Kiểm định thang đo khảo sát văn hóa an toàn người bệnh

tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
KIỂM ĐỊNH THANG ĐO KHẢO SÁT VĂN HÓA  
AN TOÀN NGƯỜI BỆNH  
Đỗ Văn Niệm, Lê Minh Lan Phương, Lê Thị Trúc, Trần Thị Mỹ Lệ, Lê Thị Châu  
Bệnh viện Nhi Đồng 1  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: Phát triển thang đo văn hóa an toàn người bệnh đảm bảo tính giá trị và phù  
hợp bối cảnh là cần thiết trước khi can thiệp. Mục tiêu: Đánh giá chất lượng thang đo HSOPSC  
điều chỉnh, từ đó thiết lập mô hình nguyên nhân giữa các nhân tố. Phương pháp: Kết hợp thảo  
luận nhóm điều chỉnh thang đo với phân tích nhân tố khám phá đề xuất mô hình đo lường,  
phân tích nhân tố khẳng định để kiểm định mô hình, từ đó thiết lập mô hình tương quan giữa  
các cấu trúc của thang đo. Kết quả: Mô hình đo lường cuối cùng gồm 24 biến chỉ báo và 7 cấu  
trúc. Thông số phù hợp của mô hình đo lường tốt (CMIN/DF: 2,276; GFI: 0,936; CFI: 0,951; TLI:  
0,941; RMSEA: 0,046 [90% CI: 0,041-0,051]). Độ tin cậy tổng hợp các cấu trúc thay đổi từ 0,708  
đến 0,863; tổng phương sai trích biến đổi từ 0,45 đến 0,614. Mô hình ổn định qua phân tích  
đa nhóm theo nghề nghiệp, không có sai số có ý nghĩa trên mô hình sai số chung và không có  
khác biệt có ý nghĩa giữa các mẫu được kiểm định chéo. Lãnh đạo bệnh viện và sự phối hợp ảnh  
hưởng mạnh đến phản hồi sự cố an toàn (β=0,76), từ đó tác động đến làm việc nhóm trong khoa  
(β=0,54) và khuynh hướng báo cáo sự cố (β=0,72). Chuyển bệnh bàn giao và làm việc liên khoa  
tác động trực tiếp đến phản ứng không buộc tội (β=0,25) và gián tiếp thông qua lãnh đạo khoa  
(β=0,59*0,25). Kết luận: Cần kiểm định thang đo phù hợp bối cảnh bệnh viện trước khi áp dụng.  
Từ khóa: Phân tích nhân tố khẳng định (CFA), Văn hóa an toàn người bệnh (VHATNB).  
ABSTRACT  
VALIDATING THE MEASURING SCALE OF HOSPITAL SURVEY ON PATIENT SAFETY CULTURE  
Do Van Niem, Le Minh Lan Phuong, Le Thi Truc, Tran Thi My Le, Le Thi Chau  
Introduction: Developing a valid and context-based scale for patient safety culture measuring is  
necessary before intervention. Objectives: Validating revised HSOPSC-VN and establishing causal  
model between constructs. Method: To associate focus group discussion to revise the scales with  
exploratory factor analysis to propose measuring model, confirmatory factor analysis to validate the  
model, and using those results to establish the correlational model between factors in the the scale.  
Results: The final measurement model had 24 items and 7 constructs, with good model fit (CMIN/  
DF: 2.276, GFI: 0.936, CFI: 0.951, TLI: 0.941, RMSEA: 0.046 [90%CI: 0.041-0.051]). Composite reliability  
changed from 0.708 to 0.863 and average variance extracted (AVE) varried from 0.45 to 0.614. The  
model was stable on multi-group analysis between job groups, non-significant bias on the common  
latent factor (CLF) model and cross-validation on other samples. Hospital leadership and cooperation  
across units had strong effect to error feedback (β=0.76) and by mean of that affect to teamwork  
within units (β=0.54) and error reporting trend (β=0.72). Handoffs, transitions and teamwork across  
units had direct effect to non-punitive response to errors (β=0.25) and indirect effect through unit  
leadership (β=0.59*0.25). Conclusion: It is neccessary to validate the scale in specific context before  
application. Key words: Patient Safety Culture, Confirmatory Factor Analysis (CFA).  
Nhận bài: 5-1-2019; Thẩm định: 15-1-2019; Chấp nhận: 25-1-2019  
Người chịu trách nhiệm chính: Đỗ Văn Niệm  
Địa chỉ: Bệnh viện Nhi Đồng 1 - Tp.HCM; Email: [email protected]  
62  
phần nGhIÊn CỨU  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
bối cảnh và kiểm định thang đo trước khi sử dụng  
chính thức. Hơn nữa, việc đo lường các thành  
phần của khái niệm VHATNB mà không đánh giá  
tương quan giữa các cấu trúc có thể chưa thật sự  
đảm bảo giá trị ứng dụng.  
An toàn người bệnh là một thành tố mang  
tính nền tảng đối với chất lượng dịch vụ y tế. Sự  
phát triển kỹ thuật càng phức tạp và chuyên sâu  
thì mức rủi ro càng lớn. Bối cảnh thị trường dịch  
vụ y tế ngày càng cạnh tranh và yêu cầu của cộng  
đồng xã hội ngày càng cao nên an toàn người  
bệnh càng đặc biệt quan trọng. Vì vậy, nhu cầu  
phát triển một thang đo văn hóa an toàn người  
bệnh (VHATNB) phù hợp thực tiễn Việt Nam, đảm  
bảo độ tin cậy và tính giá trị là cần thiết trước khi  
triển khai các chương trình can thiệp.  
Vì vậy, nhóm thực hiện nghiên cứu này nhằm  
hiệu chỉnh và đánh giá lại thang HSOPSC-VN đảm  
bảo phù hợp với bối cảnh trước khi sử dụng tại  
bệnh viện.  
2. MụC TIêU VÀ PHƯơNG PHÁP NGHIêN CứU  
2.1. Mục tiêu: Đánh giá chất lượng thang đo  
HSOPSC-VN điều chỉnh qua phân tích nhân tố  
khám phá (EFA: Exploratory Factor Analysis) và  
CFA làm cơ sở đề xuất điều chỉnh thang đo phù  
hợp với bối cảnh để sử dụng trong chương trình  
can thiệp.  
