Bài giảng Nhập môn khoa học giao tiếp (Mới nhất)

LỜI MỞ ĐẦU  
Lao động và ngôn ngữ là hai động lực chủ yếu trong sự phát triển của loài người  
nguyên thủy. Cùng với sự phát triển của tư duy, của ý thức, ngôn ngữ đã góp phần  
hoàn thiện con người, phân biệt con người với con vật. Dần dần, loài người xây dựng  
nên các cộng đồng chung về ngôn ngữ từ thấp lên cao về mặt tổ chức xã hội, ngoài ra  
khi ý thức về một quốc gia thống nhất người ta luôn ý thức về một ngôn ngữ chính của  
quốc gia đó.  
Giao tiếp vừa biểu hiện văn hóa của mỗi người vừa biểu hiện mức độ văn minh  
của xã hội, trong đó ngôn ngữ là công cụ chính để con người giao tiếp và đi kèm với  
nó là những biểu hiện phi ngôn ngữ, người ta chỉ giao tiếp không bằng ngôn ngữ trong  
một số hoàn cảnh có tính chất đặc biệt.  
Xã hội càng phát triển, kỹ năng giao tiếp càng cần thiết hơn bao giờ hết vì mọi  
hoạt động trong xã hội đều được diễn ra trong mối quan hệ tiếp xúc giữa con người với  
con người. Nhờ có kỹ năng giao tiếp mà con người thực hiện thuận lợi, đạt hiệu quả  
cao trong công việc cũng như trong cuộc sống đời thường. Sinh viên là nguồn nhân lực  
chất lượng cao của đất nước trong tương lai nên cũng rất cần được trang bị những nhận  
thức cơ bản về khoa học giao tiếp và kỹ năng giao tiếp.  
Đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên và yêu cầu về nâng cao chất lượng đào  
tạo, chúng tôi đã tiến hành biên soạn tài liệu “Nhập môn khoa học giao tiếp” để sử  
dụng cho dạy học tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định. Tài liệu đề cập  
những tri thức cơ bản về khoa học giao tiếp, sử dụng hiệu quả các phương tiện và  
phong cách giao tiếp, thiết lập được mối quan hệ cần thiết trong cuộc sống nói chung  
và hoạt động nghề nghiệp nói riêng.  
Tài liệu “Nhập môn khoa học giao tiếp” được trình bày theo 3 chương về các vấn  
đề: Khái quát về khoa học giao giao tiếp, phương tiện và phong cách giao tiếp, kỹ  
năng giao tiếp cơ bản.  
Nhóm biên soạn xin cảm ơn các tác giả đã cung cấp những tài liệu có uy tín đang  
được áp dụng ở nhiều cơ sở giáo dục để tạo nên sự hoàn chỉnh của tài liệu này! Tài  
liệu có thể còn một số tồn tại, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu  
của đồng nghiệp và độc giả để tài liệu được tiếp tục hoàn thiện.  
Thay mặt nhóm tác giả  
Chủ biên  
TS. Nguyễn Trường Giang  
i
 
MỤC LỤC  
ii  
 
iii  
CHƢƠNG 1  
KHÁI QUÁT VỀ KHOA HỌC GIAO TIẾP  
Con người không sống riêng biệt một mình mà sống cùng với nhau, tồn tại trong  
mối quan hệ gia đình, nhóm, cộng đồng xã hội. Cũng chỉ khi sống trong các mối quan  
hệ đó, con người mới phát triển theo đúng kiểu người, tiến hành các hoạt động và đóng  
góp sức mình vào sự phát triển chung. Để có thể gia nhập vào các mối quan hệ xã hội  
đó, tiến hành các hoạt động sống và phát triển bản thân, con người phải thực hiện các  
quá trình giao tiếp.  
Giao tiếp từ lâu đã được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu với tư cách  
là một hiện tượng có vai trò đặc biệt trong đời sống cá nhân cũng như xã hội loài  
người. Sau này, khoa học về giao tiếp ra đời với tư cách là một ngành khoa học độc  
lập, nghiên cứu chuyên biệt về hiện tượng giao tiếp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý  
luận của giao tiếp, từ đó vận dụng vào thực tiễn giao tiếp của con người.  
Nhập môn khoa học giao tiếp nghiên cứu những vấn đề cơ bản, khái quát về hiện  
tượng giao tiếp của con người, làm cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu những khía cạnh,  
hiện tượng cụ thể trong giao tiếp và thực hiện giao tiếp hiệu quả trong các từng lĩnh  
vực hoạt động khác nhau của con người.  
Đối tượng nghiên cứu của nhập môn khoa học giao tiếp là quá trình giao tiếp của  
cá nhân với cá nhân hoặc cá nhân với nhóm, xã hội. Cụ thể là nghiên cứu về khái niệm  
giao tiếp, chức năng, các loại giao tiếp, cấu trúc của giao tiếp, phong cách và phương  
tiện giao tiếp, các yếu tố tâm lý - xã hội diễn ra trong quá trình giao tiếp, các kỹ năng  
giao tiếp cơ bản.  
Nhập môn khoa học giao tiếp có nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận cơ  
bản về quá trình giao tiếp. Trên cơ sở đó, xác định các kỹ năng, cách thức giao tiếp  
giúp con người vận dụng vào thực tiễn giao tiếp trong các tình huống khác nhau của  
cuộc sống, công việc đạt mục đích.  
Nhập môn khoa học giao tiếp có ý nghĩa thiết thực đối với mọi người ở các lĩnh  
vực hoạt động khác nhau, nhất là đối với sinh viên, nhằm hình thành các kiến thức cơ  
bản về giao tiếp, thực hành rèn luyện về việc sử dụng phương tiện, phong cách và các  
kỹ năng giao tiếp cơ bản để các em có được khả năng giao tiếp tốt trong các tình  
huống khác nhau. Trên cơ sở đó tham gia tích cực, hiệu quả hơn vào các hoạt động học  
tập, lao động và các hoạt động xã hội khác để phát triển hoàn thiện bản thân, góp phần  
thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội.  
1
 
1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO TIẾP  
1.1.1. Định nghĩa giao tiếp  
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp biểu hiện ở nhiều mặt, nhiều cấp  
độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa đều được  
dựa trên một quan điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó. Tuy nhiên, các định nghĩa  
đều nêu ra những dấu hiệu cơ bản về giao tiếp như sau:  
- Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, nghĩa là chỉ riêng con người  
mới có sự giao tiếp thật sự khi họ biết sử dụng phương tiện ngôn ngữ (nói, viết, hình  
ảnh nghệ thuật...) và chỉ được thực hiện trong xã hội loài người.  
