thể  
nắm bắt được nội dung truyền tải.  
Trong kỹ thuật giảng bài, giáo viên nói  
càng chậm càng tốt. Bởi vì khi nói  
chậm, giáo viên sẽ hạn chế được việc  
nói sai, nói nhầm, nói lắp, nói ngọng  
trong giao tiếp dạy học. Người giáo  
viên phải kiên trì rèn luyện nói thật  
chậm và ngắt giọng đúng chỗ tạo điểm  
nhấn trong lời giảng.  
Bước 1: Rèn luyện khả năng lựa  
chọn ngôn từ (What?). Nói càng ngắn  
gọn súc tích, càng đúng trọng tâm càng  
tốt. Sinh viên rèn luyện nên cố gắng  
tránh hiện tượng “nói dài, nói dai, nói  
dại”, nói không đúng trọng tâm, nói lan  
man, không mục tiêu, không chủ đề.  
Bước 2: Rèn luyện khả năng diễn  
đạt (How?). Vấn đề không phải nói cái  
gì mà là nói như thế nào. Lựa chọn  
ngôn từ mà người nghe thích nghe và  
phù hợp tâm lý, hoàn cảnh bối cảnh của  
người nghe.  
122  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
Bước 3: Rèn luyện cách nắm bắt  
tâm lý người nghe (Who?). Sinh viên  
sư phạm phải am hiểu tâm lý người  
học, biết được người học là ai, thích  
nghe cái gì, không thích nghe cái gì để  
lựa chọn ngôn từ diễn đạt cho phù  
hợp. Muốn nắm bắt được tâm lý đòi  
hỏi người giáo viên ngoài việc am  
hiểu tâm lý học còn phải rèn luyện  
thêm kỹ năng nhận thức, đặt mình vào  
vị trí người học để nắm bắt tâm tư,  
nguyện vọng của người học.  
được đụng chạm vào nỗi đau quá khứ  
của người học, không đụng chạm đến  
điểm nhạy cảm hiện tại của người nghe,  
không làm ảnh hưởng và hủy hoại  
tương lai của học sinh.  
4. Kết luận  
Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp  
trong giao tiếp sư phạm rất quan trọng  
trong việc hình thành năng lực và phẩm  
chất của sinh viên sư phạm nói chung,  
của sinh viên sư phạm trường Đại học  
Đồng Nai nói riêng; là hành trang cần  
thiết trang bị cho sinh viên xây dựng  
nền tảng giao tiếp sư phạm vững chắc  
khi ra trường; góp phần tăng hiệu quả  
sử dụng phương pháp dạy học tích cực  
trong việc tạo hứng thú cho người học,  
cải thiện chất lượng buổi học; xây dựng  
được môi trường lớp học thân thiện;  
phát huy tính chủ động trong học tập.  
Bài viết góp một phần nhỏ cải thiện  
phương pháp giảng dạy của sinh viên sư  
phạm, giúp các em tự tin hơn trước đám  
đông; xác lập và vận hành tốt mối quan  
hệ giao tiếp giữa giáo viên và học sinh,  
là tiền đề quan trọng giúp sinh viên sư  
phạm thành công với nghề dạy học.  
Bước 4: Rèn luyện khả năng quan  
sát không gian khi sử dụng ngôn từ  
(Where?). Trong lúc tương tác với  
người học, sinh viên sư phạm cần chú  
ý đến môi trường xung quanh. Khi sử  
dụng ngôn từ giáo viên chú ý không  
nói xấu người thứ ba, không nói vấn  
đề không liên quan đến việc dạy và  
học. Khi nói phải quan sát cẩn thận  
không gian xung quanh tránh hiện  
tượng ngôn từ của mình có thể xúc  
phạm đến người khác.  
Bước 5: Rèn luyện kỹ năng quản lý  
thời gian khi sử dụng ngôn từ (When?).  
Khi sử dụng ngôn từ, sinh viên sư  
phạm chú ý ngôn từ của mình không  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ngô Công Hoàn (1998), Giao tiếp và ứng xử sư phạm, Nhà xuất bản Đại học  
Quốc gia Hà Nội  
2. Allan & Barara Pease (2013), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (Lê  
Huy Lâm dịch), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh  
3. Janine Driver (2014), Vận dụng ngôn ngữ cơ thể mới (Nguyễn Thành Yến  
dịch), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh  
4. Chu Văn Đức (2005), Giáo trình kỹ năng giao tiếp, Nhà xuất bản Hà Nội  
123  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
TECHNIQUES TO CREATE STRONG MESSAGES IN  
COMMUNICATION FOR DONG NAI UNIVERSITY STUDENTS  
ABSTRACT  
Communication Techniques (CT) in communication play an important role in the  
use of active teaching methods to help pedagogical students develop active teaching  
skills through communication; create excitement for learning, enhance interaction  
with learners; overcome the limitations in the choice of words; improve vocal tone in  
pronunciation, speaking speed, volume and intonation; and focus on building the  
standard image of the teacher. CT’s in communication for pedagogical students at  
Dong Nai University (DHDN) also contribute an important part in shaping the  
capacity and qualities of pedagogical students, and help them become more  
professional and self-confident when they teach at high school.  
Keywords: Message-generating techniques, communication, pedagogical  
students, active teaching method  
(Received: 1/8/2017, Revised: 11/9/2017, Accepted for publication: 24/10/2017)  
124  
pdf 8 trang yennguyen 18180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kỹ thuật tạo sức mạnh thông điệp trong giao tiếp cho sinh viên Sư phạm trường Đại học Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfky_thuat_tao_suc_manh_thong_diep_trong_giao_tiep_cho_sinh_vi.pdf