Có khá nhiều thang đo VHATNB đã được  
giới thiệu trên thế giới, nhưng thang HSOPSC  
(Hospital Survey On Patient Safety Culture) do  
AHRQ (Agency for Health Research and Quality)  
giới thiệu năm 2004 được sử dụng phổ biến  
và được dịch ra nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng  
Việt[1,2,3,4,8,9,15] Sử dụng thang đo chuẩn hóa và phổ  
biến là điều kiện thuận lợi để có thể đối sánh kết  
quả,[8,9,14] giúp các nhà quản lý nhà nước về y tế  
Thiết lập mô hình tương quan giữa cấu trúc đo  
lường đầu vào và quá trình với nhóm nhân tố kết  
quả của VHATNB.  
2.2. Phương pháp: Kết hợp nghiên cứu định  
có thể đánh giá tình hình chung và có chính sách tính và định lượng.  
phù hợp. Tuy nhiên, thang đo chuẩn hóa thường  
không thể linh hoạt cho các tình huống cụ thể,  
khó phát hiện thay đổi nhỏ, điều này khá cần  
thiết trong các chương trình can thiệp tại mỗi  
bệnh viện. Kết quả báo cáo kết quả đo lường  
VHATNB ở Hoa Kỳ theo thang HSOPSC năm 2018  
của AHRQ cho thấy mức độ thay đổi khá nhỏ sau  
nhiều năm.[8]  
Giai đoạn 1: Thực hiện tổng quan y văn để  
xác định các cấu trúc không vững về thống kê  
như hệ số tải biến-nhân tố thấp < 0,4; độ tin cậy  
Cronbach’s alpha < 0,6 trong 12 cấu trúc thành  
phần HSOPSC làm cơ sở định hướng thảo luận  
nhóm bổ sung các mục hỏi; đảm bảo có ít nhất 4  
mục hỏi cho mỗi cấu trúc. Các cấu trúc có thành  
phần mục hỏi chưa đảm bảo giá trị nội dung dựa  
trên phân tích quá trình hoặc chi tiết khái niệm  
được bổ sung mục hỏi. Dùng bộ câu hỏi đã bổ  
sung khảo sát thử 20 người (10 bác sĩ, 7 điều  
dưỡng và 3 kỹ thuật viên) để đánh giá mức độ dễ  
hiểu và thảo luận tay đôi để làm rõ nội dung, từ  
đó thảo luận nhóm điều chỉnh từ ngữ các mục hỏi  
cho dễ hiểu và phù hợp bối cảnh. Sử dụng thang  
đo Likert 1-5 cho các biến đo lường nhân tố.  
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy tính không  
ổn định của thang HSOPSC. Điều này có thể do  
ảnh hưởng của bối cảnh và khác biệt văn hóa. Số  
lượng cấu trúc được thiết lập qua các nghiên cứu  
thay đổi từ 8 đến 11 so với thang đo nguyên thủy  
là 12. Các mô hình đo lường đề xuất từ 10 cấu  
trúc trở lên thường có thông số phù hợp ở mức  
giới hạn hoặc không đạt ngưỡng tối thiểu theo  
khuyến cáo chung về phân tích nhân tố khẳng  
định (CFA: Confirmatory Factor Analysis).[6,11,13]  
Giai đoạn 2: Nghiên cứu cắt ngang phân tích,  
sử dụng bộ câu hỏi của giai đoạn 1 để tổ chức  
Nhiều khuyến cáo về đo lường tâm lý học, khi sử điều tra. Áp dụng quy tắc ngón cái trong nghiên  
dụng thang đo sẵn có cần bổ sung mục hỏi theo cứu phân tích nhân tố và mô hình cấu trúc để  
63  
tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
xác định cỡ mẫu với mức tối thiểu là n = [số biến tiên can thiệp.  
đo lường] x 10.[5,6,12] Cỡ mẫu dự kiến tối thiểu là  
Dùng ứng dụng SPSS 24.0 (EFA) kết hợp AMOS  
510. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp  
dụng với tiêu chí chọn gần trọn dân số khảo sát là  
nhân viên y tế (bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên  
y) Bệnh viện Nhi Đồng 1 có mặt trong ngày khảo  
sát và đồng ý tham gia nghiên cứu.  
24.0 của IBM, Excel package tool và user-estimand  
SEM)[16] để phân tích số liệu ở giai đoạn 2 và 3.  
Giai đoạn EFA sử dụng phép trích Principal Axis  
Factoring, phép quay Promax (delta = 4), xác định  
số lượng cấu trúc dựa vào điểm uốn trên Scree plot  
và giá trị eigen >1. Sự phù hợp của dữ liệu mẫu  
được đánh giá dựa vào KMO (Kaiser-Meyer-Olkin  
Measure of Sampling Adequacy) > 0,8, kiểm định  
Barllett có ý nghĩa với p < 0,05. Các biến bị loại bỏ  
nếu hệ số tải biến - nhân tố thấp < 0,4; tương quan  
biến tổng < 0,3 hoặc tải chéo trên nhiều nhân tố  
với mức chênh lệch < 0,3. Độ phù hợp của mô hình  
EFA được đánh giá qua tính hội tụ (hệ số tải biến  
- nhân tố > 0,4; độ tin cậy nhân tố > 0,7; khả năng  
giải thích mô hình > 50%) và khả năng phân biệt  
(chênh lệch hệ số tải chéo > 0,3).  