- Giao tiếp được thể hiện ở sự trao đổi thông tin, sự rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau.  
- Giao tiếp dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau giữa con người với con người.  
- Giao tiếp thường diễn ra trong hoạt động thực tiễn của con người (lao động, học  
tập, vui chơi, hoạt động tập thể...) bảo đảm việc định hướng cho sự tác động qua lại  
trong quá trình thực hiện và kiểm tra hoạt động của con người. Giao tiếp là nhu cầu  
của con người muốn tiếp xúc với con người.  
Nội dung cơ bản của giao tiếp xuất phát từ nhu cầu tiếp xúc với người khác. Đã  
là con người, ai cũng có nhu cầu đó. Nhu cầu tiếp xúc với những người khác trở thành  
tâm thế của mỗi người để cùng hợp tác với nhau, cùng kết bạn với nhau, hướng tới  
mục đích trong lao động, học tập, vui chơi... Đây là chỗ thể hiện rõ nhất nội dung và  
tác dụng của giao tiếp; nó tạo ra cơ sở cho sự tồn tại của con người, gia đình, cộng  
đồng và xã hội. Và trong hoạt động giao tiếp, trong quan hệ người - người bao giờ  
cũng có sự tiếp xúc tâm lý.  
Tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người mang lại sự thông cảm lẫn nhau,  
giúp đỡ lẫn nhau, thậm chí cứu vớt lẫn nhau để từng con người cũng như nhóm người,  
tập thể người, cộng đồng người, xã hội loài người tồn tại và phát triển. Sự tiếp xúc tâm  
lý đó nảy sinh, phát triển và hội tụ ở đỉnh cao của nó là sự đồng cảm.  
Đồng cảm được xác định là khả năng nhạy cảm đối với trải nghiệm của bản thân,  
là sự đồng nhất của nhân cách này đối với nhân cách khác, là sự thâm nhập của người  
này vào tình cảm của người khác và là trạng thái tâm lý mà người này có thể đặt mình  
vào vị trí của người khác.  
Một điểm hội tụ và cũng là hiệu quả thực tiễn của giao tiếp và sự tiếp xúc tâm lý  
của người này với người khác là sự đồng hành: Cũng hành động, cùng hoạt động vì  
một mục đích lý tưởng. Nguồn gốc khởi thuỷ của giao tiếp, như C.Mác đã nhận xét là  
từ hoạt động lao động. Hình thức cơ bản nhất của giao tiếp là hoạt động lao động, nó  
tạo ra các quan hệ trong lao động và từ đó có các quan hệ xã hội khác, kể cả các quan  
hệ giao lưu văn hóa. Hoạt động lao động tạo nên toàn bộ cơ sở vật chất đảm bảo cho  
tồn tại của loài người, cộng đồng và từng người.  
2
   
Quan điểm duy vật lịch sử cho ta thấy các quan hệ xã hội - quan hệ kinh tế, sản  
xuất, chính trị, tư tưởng, pháp luật... là các quan hệ giữa người và người, được hình  
thành trong quá trình hoạt động cùng nhau.  
Nếu các quan hệ xã hội là các quan hệ giao tiếp giữa người với người thông qua  
thể chế, luật pháp..., tức là các quan hệ bên ngoài, bên trên nhân cách, thì giao tiếp là  
quan hệ trực tiếp, trực diện giữa nhân cách này với nhân cách khác. Chính trong giao  
tiếp, sự tiếp xúc tâm lý cụ thể hoá các quan hệ xã hội, tức là chuyển các quan hệ gián  
tiếp xã hội thành các quan hệ trực tiếp (giao tiếp).  
Giao tiếp chịu ảnh hưởng của các quan hệ xã hội và ý thức xã hội của con người.  
Các quan hệ xã hội vừa là cơ sở, vừa là nội dung của các quan hệ giao tiếp.  
Khi có sự tiếp xúc giữa một người với một người khác hoặc với một nhóm người  
khác (tập thể học sinh hay đội sản xuất) thì người ta thông báo cho nhau những thông  
tin; nội dung thông báo có thể là các hiện tượng trong đời sống sinh hoạt (giá cả,  
mốt...) hay những vấn đề thời sự trong nước, quốc tế, hoặc những tri thức mới trong  
một lĩnh vực khoa học kỹ thuật hay một nghề nghiệp nhất định nào đó.  
Qua tiếp xúc, con người nhận thức được về người khác: từ hình dáng, điệu bộ,  
nét mặt bề ngoài đến ý thức, động cơ, tâm trạng, xúc cảm, tính cách, năng lực, trình độ  
tri thức và các giá trị ở họ, đồng thời qua nhận xét, đánh giá của họ về mình, người ta  
hiểu biết thêm về cả bản thân. Do tác động của lời nhận xét, của sự biểu cảm của  
người đang giao tiếp mà gây ra những rung cảm khác nhau ở chủ thể tiếp xúc như qua  
lời khen làm người ta vui, buồn hay xấu hổ vì bị chê bai hoặc bị kích động bởi lời nói  
châm biếm của người giao tiếp với mình.  
Trong quá trình giao tiếp, sự hiểu biết lẫn nhau càng trở nên sâu sắc và mọi  
người cùng kiểm nghiệm lại những tri thức, kinh nghiệm của mình và điều này có thể  
dẫn tới sự thay đổi thái độ đối với nhau, với sự vật, hiện tượng được bàn luận và thậm  
chí dẫn tới sự mến phục hay mâu thuẫn với nhau. Rõ ràng là qua giao tiếp biểu hiện ở  
sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau rất mạnh mẽ, gây nên những biến đổi về  
hình thức, thái độ, tình cảm và các biểu hiện khác của xu hướng nhân cách.  
Giao tiếp là một loại hoạt động. Hoạt động này diễn ra trong mối quan hệ người -  
người nhằm mục đích xác lập sự hiểu biết lẫn nhau và làm thay đổi mối quan hệ với  
nhau bằng cách tác động đến tri thức, tình cảm và toàn bộ nhân cách con người. Đó là  
sự tác động trực tiếp người - người diễn ra trong mối quan hệ giữa chủ thể với đối  
tượng tiếp xúc.  
Giao tiếp được điều chỉnh bởi các yếu tố kinh tế, xã hội, các nhu cầu của con  
người và phụ thuộc vào tập quán từng địa phương, từng dân tộc theo các chuẩn mực  
đạo đức.  
Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa của các tác giả khác nhau về giao tiếp.  
3
Phạm Minh Hạc định nghĩa: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các  
quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội”.  
Nguyễn Thạc và Hoàng Oanh cho rằng: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho  
mối quan hệ giữa con người với con người qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý, được  
biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại  
lẫn nhau”.  
Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với  
người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn  
nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và  
vận hành quan hệ người - người, hiện thực hóa quan hệ xã hội giữa chủ thể này với  
chủ thể khác”.  
Như vậy, có thể hiểu: Giao tiếp là một quá trình, trong đó con người chia sẻ  
hay trao đổi với nhau các ý tưởng, thông tin, cảm xúc nhằm xác lập và vận hành  
các mối quan hệ giữa người và người trong đời sống xã hội để đạt được mục đích  
nhất định.  
Quá trình giao tiếp phải trải qua các bước cơ bản: chuẩn bị giao tiếp, thực hiện  
giao tiếp, kết thúc và đánh giá quá trình giao tiếp. Mỗi bước đó đòi hỏi cá nhân phải có  
sự hiểu biết về đối tượng, hoàn cảnh, vị thế giao tiếp, xác định đúng đắn mục đích, nội  
dung giao tiếp và có các yếu tố tâm lý tích cực mới có thể thực hiện nó đạt hiệu quả.  
Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xảy ra với các hình  
thức khác nhau: Giao tiếp giữa cá nhân - cá nhân; cá nhân - nhóm; nhóm - nhóm;  
nhóm - cộng đồng.  
Sự tồn tại và phát triển của mỗi con người luôn gắn liền với sự tồn tại và phát  
triển của những cộng đồng xã hội nhất định. Không ai có thể sống, hoạt động ngoài gia  
đình, bạn bè, địa phương, tập thể, dân tộc, tức là ngoài xã hội. Người La Tinh nói rằng:  
“Ai có thể sống một mình thì người đó hoặc là thánh nhân, hoặc là quỷ sứ”. Trong quá  
trình sống và hoạt động, giữa chúng ta và người khác luôn tồn tại nhiều mối quan hệ.  
Đó có thể là quan hệ dòng họ, huyết thống; quan hệ hành chính - công việc như: thủ  
trưởng - nhân viên, nhân viên - nhân viên; quan hệ tâm lý như bạn bè, thiện cảm, ác  
cảm... Trong các mối quan hệ đó, chỉ có một số ít là có sẵn ngay từ đầu, từ khi cất  
tiếng khóc chào đời (chẳng hạn quan hệ huyết thống, họ hàng), các quan hệ còn lại chủ  
yếu được hình thành và phát triển trong quá trình chúng ta sống và hoạt động trong  
cộng đồng xã hội, thông qua các hình thức tiếp xúc và gặp gỡ, liên lạc đa dạng với  
người khác mà chúng ta thường gọi là giao tiếp.  
Giao tiếp vừa mang tính chất xã hội, vừa mang tính chất cá nhân. Tính chất xã  
hội của giao tiếp thể hiện ở chỗ, nó nảy sinh, hình thành trong xã hội và sử dụng các  
phương tiện do con người tạo ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính chất  
4
cá nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi, nhu cầu, phong cách, kỹ năng giao tiếp mang  
đặc trưng riêng của mỗi người.  
1.1.2. Vai trò của giao tiếp  
Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cá nhân và xã hội, là một  
yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển của mỗi cá nhân và cả cộng đồng.  
- Giao tiếp là nhu cầu đặc trưng của con người, là điều kiện đảm bảo cuộc sống  
tâm lý bình thường của mỗi người. Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu xã hội cơ bản của con  
người, từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành, con người nhờ giao tiếp với những người  
xung quanh mới tồn tại, phát triển được theo kiểu người, hình thành các xúc cảm và  
thỏa mãn các nhu cầu được quan tâm, yêu thương, chăm sóc. Nếu không có các mối  
quan hệ xã hội bình thường thông qua giao tiếp, con người sẽ rơi vào các khủng hoảng  
hay sai lệch, thiếu hụt nghiêm trọng về mặt tâm lý, sức khỏe.  
- Giao tiếp là con đường hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Thông qua  
giao tiếp, con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội,  
các chuẩn mực xã hội và “tổng hòa các quan hệ xã hội” tạo thành bản chất con người.  
Đồng thời, thông qua giao tiếp, con người đóng góp tài lực của mình vào kho tàng  
chung của nhân loại, của xã hội. Thông qua giao tiếp, con người không chỉ nhận thức  
người khác, nhận thức các quan hệ xã hội mà còn nhận thức chính bản thân mình, tự  
đối chiếu, so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân để  
hình thành một thái độ giá trị - cảm xúc đối với bản thân. Nói cách khác là hình thành  
năng lực tự ý thức.  
- Giao tiếp là con đường thiết lập quan hệ xã hội và điều kiện hoạt động của con  
người. Nhờ có giao tiếp, các cá nhân mới thiết lập và duy trì được quan hệ xã hội với  
các cá nhân khác trong gia đình, trường lớp, cộng đồng... Thông qua giao tiếp mà các  
cá nhân gắn kết với nhau để tạo thành xã hội loài người và tác động qua lại, ảnh hưởng  
lẫn nhau, cùng tồn tại và phát triển. Trong quá trình sống, các hoạt động của con người  
cũng là các hoạt động cùng nhau, trong đó con người luôn phải trao đổi thông tin, phối  
hợp hành động. Vì vậy, giao tiếp là điều kiện không thể thiếu giúp con người thực hiện  
có hiệu quả các hoạt động trên.  
1.2. CHỨC NĂNG CỦA GIAO TIẾP  
1.2.1. Nhóm chức năng xã hội  
a) Chức năng liên kết  
Trong giao tiếp, con người trao đổi với nhau về ý tưởng, thông tin, cảm xúc, nhờ  
đó có thể liên kết, hợp tác, thống nhất với nhau về công việc cũng như nhiều vấn đề xã  
hội. Sự liên kết thống nhất này không chỉ là cơ sở, điều kiện để cùng hoàn thành  
những công việc chung một cách có hiệu quả mà còn là cơ sở để hình thành dư luận xã  
hội, quan điểm xã hội và các mối quan hệ xã hội đa dạng khác nhau.  
5
     
b) Chức năng hòa nhập  
Giao tiếp có chức năng rất quan trọng đối với việc một cá nhân hòa nhập, tham  
gia vào một nhóm xã hội. Qua giao tiếp, con người ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ  
của mình đối với nhóm và các thành viên, ý thức được quyền lợi mà mình có được,  
chia sẻ khó khăn, thuận lợi, chia sẻ thông tin, tình cảm, được các thành viên khác nhìn  
nhận, nhờ đó mà trở thành thành viên của nhóm.  