Sau khi nhập liệu, các câu nghịch đảo (ký hiệu  
R) được chuyển đổi thành thang Likert thuận  
chiều. Dữ liệu được làm sạch bằng cách loại bỏ  
trường hợp khuyết dữ liệu từ 10% số mục hỏi  
của thang đo (từ 6 câu trở lên), trả lời “không chú  
ý” dựa trên sự giống nhau hoàn toàn theo từng  
phần trong bảng hỏi, của ít nhất 2 trong 5 phần  
bằng hàm độ lệch chuẩn trên Excel. Trường hợp  
khuyết dưới 10% được giữ lại và hiệu chỉnh bằng  
giá trị trung vị đối với trị khuyết của các biến đo  
lường thang Likert. Dữ liệu sau khi làm sạch được  
cắt mẫu ngẫu nhiên thành 2 phần tương ứng  
70% (mẫu 1) và 30% kích thước mẫu. Phần 70%  
được cắt đôi ngẫu nhiên lần thứ 2 và nối với 30%  
mẫu cắt lần 1 để tạo thành mẫu 2. Dùng mẫu 1  
trong giai đoạn thiết lập mô hình và mẫu 2 để  
kiểm định chéo mô hình.  
Mô hình CFA và SEM được đánh giá dựa  
trên chỉ số phù hợp tổng quát: p > 0,05 (nếu p  
< 0,05 sẽ được đánh giá và chấp nhận khi tỷ số  
Chi-squared/df < 3); GFI (Goodness of Fit Index)  
> 0,9; TLI (Tucker-Lewis coefficient) > 0,9; CFI  
(Comparative Fit Index) > 0,95; RMSEA (Root  
Mean Square Error of Approximation) < 0,06;  
PCLOSE (p value for testing close fit) > 0,05.  
Giá trị cấu trúc được đánh giá dựa trên hệ số  
tải biến-nhân tố > 0,4; độ tin cậy tổng hợp (CR:  
Composite reliability) > 0,7; tổng phương sai trích  
(AVE: Average Variance Extracted) > 0,5 và MSV  
(Maximum Shared Variance) < AVE.[5,6] Tính bất  
biến của mô hình được đánh giá thông qua độ ổn  
định của chỉ số phù hợp tổng quát, sự khác biệt  
Chi-squared và hệ số hồi quy không có ý nghĩa  
qua phân tích đa nhóm theo nghề nghiệp. Sai  
số của mô hình được đánh giá bằng mô hình sai  
số chung (CLF: Common Latent Factor). Sử dụng  
mẫu 2 để kiểm định chéo mô hình vừa thiết lập  
bằng kỹ thuật phân tích làm tổ (nested model)  
nhằm khẳng định độ ổn định của mô hình trên  
Thực hiện EFA trên mẫu 1 để đề xuất mô hình  
CFA khởi đầu cùng với 2 mô hình lý thuyết ban  
đầu (mô hình do AHRQ đề xuất và mô hình hiệu  
chỉnh của nhóm nghiên cứu). Tiếp tục dùng mẫu  
1 để CFA trên cả 3 mô hình trên. So sánh 3 mô  
hình CFA để chọn lựa mô hình tối ưu dựa trên chỉ  
số phù hợp và giá trị cấu trúc nhân tố cũng như  
nguyên lý tiết kiệm (ít tham số nhất). Sử dụng  
mẫu 2 để kiểm định chéo mô hình vừa thiết lập  
trước khi quyết định mô hình đo lường cuối cùng.  
Giai đoạn 3: Dùng mô hình đo lường cuối cùng  
để tạo dữ liệu gộp của các cấu trúc. Sử dụng mẫu  
1 để thiết lập mô hình cấu trúc (SEM: Structural  
Equation Model) nhằm đánh giá tương quan giữa  
các nhân tố và thực hiện kiểm định các giả thuyết  
nghiên cứu. Sau đó tiếp tục dùng mẫu 2 để kiểm  
định chéo mô hình. Dựa trên mức độ ảnh hưởng  
của các thành phần (dựa vào hệ số beta) và mức  
điểm trung bình nhân tố để đề xuất nội dung ưu mẫu khác nhau.  
64  
phần nGhIÊn CỨU  
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUậN  
đầu). Sau thực hiện cắt ngẫu nhiên và ghép mẫu,  
có 2 mẫu được tạo thành với cỡ mẫu là 608 (mẫu  
1) và 588 (mẫu 2).  
3.1. Kết quả giai đoạn nghiên cứu định tính  
Quá trình tổng quan y văn xác định thang đo  
HSOPCS không ổn định ở 6 cấu trúc: “Staffing -  
[PBNNL] Phân bổ nguồn nhân lực, phân công  
công việc”, “Overall perception of safety - [NTAT]  
Nhận thức chung về an toàn”, “Communication  
openness - [GTNB] Giao tiếp cởi mở trong nội bộ  
khoa”,“Hospital handoffs and transitions - [CBBG]  
Chuyển bệnh và bàn giao”,“[HTCTLT] - Học tập và  
cải tiến liên tục”và“[LVNLK] - Làm việc nhóm liên  
khoa (teamwork across units)”.[6,11,13] Trong đó cấu  
trúc NTAT, CBBG, HTCTLT ít ổn định nhất.  
Phân tích độ tin cậy sơ bộ bằng chỉ số  
Cronbach’s alpha trên mẫu 1, có 4 cấu trúc“NTAT”,  
“GTNB”; “PBNNL” và “LVNLK” có giá trị thấp dưới  
ngưỡng mục tiêu 0,6 với mức tương ứng theo  
thứ tự là 0,249; 0,479; 0,504 và 0,565. Kết quả  
này tương đồng với nghiên cứu của T.N.N. Anh  
(2015) và T.C.Thượng (2016a).[1,2] Cấu trúc NTAT  
được loại bỏ ở giai đoạn EFA do tính nhất quán  
nội tại quá thấp (có 4 biến tương ứng: A10, A15,  
A17, A18). Đối với 3 cấu trúc có giá trị Cronbach’s  
alpha trung gian, nhóm quyết định giữa lại để  
đưa vào phân tích nhân tố khám phá.  
Quá trình thảo luận nhóm bổ sung 9 câu hỏi  
thành phần vào các cấu trúc“BCSC-khuynh hướng  
báo cáo sự cố” (Câu D4a và D5a), “[GTNB]” (câu  
C8Ra),“PHBCSC-Phản hồi báo cáo sự cố”(câu C7a),  
“HTCTLT” (câu A19a), “[PUKBT]-Phản ứng không  
buộc tội” (câu A20Ra, A21Ra, A2Ra) và “[LĐBV]-  
Lãnh đạo bệnh viện”(câu F12a) (xem bộ câu hỏi ở  
phần phụ lục). Nhóm thống nhất sử dụng mô hình  
lý thuyết ban đầu được bổ sung câu hỏi thành  
phần (có 51 câu) để khảo sát trên mẫu nhằm đo  
lường nhân tố sau khi thảo luận nhóm.  
Giai đoạn EFA có 14 biến bị loại khỏi mô hình  
(A2, A5, A7, A8, A9, A12, A13, A19, B1, B2, C2, C6,  
C8a, D5a). Giá trị KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) 0,889  
và Barlett’s (p<0,001) có ý nghĩa cho thấy dữ liệu  
phù hợp để EFA. Nhân tố“[LDKP]-Lãnh đạo khoa,  
phòng” có 4 mục hỏi, được phân chia thành 2  
phần rất rõ ràng là B1-B2 và B3-B4. Thành phần  
B1-B2 hầu như không có liên quan với B3-B4 và  
tải chéo mạnh trên hầu hết các nhân tố khác nên  
bị loại bỏ. Nhân tố GTNB chỉ còn câu C4 được giữ  
lại và gộp vào nhân tố [PHSC-AT] - Phản hồi sự  
cố an toàn, nhưng khi xem xét nội dung câu hỏi  
C4 nhận thấy tương tự với cấu trúc này nên giữ  
nguyên tên cấu trúc. Nhân tố “[LVNLK]-Làm việc  
nhóm liên khoa” bị tách thành 2 phần, phần 1  
gồm F2-F4-F10 gộp vào LDBV, phần 2 là F6 gộp  
vào CBBG. Nhân tố PBNNL ban đầu bị loại bỏ sau  
EFA, chỉ còn biến A14 gộp vào nhân tố PUKBT.  
Sự ghép cặp này là không phù hợp về lý thuyết,  
tuy nhiên nhóm tiếp tục giữ biến này và lưu ý ở  
giai đoạn phân tích tiếp theo. Cấu trúc HTCTLT bị  
loại chỉ còn câu A6 ghép vào cấu trúc LVN. Như  
vậy, có 2 tên gọi cấu trúc nhân tố cần được điều  
chỉnh cho phù hợp với nhân tố ghép. Mô hình  
EFA đề nghị cuối cùng gồm 33 biến thành phần  
với 7 cấu trúc được trình bày tại bảng 1, khá  
tương đồng với nghiên cứu của T.N.N. Anh (2015)  
và Gambashidze (2017).[1,11] Có 4 nhân tố bị loại  
trong mô hình đề nghị của Gambashidze HTCTLT,  
NTAT, GTNB và CBBG. Khác biệt giữa mô hình đề  
nghị của chúng tôi với Gambashidze là nhân tố  
Dùng bộ câu hỏi khảo sát ban đầu để phỏng  
vấn thử và thảo luận mặt đối mặt với 10 bác sĩ, 7  
điều dưỡng và 3 kỹ thuật viên để xác định các từ  
khó hiểu nhằm điều chỉnh bộ câu hỏi trước khi  
phỏng vấn chính thức. Có 3 điểm điều chỉnh nhỏ  
sau khi phỏng vấn thử nên bộ câu hỏi đạt yêu cầu  
giá trị nội dung ở giai đoạn phân tích định tính.  
Các biến thời gian công tác được đo lường theo  
thang thứ tự trong bộ câu hỏi HSOPSC nguyên  
thủy được chuyển thành thang liên tục.  
3.2. Kết quả giai đoạn nghiên cứu định lượng  
Có 939 người, là nhân viên của Bệnh viện Nhi  
Đồng 1 - TP. Hồ Chí Minh, tham gia khảo sát trong  
2 tuần (tuần 40-41 năm 2018). Tỷ lệ phản hồi khá  
cao ở các câu với mức thấp nhất là 97,4%. Số  
người có tiếp xúc trực tiếp với người bệnh trong  
mẫu khảo sát là 91,7%. Giai đoạn làm sạch loại  
bỏ 14 trường hợp (1,49%) do khuyết dữ liệu trên  
10% (từ 6 câu trở lên) và 62 trường hợp (6,6%)  
trả lời “không chú ý”. Mẫu sau khi được làm sạch  
dữ liệu có 863 trường hợp (chiếm 91,9% mẫu ban CBBG được giữ lại nhưng có kết hợp với LVNLK.  
65  
tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
Bảng 1. Mô hình đo lường đề nghị từ phân tích EFA.  
Ký hiệu  
Tên gọi cấu trúc  
Làm việc nhóm (nội bộ khoa, phòng)  
Phản ứng không buộc tội đối với sự cố  
Lãnh đạo khoa, phòng  
Biến chỉ báo  
A1, A3, A4, A6, A11  
Số biến  
LVN  
5
5
2
5
4
6
6
PUKBT  
LDKP  
A14, A16, A20a, A21a, A22a  
B3, B4  
PHSC-AT  
BCSC  
Phản hồi & thông báo về sự cố - an toàn  
Khuynh hướng báo cáo sự cố  
C1, C3, C4, C5, C7a  
D1, D2, D3, D4a  
LDBV-PH  
CBBG-LK  
Lãnh đạo bệnh viện và phối hợp liên khoa  
Chuyển bệnh bàn giao và làm việc nhóm liên khoa  
F2, F1, F4, F8, F10, F12a  
F3, F5, F6, F7, F9, F11  
Kiểm tra giả định phân phối của dữ liệu trước  
khi CFA cho thấy dữ liệu mẫu 1 vi phạm giả định  
phân phối chuẩn đa biến về độ nhọn với giá trị C.R  
(Critical Ratio) chung là 92,9. Có 3 biến ảnh hưởng  
nặng là B4, D4a, F4 với giá trị C.R riêng cho biến gần  
bằng 10. Kết quả này đòi hỏi thận trọng khi diễn  
giải kết quả phân tích ước lượng bằng hàm hợp lý  
cực đại (Maximum Likelihood Estimation).  