1.2.2. Nhóm chức năng tâm lý  
a) Chức năng định hướng hoạt động  
Trong giao tiếp, sự định hướng là khả năng thăm dò để xác định mức độ nhu cầu,  
thái độ, tình cảm, ý định… của đối tượng giao tiếp, nhờ đó có được những định hướng  
đúng đắn, kịp thời để thực hiện tốt mục đích đã đề ra. Đồng thời, trong giao tiếp con  
người thống nhất với nhau về mục đích, cách thức hành động, nhờ đó mà có được  
những đáp ứng kịp thời phù hợp với mục đích, nhiệm vụ chung.  
b) Chức năng nhận thức, đánh giá  
Trong giao tiếp, con người trao đổi thông tin, kinh nghiệm cho nhau nhờ đó mà  
hiểu biết về thế giới khách quan. Đồng thời, trong giao tiếp, mỗi chủ thể bộc lộ quan  
điểm, tư tưởng, tính cách… của bản thân, do đó các chủ thể nhận thức và đánh giá lẫn  
nhau. Trên cơ sở đó, mỗi người so sánh đối chiếu mình với người khác để có thể tự  
đánh giá được về bản thân mình.  
c) Chức năng điều chỉnh hành vi  
Trên cơ sở nhận thức, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá được bản thân mình, trong  
giao tiếp mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có thể tác  
động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành vi của chủ thể khác.  
d) Chức năng cảm xúc  
Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm  
xúc mới giữa các chủ thể. Vì vậy, giao tiếp là một trong những con đường để hình  
thành tình cảm của con người. Nhờ giao tiếp mà tạo ra bầu không khí tâm lý thoải mái,  
những cảm xúc tích cực, tốt đẹp (cũng có thể là ức chế và cảm xúc không tích cực),  
nhờ đó có thể giải tỏa những bức xúc tinh thần. Nhờ chức năng này mà giao tiếp làm  
cho con người có thể chia sẻ với nhau tình cảm và gần gũi nhau về mặt tinh thần.  
1.3. PHÂN LOẠI GIAO TIẾP  
1.3.1. Theo khoảng cách  
- Giao tiếp trực tiếp  
Là loại giao tiếp mặt đối mặt giữa các chủ thể giao tiếp trong cùng một không  
gian, trực tiếp phát và nhận tín hiệu của nhau. Đây là loại hình giao tiếp phổ biến nhất  
trong đời sống con người.  
Loại giao tiếp này có các ưu điểm cơ bản sau:  
6
     
Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ nói, con người còn sử dụng  
các phương tiện phi ngôn ngữ như ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ. Do đó lượng  
thông tin trao đổi trong giao tiếp trực tiếp thường phong phú, đa dạng hơn;  
Có thể nhanh chóng nhận biết ý kiến, cảm xúc của người đối thoại;  
Có thể điều chỉnh quá trình giao tiếp kịp thời để đạt mục đích.  
Tuy vậy, giao tiếp trực tiếp có thể bị hạn chế về mặt không gian và bị chi phối  
bởi các yếu tố ngoại cảnh.  
- Giao tiếp gián tiếp  
Giao tiếp gián tiếp là loại giao tiếp trong đó các chủ thể tiếp xúc với nhau thông  
qua người khác hoặc thông qua các phương tiện truyền tin như qua thư, điện thoại,  
internet, qua ngoại cảm…  
Giao tiếp gián tiếp ít bị hạn chế về mặt không gian và sự chi phối của ngoại cảnh.  
Những người ở khoảng cách xa nhau vẫn có thể giao tiếp với nhau và cùng một lúc có  
thể giao tiếp với nhiều người. Tuy nhiên trong giao tiếp gián tiếp, chúng ta thường  
không nhận biết được ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người cùng giao tiếp với  
mình, không biết được họ đang làm gì trong hoàn cảnh nào nên cũng không thể sử  
dụng phương tiện phi ngôn ngữ và khó khăn hơn trong điều chỉnh quá trình giao tiếp.  
1.3.2. Theo quy cách giao tiếp  
- Giao tiếp chính thức  
Là loại giao tiếp mang tính chất công vụ, theo chức trách, quy định, thể chế.  
Trong giao tiếp chính thức, vấn đề cần trao đổi, bàn bạc thường được xác định trước,  
vì vậy thông tin thường có tính chính xác cao. Ví dụ các cuộc hội họp, mit - tinh, trao  
đổi công việc, đàm phán...  
Trong giao tiếp chính thức, các vấn đề cần trao đổi bàn bạc thường được xác định  
trước, thông tin cũng được các chủ thể tìm hiểu và cân nhắc trước nên thường có tính  
chính xác cao.  
- Giao tiếp không chính thức  
Là loại giao tiếp mang tính cá nhân, không câu nệ vào thể thức, chủ yếu dựa trên  
sự hiểu biết về nhau giữa các chủ thể. Ví dụ như sự tâm tình chia sẻ giữ người thân,  
cuộc trò chuyện giữa bạn bè...  
Ưu điểm của giao tiếp không chính thức là gợi không khí thân tình, cởi mở, hiểu  
biết lẫn nhau và chúng ta có thể thổ lộ những nỗi niềm tâm sự, những suy nghĩ của  
mình, tự do trao đổi những vấn đề mà chúng ta muốn.  
Trong cuộc sống, chúng ta cần biết sử dụng kết hợp giao tiếp không chính thức  
với giao tiếp chính thức để tạo không khí thân mật, cởi mở và gần gũi nhau, tạo điều  
kiện thuận lợi cho giao tiếp chính thức đạt kết quả.  
1.3.3. Theo phƣơng tiện giao tiếp  
7
   
- Giao tiếp bằng ngôn ngữ  
Con người sử dụng lời nói và chữ viết để thực hiện quá trình giao tiếp. Ngôn ngữ chưa  
đựng giá trị ý nghĩa, giúp con người trao đổi những thông tin, cảm xúc hay tác động lẫn  
nhau. Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người, là phương tiện giao tiếp chính.  
- Giao tiếp phi ngôn ngữ  
Bên cạnh hệ thống ngôn ngữ, con người còn có thể sử dụng các phương tiện phi  
ngôn ngữ như tư thế, điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, trang phục… biểu hiện thái độ,  
tâm lí, tình cảm của bản thân, thể hiện các thông điệp gửi đến người cùng giao tiếp.  
1.3.4. Theo số ngƣời tham dự trong giao tiếp  
Phân loại giao tiếp theo số người tham dự trong giao tiếp có 3 loại:  
- Giao tiếp song phương: Hai người tiếp xúc bình đẳng với nhau.  