Khi so sánh cả 3 mô hình CFA khởi đầu, mô  
hình nguyên thủy (42 biến chỉ báo) và hiệu chỉnh  
(51 biến chỉ báo) có độ phù hợp rất kém so với mô  
hình đề nghị từ phân tích EFA (xem bảng 3). Đồng  
thời hệ số tải biến nhân tố rất thấp dưới ngưỡng  
0,4 và thành phần chung thấp < 0,3 đối với các  
biến bị loại ở giai đoạn EFA chứng tỏ chỉ định sai  
mô hình. Vì vậy, nhóm chỉ sử dụng mô hình EFA  
đề nghị để tiếp tục phân tích.  
Hình 1a và 1b. Mô hình đo lường cuối cùng (không chuẩn hóa và chuẩn hóa)  
66  
phần nGhIÊn CỨU  
Hiệu chỉnh lần 1 bằng cách thêm covariance  
của các sai số tương ứng với giá trị MI > 10, thông  
số phù hợp tổng quát ở mức chấp nhận được,  
nhưng phân tích độ tin cậy có 4/7 cấu trúc không  
đạt giá trị AVE > 0,5 là PHSC-AT, CBBG-PH, LVN,  
LDBV-PH nên phải loại 4 biến C4, F3, A6 và F2. Mô  
hình hiệu chỉnh lần 2 cải thiện đáng kể độ phù  
hợp tổng quát, nhưng ở bước phân tích độ tin cậy  
vẫn còn 3 cấu trúc không đạt AVE > 0,5 là CBBG-  
LK, LVN, LDBV-PH; dù các cấu trúc đều cải thiện  
đáng kể giá trị AVE. Mô hình hiệu chỉnh lần 3 loại  
bỏ F11, A11 và F4 có độ phù hợp tốt với CMIN/  
df = 2,453; CFI=0,993; GFI=0,915, TLI=0,922,  
RMSEA=0,049 [90%CI: 0,041-0,051] và PCLOSE =  
0,654. Khi phân tích độ tin cậy, các chỉ tiêu đều  
đạt yêu cầu trừ AVE của nhân tố CBBG-LK chỉ đạt  
mức 0,407. Sau khi loại F9 (cùng với A14 do tương  
quan biến-tổng thấp < 0,3), AVE của CBBG-LK  
tăng lên 0,450 nhưng vẫn còn dưới ngưỡng 0,5.  
Nhóm quyết định giữ lại mô hình này do cấu trúc  
này chỉ còn 3 biến đo lường (mức tối thiểu).  
Kết quả đánh giá tính bất biến (configural,  
metric and scalar invariance) qua phân tích đa  
nhóm theo nghề nghiệp (bác sĩ: 141, điều dưỡng:  
295 và kỹ thuật viên: 56) cho thấy mô hình có thông  
số phù hợp tốt, không khác biệt về hệ số tải biến-  
nhân tố giữa các nhóm: p=0,312, nhưng có khác  
biệt về hệ số chặn (p=0,003). Do cỡ mẫu nhóm kỹ  
thuật viên khá nhỏ nên có thể bị tác động của cỡ  
mẫu. Phân tích so sánh giữa nhóm bác sĩ và điều  
dưỡng cho thấy không khác biệt về hệ số chặn  
(p=0,068). Trên mô hình sai số chung (CLF) không  
có khác biệt giữa mô hình chặn hoàn toàn (Zero-  
2
constrained) và không chặn (Unconstrained): χ  
Difference=100; DF Difference=583, p=1. Như vậy,  
mô hình đo lường có độ ổn định và không có sai số  
có ý nghĩa do phương pháp.  
Kiểm định chéo mô hình đo lường bằng mô  
hình phân tích làm tổ giữa mẫu 1 và mẫu 2 cho  
thấy không khác biệt có ý nghĩa giữa 2 mẫu  
(bảng 2).  
Bảng 2. Kết quả kiểm định sự khác biệt giữa 2 mẫu 1 và 2  
NFI  
Delta-1  
IFI  
Delta-2  
RFI  
rho-1  
TLI  
rho2  
Mô hình  
DF  
CMIN  
P
Giả định mô hình không chặn là phù hợp  
Measurement weights  
Structural covariances  
Measurement residuals  
17  
45  
69  
9,095  
24,967  
54,349  
,937  
,993  
,902  
,001  
,002  
,004  
,001  
,002  
,005  
-,002  
-,006  
-,008  
-,003  
-,006  
-,008  
Giả định mô hình “Measurement weights” là phù hợp  
Structural covariances  
Measurement residuals  
28  
52  
15,872  
45,254  
,968  
,734  
,001  
,004  
,001  
,004  
-,004  
-,005  
-,004  
-,005  
Giả định mô hình “Structural covariances” là phù hợp  
24 29,382 ,206 ,002  
Measurement residuals  
,002  
-,001  
-,002  
Mô hình đo lường cuối cùng cuối cùng gồm 24  
Do mô hình đo lường thay đổi chỉ còn 7 cấu  
câu hỏi thành phần với 7 cấu trúc nhân tố được trúc nhân tố nên giả thuyết nghiên cứu ban đầu  
trình bày tại hình 1a và 1b. Thông số phù hợp của được điều chỉnh theo nguyên tắc 3 lớp: yếu tố  
các mô hình được trình bày tại bảng 3. Độ tin cậy bệnh viện và liên khoa → yếu tố nội bộ khoa →  
của mô hình đo lường cuối cùng trình bày ở phần khuynh hướng báo cáo sự cố → đánh giá mức độ  
phụ lục (bảng 5).  
an toàn chung (biến chỉ báo E). Trong đó yếu tố  
67  
tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
nội bộ khoa đóng vai trò là biến trung gian trong cho 7 cấu trúc nhân tố hình thành ở giai đoạn  
mô hình ban đầu. Trường hợp tác động giữa biến trước, có 3 biến bổ sung vào mô hình là H1-Thời  
trung gian đến biến kết quả không có ý nghĩa gian công tác tại bệnh viện, H2-Thời gian công tác  
thống kê sẽ bị loại bỏ đường hồi quy và trở thành ở khoa hiện tại, H6-Thời gian công tác ở chuyên  
biến phụ thuộc cuối cùng. Ngoài 7 biến đại diện  
khoa hiện tại.  
Bảng 3. Thông số đánh giá độ phù hợp tổng quát của mô hình  
Mô hình đo lường  
Tiêu chí  
(ngưỡng đánh giá)  
Nguyên thủy  
4,072  
Hiệu chỉnh  
3,765  
EFA đề nghị  
2,792  
Cuối cùng  
2,276  
CMIN/DF (1-3)  
GFI < 0,9  
TLI < 0,9  
0,779  
0,750  
0,872  
0,936  
0,707  
0,714  
0,888  
0,941  
CFI < 0,95  
RMSEA (< 0,06)  
PCLOSE  
0,743  
0,740  
0,877  
0,951  
0,071  
0,067  
0,054  
0,046 [0,041-0,051]  
0,905  
0,000  
0,000  
0,014  
SRMR  
0,0439  
Hình 2a và 2b. Mô hình nguyên nhân chuẩn hóa và không chuẩn hóa  
Sử dụng dữ liệu gộp của các cấu trúc nhân tố tố trong mô hình PHSC-AT, PUKBT, LDKP, BCSC và  
trên mẫu 1 để thiết lập mô hình tương quan. Kiểm LVN theo thứ tự là 58%, 21%, 43%, 52% và 51%.  
tra giá trị ngoại lai bằng thống kê Cook’s Distance Độ phù hợp của mô hình tốt (CMIN/DF=2,694;  
có giá trị lớn nhất là 0,077 cho thấy dữ liệu không GFI=0,982; CFI=0,985; TLI=0,976; RMSEA=0,053  
có giá trị ngoại lai nghiêm trọng (ngưỡng xác định [90%CI: 0,035-0,072]; SRMR=0,0411). Phân tích  
là 4/600 = 0,0067). Các nhân tố độc lập và trung đa nhóm theo nghề nghiệp (bác sĩ, điều dưỡng,  
gian trong mô hình được kiểm tra đa cộng tuyến kỹ thuật viên) để đánh giá độ ổn định, cho thấy  
bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF: Variance mô hình không có khác biệt hệ số hồi quy chuẩn  
Inflated Factor) có giá trị từ 1,01 đến 3,1 cho thấy hóa giữa các nhóm (p = 0,804). Đối với hệ số chặn,  
không có hiện tượng đa cộng tuyến quan trọng. chỉ không có khác biệt giữa bác sĩ và điều dưỡng  
Riêng biến H1, H2 và H6 có giá trị VIF cao từ 5,4- (p=0,091), nhưng có khác biệt khi phân tích  
9,8. Mô hình tương quan cuối cùng trình bày tại cả nhóm kỹ thuật viên. Điều này có thể do ảnh  
hình 2a & 2b với khả năng giải thích của các nhân hưởng của cỡ mẫu quá nhỏ ở nhóm này.  
68  
phần nGhIÊn CỨU  
Tác động gián tiếp của LDBV-PH đến LVN, mẫu 2 nhưng giá trị β vẫn còn rất cao (từ 0,855  
BCSC và LDKP với giá trị β tương ứng theo thứ tự  
là 0,415; 0,552 và 0,222. Tác động gián tiếp của  
CBBG-LK đến PUKBT với giá trị β tương ứng là  
0,148.  
xuống 0,735; C.R = -3; p < 0,01). Riêng hệ số hồi  
quy từ LDBV-PH đến LVN giảm có ý nghĩa và còn  
rất nhỏ trên mẫu 2 (từ 0,223 xuống 0,029; C.R =  
-3; p < 0,01).  
Kiểm định chéo trên mô hình làm tổ giữa mẫu  
1 và 2 cho thấy ảnh hưởng của LDBV-PH đến LVN  
là không ổn định, không có khác biệt có ý nghĩa  
thống kê trên mẫu 2 với p= 0,477. Thời gian làm  
việc tại bệnh viện H1 cũng có tương quan đến  
PUKBT ở mức trung gian (p=0,07). Hệ số hồi quy  
Bổ sung biến đánh giá chung về mức độ an  
toàn [E] vào mô hình, chỉ có LDBV-PH và LVN ảnh  
hưởng có ý nghĩa đến nhận định chung về mức  
độ an toàn với hệ số β tương ứng là 0,19 và 0,17.  
Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu  
giữa LDBV-PH đến PHSC-AT giảm có ý nghĩa trên trình bày tại bảng 4.  
Bảng 4. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu về quan hệ nhân quả  
Giả thuyết nghiên cứu  
β
B
S.E.  
C.R.  
p
0,763  
(0,762)  
0,855  
(0,735)  
PHSC_AT  
LDKP  
<---  
<---  
LDBV_PH  
CBBG_LK  
0,029  
0,028  
29,096  
19,294  
0,000  
0,000  
0,589  
0,543  
LDKP  
BCSC  
PUKBT  
<---  
<---  
<---  
PHSC_AT  
PHSC_AT  
LDKP  
0,292  
0,723  
0,266  
0,339  
0,708  
0,307  
0,036  
0,027  
0,053  
9,542  
25,789  
5,814  
0,000  
0,000  
0,000  
0,232  
(0,029)  
0,253  
(0,033)  
0,000  
(0,477)  
LVN  
<---  
LDBV_PH  
0,047  
5,363  
LVN  
<---  
<---  
PHSC_AT  
CBBG_LK  
0,522  
0,259  
0,507  
0,275  
0,042  
0,047  
12,049  
5,825  
0,000  
0,000  
PUKBT  
0,12  
(0,064)  
0,01  
(0,005)  
0,001  
(0,07)  
PUKBT  
<---  
H1_1  
0,003  
3,18  
Ghi chú: Giá trị beta và p trong ngoặc dành cho mẫu số 2  
Điểm trung bình của các câu hỏi trong nhân thiệu cần được xem xét lại về lý thuyết, nếu cơ sở lý  
tố PUKBT khá thấp (mức trung bình < 3) so với  
các nhân tố khác. Đồng thời giá trị R2 của nhân tố  
này khá thấp (0,21) nên cần tìm yếu tố ảnh hưởng  
khác ngoài mô hình nguyên nhân được đề nghị  
từ nghiên cứu này. Đây là điều cần lưu ý khi quyết  
định triển khai các can thiệp trong thời gian tới.  