- Giao tiếp nhóm: Giao tiếp trong gia đình, làng xóm, cơ quan…  
- Giao tiếp xã hội: Quảng giao tầm cỡ địa phương, quốc gia, dân tộc, quốc tế…  
1.4. CẤU TRÚC CỦA GIAO TIẾP  
1.4.1. Cấu trúc của hành vi giao tiếp  
Giao tiếp là một quá trình phức tạp, trong nó bao gồm một hay nhiều hoạt động  
có tính chất phức tạp, mỗi hoạt động lại gồm nhiều bước, nhiều thành tố tác động qua  
lại với nhau. Khi đề cập đến cấu trúc của giao tiếp, người ta thường xem xét chúng  
thông qua các mô hình giao tiếp và cấu trúc của hành vi giao tiếp trên những quan  
điểm hay tiếp cận nhất định.  
1.4.1.1. Mô hình về giao tiếp  
Trong quá trình giao tiếp của con người, để có thể nhận dạng được các thành tố  
cấu thành và mối quan hệ giữa các bộ phận của nó là vấn đề không đơn giản. Để tìm  
hiểu được nó, cần thông qua các mô hình mà nó có thể minh họa được các thành tố đó.  
Có các loại mô hình giao tiếp khác nhau.  
* Mô hình tuyến tính về giao tiếp  
Mô hình tuyến tính về giao tiếp là mô hình một chiều, xuất phát từ các công trình  
nghiên cứu ban đầu về giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở ra rừ các nhà tu từ học La  
Mã, Hy Lạp cổ đại, những người quan tâm đến việc đào tạo các nhà hùng biện một  
cách đúng đắn. Học thuyết bạn đầu này về giao tiếp đã nhấn mạnh đến vai trò của diễn  
giả trước công chúng, chúng phản ánh cái có thể được gọi là quan điểm một chiều về  
giao tiếp, cho rằng một người có thể thực hiện những hành động nhất định theo một  
trình tự nhất định trong khi phát biểu và gợi ra những câu trả lời nhất định theo mong  
muốn của khán giả.  
Theo mô hình này thì diễn giả mã hóa một thông điệp và gửi nó tới người nghe  
theo một hay nhiều kênh giác quan. Người nghe tiếp nhận và giải mã thông điệp này.  
Ví dụ: bạn mua một cái máy tính, bạn nghe thông điệp ghi ở trong băng của nhà sản  
8
     
xuất. Đĩa này giải thích cách cho đĩa điều hành vào hệ thống và bật máy tính như thế  
nào. Khi bạn làm theo hướng dẫn đó và máy tính hoạt động thì quá trình giao tiếp đã  
thành công.  
MÔI TRƢỜNG GIAO TIẾP  
Tiếng ồn  
Người gửi  
Người nhận  
giải mã thông  
mã hóa  
thông điệp  
điệp  
Kênh  
Tiếng ồn  
Tiếng ồn  
Hình 1.1: Mô hình tuyến tính về giao tiếp của Berko, Wolvin  
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng mặc dù thường là cần thiết nhưng quá trình giao  
tiếp một chiều có những hạn chế nhất định. Nó bỏ qua vai trò quan trọng của người  
nghe trong việc phúc đáp đến người gửi thông điệp và thông điệp để cung cấp sự phản  
hồi. Sự phản hồi này cho phép người gửi kiểm tra để biết liệu các mệnh lệnh đó có  
được hiểu không, cách giải quyết có được chấp nhận không, thông điệp có rõ ràng  
không và kênh có được mở không.  
Bất cứ khi nào có thể thì những người giao tiếp cũng nên cố gắng giao tiếp với  
nhau để có thể phát hiện ra sự giao tiếp của họ thực sự có hiệu quả như thế nào. Khi  
không thể mở ra các mối tương tác để phát hiện như phải có, chẳng hạn đối với người  
phát tin trên đài phát thanh, vô tuyến, phóng viên báo chí, tác giả cuốn sách thì cần lưu  
ý đặc biệt đến việc phân tích trước về khán, thính giả để người giao tiếp/nguồn có thể  
cố gắng sử dụng ngôn ngữ thích hợp nhất cũng như làm rõ các ví dụ, làm sáng tỏ các  
cấu trúc tránh “nhiều” trong giao tiếp.  
* Mô hình tác động qua lại về giao tiếp  
Trong mô hình (hình 1.2) thì nguồn mã hóa thông điệp và gửi nó tới người nhận  
thông qua một hay nhiều kênh giác quan. Người tiếp nhận và giải mã thông điệp này  
như trong giao tiếp tuyến tính nhưng có sự khác biệt lớn: Người nhận mã hóa phản hồi  
(một hay nhiều phản ứng) và gửi phản hồi này tới nguồn, vậy là quá trình trở thành hai  
chiều. Rồi sau đó, nguồn sẽ giải mã thông điệp phản hồi căn cứ theo thông điệp gốc đã  
được gửi và phản hồi đã được nhận, sau đó nguồn mã hóa một thông điệp mới thích  
ứng với phản hồi nhận được.  
9
Quan điểm này về giao tiếp đã tính đến những ảnh hưởng phúc đáp của người  
nhận. Quan điểm này cho rằng một quá trình, trong chừng mực nào đó là vòng quanh,  
gửi và nhận, nhận và gửi.  
M«i tr êng giao tiÕp thÝch øng  
TiÕng ån  
Ng êi  
Ng êi göi  
nhËn (gi¶i  
m·)  
(m· ho¸)  
Kªnh  
TiÕng ån  
TiÕng ån  
Phản hồi  
Hình 1.2: Mô hình tác động qua lại trong giao tiếp hai chiều (Theo Berko, Wolvin)  
* Mô hình giao dịch về giao tiếp  
MÔI TRƢỜNG GIAO TIẾP  
Người mã hoá  
Người mã hoá  
Người giao tiếp A  
Người giải mã  
Thông  
Người giao tiếp B  
Người giải mã  
điệp  
Tiếng ồn  
Tiếng ồn  
MÔI TRƢỜNG GIAO TIẾP  
Hình 1.3: Mô hình giao dịch về giao tiếp  
10  
Quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng giao tiếp là một sự giao dịch mà  
trong đó nguồn và người nhận đóng vai trò có thể hoán đổi được cho nhau trong suốt  
hoạt động giao tiếp.  
Như vậy, không dễ dàng xây dựng một mô hình thật sự rõ ràng về quá trình này.  
Trong mô hình này, tiêu biểu cho những gì mà chúng ta biết đến giờ về giao tiếp là  
những thay đổi được phát hiện đồng thời trong cả hai người giao tiếp. Người giao tiếp  
A mã hóa một thông điệp và gửi nó đi. Người giao tiếp B, sau đó mã hóa phản hồi gửi  
lại cho người giao tiếp A, người giải mã nó. Những bước này không phải là độc chiếm  
lẫn nhau vì việc mã hóa và giải mã có thể xảy ra đồng thời. Là người nói, chúng ta có  
thể nhận một thông điệp phản hồi phi ngôn ngữ từ người nghe của chúng ta. Sự mã  
hóa và giải mã này có thể xảy ra liên tiếp trong quá trình giao tiếp. Bởi vì chúng ta có  
thể gửi và nhận các thông điệp cùng một lúc nên mô hình này là đa hướng. Cả hai bên  
giao tiếp đều là người gửi và người nhận trong sự giao dịch. Vì vậy, mô hình giao dịch  
về giao tiếp gần như đại diện cho việc giao tiếp đồng thời.  