Điểm yếu của nghiên cứu này là chỉ thực hiện  
tại một điểm nghiên cứu của bệnh viện chuyên  
khoa nhi, không đảm bảo tính đại diện cho bối  
cảnh ngành y tế tại Việt Nam. Dữ liệu còn vi phạm  
giả định phân phối chuẩn đa biến. Mô hình tương  
quan giữa một vài cấu trúc trong mô hình chưa thật  
sự ổn định khi kiểm định trên các mẫu khác nhau và  
mẫu nghiên cứu còn nhỏ nên nhóm phải sử dụng  
phương pháp kiểm định chéo trên mẫu có trùng lặp  
50% số trường hợp với mẫu dùng đề thiết lập mô  
thuyết vững có thể do chỉ định mô hình chưa phù  
hợp và có khả năng cần áp dụng mô hình nguyên  
nhân trong đo lường các cấu trúc này.  
4. KẾT LUậN VÀ KIẾN NGHỊ  
4.1. Kết luận  
Mô hình đo lường được giới thiệu qua nghiên  
cứu này gồm 7 cấu trúc với 24 câu hỏi thành phần;  
đảm bảo giá trị cấu trúc, độ tin cậy, tính giá trị  
và ổn định qua phân tích đa nhóm và kiểm định  
chéo. Có 2 cấu trúc ghép so với mô hình được  
AHRQ giới thiệu là LDBV-PH và CBBG-LK.  
LDBV-PH ảnh hưởng đến PHSC-AT và thông  
qua đó tác động đến LVN trong nội bộ khoa, BCSC  
và LDKP. CBBG-LK ảnh hưởng tích cực đến LDKP  
và PUKBT. Tác động trực tiếp từ LDBV-PH đến LVN  
hình. Các cấu trúc bị loại từ mô hình do AHRQ giới nội bộ khoa không ổn định khi kiểm định chéo  
69  
tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
trên các mẫu khác nhau, nhưng tác động gián  
tiếp thông qua PHSC-AT mạnh.  
5. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc  
(2008). Chương XI. Đánh giá độ tin cậy của thang  
đo & Chương XII. Phân tích nhân tố. In: Phân tích  
dữ liệu trên SPSS, tập 2: 13-41. NXB Hồng Đức.  
6. Trương Đình Thái (2017). Chương 6 - Mô  
hình cấu trúc tuyến tính (trang 393-468), Chương  
8 - Phân tích đa nhóm (trang 530-55) trong: Mô  
hình cấu trúc tuyến tính: Lý thuyết và ứng dụng.  
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.  
7. AHRQ (2016). Hospital Survey on Patient  
Safety Culture: User’s Guide.  
8. AHRQ (2018). Hospital Survey on Patient  
Safety Culture: 2018 User Database Report  
9. Joanne Campione, Theresa Famolaro (2018).  
Promising Practices for Improving Hospital Patient  
Safety culture. The Joint Commission Journal on  
Quality and Patient Safety 2018; 44: 23-32.  
4.2. Kiến nghị  
Cần điều chỉnh thang đo phù hợp bối cảnh  
và kiểm định giá trị trước khi áp dụng trong các  
chương trình can thiệp về VHATNB.  
Các nhân tố LDBV-PH, CBBG-LK, PHSC-AT và  
LDKP là những yếu tố quan trọng cần lưu ý trong  
các chương trình can thiệp về VHATNB. Các can  
thiệp cần tập trung nhiều hơn vào các nội dung  
liên quan nhân tố PUKBT.  
VẤN ĐỀ Y ĐứC TRONG NGHIêN CứU  
Đề cương nghiên cứu được Hội đồng Khoa  
học và Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Bệnh  
viện Nhi Đồng 1 (mã số hội đồng: FWA00009748)  
chấp thuận tại biên bản họp số 1027/BB-BVNĐ1  
ngày 12-10-2018. Đối tượng phỏng vấn có quyền  
từ chối hoặc đồng ý tham gia dựa trên đồng thuận  
bằng lời tại thời điểm khảo sát. Kết quả khảo sát  
được bảo mật về thông tin cá nhân.  
10. The Health Foundation (2011). Evidence  
scane: Measuring Safety Culture.  
11. Nikoloz Gambashidze, Antje Hammer,  
Mareen Brösterhaus, Tanja Manser (2017).  
Evaluation of psychometric properties of the  
German Hospital Survey on Patient Safety Culture  
and its potential for cross-cultural comparisons: a  
crosssectional study. BMJ Open 2017;0:e018366.  
doi:10.1136/bmjopen-2017-018366.  
12. Jum C. Nunnally and Ira H. Bernstein  
(1993). Chapter 5. “Linear combinations, partial  
correlation, multiple correlation, and multiple  
regression” in: Psychometric theory (3rd edition),  
McGROW-HILL, INC (page 159-208: page 189).  
13. Cláudia Tartaglia Reis, Josué Laguardia,  
Ana Glória Godoi Vasconcelos, Mônica Martins  
(2016). Reliability and validity of the Brazilian  
version of the Hospital Survey on Patient Safety  
Culture (HSOPSC): a pilot study. Cad. Saúde  
Pública 2016; 32(11):e00115614.  
14. Scott Alan Smith, Naomi Yount and Joann  
Sorra (2017). Exploring relationships between  
hospital patient safety culture and Consumer  
Reports safety scores. BMC Health Services  
Research (2017) 17:143. DOI 10.1186/s12913-  
017-2078-6.  
15. Westat, Rockville, Joann Sorra, Veronica  
Nieva (2004). Hospital Survey on Patient Safety  
Culture. Contract No. 290-96-0004. AHRQ  
Publication No. 04-0041.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Nguyễn Như Anh (2015). Nghiên cứu  
văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh viện Từ Dũ.  
Luận văn thạc sĩ kinh tế - Trường Đại học Kinh tế  
TP. Hồ Chí Minh.  