1.4.1.2. Các thành tố của hành vi giao tiếp  
* Nguồn giao tiếp và thông điệp  
Như được minh hoạ ở hình 3, quá trình giao tiếp bắt đầu khi “người giao tiếp/  
nguồn” bị kích thích một cách có ý thức hay không có ý thức bởi một sự việc, một  
khách thể hay một ý tưởng nào đó. Xuất hiện nhu cầu gửi thông điệp đi sau khi đã  
dùng trí nhớ để tìm ra thứ “tiếng” (ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ) thích hợp để mã hoá  
thông điệp: Các nhân tố như sự tri giác, các kỳ vọng, thái độ và trạng thái cơ thể đều  
có ảnh hưởng đến việc gửi thông điệp.  
Quá trình giao tiếp rất phức tạp, bởi vì nó mang tính chất ký hiệu, sử dụng một  
thứ “ngôn ngữ” nào đó để đại diện cho các khách thể và ý tưởng mà chúng ta đang  
giao tiếp. Không may, các ký hiệu có thể không được hiểu. Ví dụ, một kỹ sư hàng  
không phải lựa chọn thứ “tiếng” của mình một cách cẩn thận để nói cho một ai đó  
không am hiểu về nguyên tắc của vận tốc gió. Các từ ngữ quá chuyên sâu về mặt kỹ  
thuật có thể làm rối trí người giao tiếp - người nhận và làm cho họ không hiểu được.  
Để trở thành một người giao tiếp tốt, với vị trí nguồn phát thông tin, cá nhân phải  
tạo cho mình sự tự tin. Trong lĩnh vực nào, điều này cũng bao gồm việc thể hiện hiểu  
biết về chủ đề, người tiếp nhận và bối cảnh truyền đạt thông điệp. Người truyền thông  
điệp nếu không hiểu rõ người tiếp nhận (có thể là cá nhân hay nhóm người mà mình  
muốn truyền thông điệp), nếu không hiểu rõ sẽ dễ dẫn đến việc cách truyền thông điệp  
không phù hợp và bị hiểu sai.  
Các thành tố của giao tiếp (theo Berko, Wolvin và Wolvin)  
11  
Ngƣời giao tiếp/nguồn  
1. Những cảm nhận do ý tưởng hay nhu 1. Những cảm nhận do kích thích hay  
cầu giao tiếp gây nên nhu cầu giao tiếp gây nên  
2. Lựa chọn cách truyền thông thông điệp 2. Tiếp nhận ký hiệu (mã) dưới dạng  
bằng ký hiệu ngôn ngữ (mã) méo mó  
Ngƣời giao tiếp/ngƣời nhận  
3. Sử dụng trí nhớ và kinh nghiệm cũ để 3. Sử dụng trí nhớ và kinh nghiệm cũ để  
tìm ra ký hiệu ngôn ngữ nhằm truyền gắn nghĩa cho ký hiệu (giải mã)  
thông thông điệp (mã hoá)  
4. Lưu giữ thông tin  
5. Gửi phản hồi đi  
* Kênh giao tiếp  
Khi giao tiếp, thông điệp đã mã hoá được chuyển tải qua một kênh hay nhiều  
kênh. Nếu cuộc giao tiếp diễn ra trực tiếp, mặt đối mặt thì các kênh này có thể là một  
vài hay tất cả năm giác quan. Điển hình là chúng ta dựa vào hình ảnh thị giác và âm  
thanh làm các kênh khi nói và lắng nghe. Tuy nhiên, thay vì sự giao tiếp mặt đối mặt,  
chúng ta có thể lựa chọn để dùng một kênh điện tử có dùng âm thanh (như điện thoại  
chẳng hạn) hay thị giác và tính giác (vô tuyến truyền hình). Trong một số trường hợp,  
chúng ta có thể lựa chọn cách gửi một thông điệp đến một ai đó bằng phương tiện tiếp  
xúc cơ thể, chẳng hạn như vỗ vai người khác. Trong trường hợp này thì kênh xúc giác  
được sử dụng.  
“Người giao tiếp/nguồn” nên luyện tập càng kỹ càng tốt cách lựa chọn kênh cho  
cuộc giao tiếp, giống như họ tiến hành việc lựa chọn các ký hiệu để dùng. Điều này là  
cần thiết, bởi vì các kênh khác nhau đòi hỏi những phương pháp phát triển ý tưởng  
khác nhau. Chẳng hạn, việc chọn các kênh điện tử đã làm thay đổi bản chất của sự  
giao tiếp chính trị. Các ứng cử viên tổng thống ở các nước đã từng phải đi kinh lý khắp  
đất nước để đọc bài diễn văn trong các chiến dịch vận động tranh cử, nhưng ngày nay,  
thông qua việc sử dụng vô tuyến truyền hình, họ có thể đến với một số lượng dân  
chúng rộng lớn hơn mà không cần phải đi đâu cả. Vậy là kênh điện tử đã được thay thế  
cho kênh “mặt đối mặt”!  
* Người nhận và thông điệp  
Không tính đến kênh được dùng, thông điệp cần phải được giải mã trước khi giao  
tiếp (có thể) được hoàn thành. Người giao tiếp/người nhận, trên cơ sở tiếp nhận các tín  
hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, xử lý chúng thông qua trí nhớ để các tín hiệu được  
phiên dịch sang hệ tiếng nói của người nhận. Thông điệp đã được giải mã này sẽ  
không giống hệt với thông điệp đã được người giao tiếp/người mã hoá, vì hệ thống ký  
hiệu của mỗi người được tạo nên bởi một tập hợp duy nhất các cảm nhận. Ví dụ, một  
12  
người nội trợ sẽ có thột cách hiểu về câu “thêm mắm muối theo khẩu vị” nghĩa là gì.  
Nhưng lời chỉ dẫn này có thể giải mã một cách khác nhau ở những người nhận khác  
nhau. Một người quản trị ngân hàng vốn thích làm đầu bếp cho các cuộc liên hoan cuối  
tuần ngoài trời có thể muốn thêm một chút mắm muối thôi, còn để cho khách cho thêm  
gia vị. Mặt khác, một người nào đó có kinh nghiệm nấu nướng hơn lại có thể giải mã  
thông điệp này là “thêm nhiều mắm muối vào!”.  
* Phản hồi  
Ngay sau khi hiểu được nội dung thông điệp đã nhận được “người giao  
tiếp/người nhận” đã có thể trả lời. Sự trả lời này - được gọi là phản hồi - có thể là một  
phản ứng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ (hoặc cả hai) đối với thông điệp. Cần quan sát  
sự phản hồi một cách cẩn thận, bởi vì nó sẽ chỉ cho ta thấy người giao tiếp/người  
nhận” hiểu (ví dụ, gật đầu) hay không hiểu (ví dụ, nhún vai và nói “tôi không hiểu),  
khuyến khích “người giao tiếp/nguồn” tiếp tục hoặc không tán thành (ví dụ, đẩy lùi và  
nói “không thể được”!). Hành động trả lời, mà qua đó “người giao tiếp/người nhận”  
gửi phản hồi đến “người giao tiếp/nguồn”, thực sự làm thay đổi vai trò của người nhận  
sang vai trò của người gửi (nguồn).  
* Nhiễu  
Thông điệp không chỉ bị ảnh hưởng bởi sự giải thích của mỗi một người giao  
tiếp, mà còn bởi cả tiếng ồn nữa. Nhiễu là bất kỳ một trở ngại bên trong hoặc bên  
ngoài nào trong quá trình giao tiếp. Nhiễu có thể do các nhân tố của môi trường, sự  
suy yếu của cơ thể, những vấn đề về ngữ nghĩa, sự tối nghĩa, những vấn đề về cú pháp,  
sự lộn xộn trong cách xếp đặt, tiếng ồn xã hội và những rào cản tâm lý gây nên.  
* Môi trường giao tiếp  
Quá trình giao tiếp luôn luôn tồn tại trong một ngữ cảnh nào đó, một môi trường  
nào đó. Nơi mà chúng ta hiện diện và người cùng hiện diện với chúng ta đều có ảnh  
hưởng đến sự giao tiếp của chúng ta. Những nhân tố như kích thước của căn phòng,  
màu sắc của tường, sự trang trí, kiểu và cách xếp đặt các đồ gỗ, kiểu chiếu sáng và căn  
phòng có đông đúc hay không… đều có thể ảnh hưởng đến việc chúng ta cảm xúc ra  
sao, đến cách giao tiếp kiểu giao tiếp mà chúng ta tham gia vào. Chẳng hạn như xếp  
đặt một lượng lớn người trong một khu vực làm việc nhỏ hẹp (như trường hợp thường  
xảy ra với nhóm những người đánh máy chữ trong một cơ sở thương mại lớn) có thể  
dẫn đến sự giao tiếp căng thẳng thiếu tự nhiên. Chúng ta cũng có phản ứng đối với các  
nhân tố như nhiệt độ, mùi vị, âm thanh. Vì vậy chúng cũng ảnh hưởng đến tâm lý và  
quá trình giao tiếp của chúng ta.  
* Các quan hệ trong hành vi giao tiếp  
Quan hệ là vị thế, địa vị của nhân cách với tất cả những gì ở xung quanh nó, kể  
cả với chính bản thân mình. Bằng cách này hay cách khác, con người ta đều có quan  
13  
hệ, thái độ đối với các sự vật, sự kiện của đời sống xã hội, với những người khác. Họ  
thích một cái gì đó, không thích một cái gì đó; một sự kiện này làm cho họ xao xuyến,  
một sự kiện khác lại bị họ thờ ơ; tình cảm, hứng thú, chú ý. Đó là những quá trình tâm  
lý biểu thị quan hệ của con người, (khi quan hệ được chủ thể ý thức thì trở thành thái  
độ của chủ thể) và biểu thị địa vị của nó.  
Trong quá trình giao tiếp tồn tại cả mối quan hệ qua lại giữa những người giao  
tiếp. Quan hệ qua lại là địa vị tương hỗ của một nhân cách này với nhân cách khác, với  
cộng đồng. Nếu trong quan hệ không bắt buộc phải có “liên hệ ngược” phản hồi đối  
với con người thì trong quan hệ qua lại luôn luôn có mối liên hệ ngược. Quan hệ qua  
lại ở hai bên giao tiếp không phải lúc nào cũng có cùng một thể thức (cùng một sắc  
thái). A có thể có quan hệ (thái độ) tốt đối với B, nhưng B có thể không phải như vậy  
đối với A.  
Giao tiếp là sự liên hệ của con người với nhau có thể nhìn thấy được, quan sát  
được từ bên ngoài. Còn quan hệ và quan hệ qua lại là những mặt của giao tiếp. Chúng  
có thể hiển nhiên, công khai, nhưng cũng có thể ẩn giấu, ngấm ngầm, không được thể  
hiện ra. Quan hệ qua lại được hiện thực hoá trong giao tiếp và thông qua giao tiếp.  
Đồng thời, quan hệ qua lại để lại dấu ấn lên giao tiếp, tạo nên nội dung độc đáo của  
giao tiếp.  
Khác với trong hoạt động với đồ vật (hoạt động với đối tượng), mối quan hệ qua lại  
trong giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với chủ thể. Ta có thể thấy được tính  
chất phức tạp đặc trưng của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với chủ thể qua ví dụ sau:  
A và B giao tiếp với nhau; giữa chúng hình thành mối quan hệ giao tiếp A - B và  
thông tin ngược về phản ứng của B đối với A, tức là B - A. Ngoài ra, ở A và B đều có  
biểu tượng về bản thân mình - A' và B', cũng như biểu tượng về nhau: biểu tượng của  
A về B - B”, và biểu tượng của B về A - A”. Sự tác động qua lại trong quá trình giao  
tiếp được thực hiện như sau: A với tư cách là A' gửi thông điệp cho B như là B”. B với  
tư cách là B’ phản ứng lại A như là A”. Rõ ràng, giao tiếp sẽ thành công tối đa khi có  
sự đứt đoạn tối thiểu trong các đường: A - A' - A” và B - B’ - B”.  
Như trên đã nói, quá trình giao tiếp của con người chịu ảnh hưởng rõ rệt của  
hoàn cảnh xã hội. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh xã hội mà mỗi người có một vai trò nhất  
định. Vai trò là chức năng, là hình mẫu hành vi chuẩn mực được xã hội tán đồng, đang  
được chờ đợi ở mỗi người trong địa vị hiện có của họ. Nói cách khác, vai trò là sự ấn  
định một vị trí nhất định mà mỗi cá nhân chiếm được trong hệ thống các quan hệ xã  
hội. Vai trò của anh sinh viên là học tập rèn luyện để trở người phục vụ xã hội có  
chuyên môn. Một người cô thể đảm trách nhiều vai trò khác nhau: người chồng, người  
cha, người con, người giám đốc, người đảng viên v.v… Vai trò đảm nhận tạo nên địa  
vị mà người đó có trong quan hệ xã hội mà họ đang sống.  
14  
Chúng ta nhận được một người là sinh viên qua trang phục, áo quần, cách ăn mặc  
và sinh hoạt cũng như các vật sở hữu của người ấy. Những thứ đó là những ký hiệu  
của vai trò, địa vị.  
Muốn giao tiếp tốt thì phải biết các vai trò, địa vị của mình và của người giao tiếp của  
mình và phải mã hoá những thông điệp cùng với những điều này trong trí óc của mình.  
1.4.2. Truyền thông trong giao tiếp  
Truyền thông trong giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa những người  
giao tiếp với nhau. Quá trình này diễn ra ở hai cấp độ cá nhân và tổ chức.  
Truyền thông giữa các cá nhân là một quá trình tương hỗ, tuần hoàn không đơn  
giản. Để truyền thông chính xác, ngoài việc hạn chế yếu tố nhiễu, các cá nhân còn phải  
chú ý đến đặc điểm tâm lý, văn hoá của các đối tượng truyền thông, xác định mục  
đích, thời gian, địa điểm và phương pháp truyền thông tối ưu.  
Truyền thông trong tổ chức có thể là truyền thông chính thức hoặc không chính  
thức. Chúng diễn ra đa dạng và nhiều chiều, tạo thành mạng truyền thông trong tổ  
chức. Hiệu quả hoạt động của một tổ chức phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của mạng  
truyền thông trong tổ chức đó. Một mạng truyền thông lý tưởng là mạng có tốc độ  
truyền thông cao, chính xác, thể hiện rõ vai trò của người lãnh đạo và tạo ra nhiều mối  
quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức.  
1.4.2.1. Quá trình truyền thông giữa hai cá nhân  
a. Mô hình truyền thông  
Về một phương diện nào đó, có thể xem giao tiếp là quá trình phát và nhận thông  
tin giữa những người giao tiếp với nhau. Đây là một quá trình hai chiều, nghĩa là người  
phát và người nhận đổi vai thường xuyên cho nhau: lúc thì người này là người phát,  
lúc thì chính họ là người nhận.  
Thông tin Phản  
Nguời nhận  
Nguời gửi  
Nguời gửi  
hồi  
Nguời nhận  
(thông điệp)  
Hình 1.4: Sơ đồ giao tiếp qua lại (theo Berko, Wolvin)  
- Người phát tin mã hóa thông điệp và gửi nó đến người nhận thông qua một hay  
nhiều kênh giác quan.  
- Người nhận tiếp nhận và giải mã thông điệp, sau đó mã hóa phản hồi (một phản  
ứng hay các phản ứng) và gửi phản hồi này tới nguồn, vậy là quá trình giao tiếp trở  
thành hai chiều.  
15  
 
- Sau đó, nguồn giải mã thông điệp phản hồi theo thông điệp gốc đã được gửi và  
phản hồi đã được nhận.  
- Tiếp theo nguồn mã hóa một thông điệp mới thích ứng với phản hồi nhận được  
(sự thích ứng).  
Thông tin được trao đổi trong giao tiếp có thể là những thông báo về một sự việc  
nào đó, những nỗi niềm, tâm trạng, hoặc những đánh giá, nhận xét về chúng... Hiệu  
quả của quá trình truyền thông phụ thuộc vào người phát, người nhận và các yếu tố  
khác. Có thể thể hiện quá trình truyền thông trong giao tiếp giữa các cá nhân bằng các  
cách dưới đây:  
Một người muốn chuyển một ý nghĩ nào đó đến một người khác thì phải bắt đầu  
từ việc mã hoá ý nghĩ đó. Mã hoá là quá trình biểu đạt ý nghĩ thành lời nói, chữ viết  
hay các dấu hiệu, ký hiệu, các phương tiện phi ngôn ngữ khác (ánh mắt, nét mặt, cử  
chỉ, điệu bộ... ). Kết quả của quá trình này là thông điệp được tạo thành (ý nghĩ đã  
đuợc mã hoá) và sau đó đã đuợc phát đi bằng các kênh truyền thông (ngôn ngữ nói,  
ngôn ngữ viết) để đến với người nhận. Sự mã hoá không những phụ thuộc vào tình  
huống cụ thể, mối quan hệ giữa người phát và người nhận, mà còn phụ thuộc vào đặc  
điểm người phát. Một ý có thể mã hoá bằng nhiều cách, nhiều phương tiện khác nhau:  
người phát có thể sử dụng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc một thứ tiếng khác; có thể sử  
dụng lời nói hoặc cử chỉ, điệu bộ. Ngay cả khi dùng lời nói thì cũng có nhiều cách nói:  
nói thẳng ra ý của mình hoặc nói bóng, nói gió, nói ám chỉ...  
Một khâu quan trọng trong mạch truyền thông là sự phản hồi, tức là người nhận  
phát tín hiệu trả lời người đã truyền đi bản thông điệp. Nó báo cho người phát biết  
thông điệp đã được tiếp nhận và được hiểu như thế nào. Trên cơ sở đó, người phát có  
thể điều chỉnh hoặc chuyển tiếp những thông điệp cần thiết khác.  
Như vậy, truyền thông giữa các cá nhân là một quá trình tương hỗ và tuần hoàn.  
Hiệu quả của quá trình truyền thông còn bị chi phối bởi các yếu tố được gọi là  
“nhiễu”. Đó là những yếu tố ở người phát, người nhận hoặc trong môi trường gây cản  
trở đối với việc truyền tin. Thông thường, các yếu tố đó bao gồm:  
- Sự khác biệt về văn hoá;  
- Môi trường truyền thông không tốt. Ví dụ: Tiếng ồn quá lớn, thời tiết quá  
nóng…;  
- Ý không rõ ràng, quá trình mã hoá bị lỗi. Chẳng hạn, người nói sử dụng từ ngữ  
không chính xác, dùng từ địa phương;  
- Kênh truyền thông hoạt động không hiệu quả: Phát âm không chuẩn, độ nhạy  
cảm của giác quan kém, điện thoại trục trặc;  
- Các yếu tố tâm lý ở người phát và nguời nhận: Sự không tập trung, sự nóng vội,  
sự định kiến, thành kiến, tâm trạng không tốt;  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 125 trang yennguyen 24100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Nhập môn khoa học giao tiếp (Mới nhất)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_nhap_mon_khoa_hoc_giao_tiep_moi_nhat.pdf