2. Tăng Chí Thượng, Ngô Ngọc Quang Minh,  
Võ Thanh Liêm, Nguyễn Thị Thoa, Nguyễn Minh  
Phương, Huỳnh Thị Phượng, Lê Anh Tuấn, Trương  
Cộng Hòa, Phạm Thanh Hải, Lê Huy Nguyễn Tuấn  
(2016). Xây dựng phiên bản tiếng Việt bộ câu hỏi  
khảo sát về văn hóa an toàn người bệnh của Cơ  
quan Quản lý chất lượng và Nghiên cứu sức khỏe  
Hoa Kỳ. Y học TP. Hồ Chí Minh, 20 (2): 239-246.  
3. Tăng Chí Thượng, Ngô Ngọc Quang Minh,  
Võ Thanh Liêm, Nguyễn Thị Thoa, Nguyễn Minh  
Phương, Huỳnh Thị Phượng, Lê Anh Tuấn, Trương  
Cộng Hòa, Phạm Thanh Hải, Lê Huy Nguyễn Tuấn  
(2016). Khảo sát thực trạng văn hòa an toàn người  
bệnh tại các bệnh viện trong Thành phố Hồ Chí  
Minh. Y học TP. Hồ Chí Minh, 20 (2): 454-465.  
4. Tăng Chí Thượng, Nguyễn Thanh Hùng, Lê  
Bích Liên, Đào Trung Hiếu, Đỗ Văn Niệm, Ngô  
Ngọc Quang Minh, Nguyễn Thị Cẩm Lệ, Nguyễn  
VũThanh Nhã, Đoàn PhươngTuyết Nhung (2014).  
Khảo sát văn hóa an toàn người bệnh tại Bệnh  
viện Nhi Đồng 1 năm 2012.  
16. Excel package tool và user-estimand được  
70  
phần nGhIÊn CỨU  
71  
tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
PHụ LụC  
BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1  
HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN - BAN AN TOÀN NGƯỜI BỆNH  
KHẢO SÁT VĂN HÓA AN TOÀN NGƯỜI BỆNH (ATNB)  
(Bản sử dụng để tổ chức khảo sát chính thức, Version: 1.4 - 2018.10.08)  
Anh (Chị) đang làm việc cho Bệnh viện Nhi Đồng 1 (kể cả CBG, nội trú): Có Không (ngưng)  
Vui lòng cho ý kiến về mức độ đồng ý của Anh (Chị) đối với mỗi phát biểu sau:  
(đánh dấu “X” vào ô tương ứng với câu trả lời)  
1. Rất không đồng ý, 2. Không đồng ý, 3. Chấp nhận/Tạm được, 4. Đồng ý, 5. Rất đồng ý  
Mã số  
Nội dung khảo sát  
[A] Ý kiến về khoa, phòng nơi Anh (Chị) đang làm việc:  
Mọi người trong khoa hỗ trợ lẫn nhau trong công việc.  
Khoa có đủ nhân lực để hoàn thành công việc.  
Trả lời  
3
1
2
4
5
A1  
A2  
Khi có nhiều việc cần làm, mọi người trong khoa thường làm việc theo nhóm để  
nhanh chóng hoàn thành công việc.  
A3  
A4  
A5R  
A6  
Mọi người trong khoa tôn trọng lẫn nhau.  
Nhân viên trong khoa thường phải làm thêm giờ để chăm sóc tốt người bệnh.  
Khoa chủ động triển khai các biện pháp an toàn người bệnh.  
Khoa thường phải dùng thêm nhân viên tạm thời để chăm sóc tốt người bệnh.  
Nhân viên cảm thấy bị thành kiến, phán xét hay bị cô lập khi có sai sót.  
Các sai lầm, sai sót trước đó đã giúp dẫn đến thay đổi tích cực ở khoa.  
Không xảy ra sai lầm nghiêm trọng ở khoa là do may mắn.  
A7R  
A8R  
A9  
A10R  
A11  
Khi một bộ phận trong khoa quá bận rộn, những bộ phận khác sẽ giúp đỡ.  
Khi có một sự cố được báo cáo, cứ giống như một người được nêu tên chứ không  
phải một vấn đề được nêu ra để phân tích nguyên nhân & cải tiến.  
A12R  
A13  
A14R  
A15  
Khoa có đánh giá hiệu quả các biện pháp an toàn người bệnh đã triển khai.  
Nhân viên thường phải “cuống cả lên” để làm nhiều việc và làm nhanh hơn.  
Khoa không bao giờ bỏ qua các yêu cầu về an toàn để làm nhanh hơn.  
Nhân viên lo lắng các sai sót của họ sẽ bị ghi vào lý lịch (hồ sơ) cá nhân.  
Khoa còn có một số vấn đề về an toàn người bệnh.  
A16R  
A17R  
A18  
Quy trình làm việc và các yếu tố khác ở khoa đủ tốt để phòng ngừa sự cố xảy ra.  
Khoa định kỳ xem xét những vấn đề ATNB ít nhất mỗi năm 1 lần.  
A19a  
A20aR Nhân viên lo lắng sẽ bị phạt (xét thi đua, trừ lương-thưởng…) khi có sự cố.  
A21aR Nhân viên cảm thấy bị phiền hà do điều tra, nhắc đi nhắc lại về sự cố.  
A22aR Nhân viên thường lo lắng bị lãnh đạo la rầy khi có sự cố xảy ra.  
[B] Ý kiến về lãnh đạo khoa, phòng nơi Anh (Chị) đang làm việc:  
1
2
3
4
5
Lãnh đạo khoa (người quản lý trực tiếp) thường khen khi thấy nhân viên tuân thủ  
các quy định, hướng dẫn về an toàn người bệnh.  
B1  
72  
phần nGhIÊn CỨU  
Mã số  
B2  
Nội dung khảo sát  
Trả lời  
Lãnh đạo khoa (người quản lý trực tiếp) xem xét kỹ lưỡng những đề xuất cải thiện  
an toàn người bệnh của nhân viên.  
Khi áp lực công việc gia tăng, lãnh đạo khoa (người quản lý trực tiếp) muốn chúng  
tôi làm nhanh hơn, ngay cả khi phải bỏ bớt các bước của quy trình.  
B3R  
B4R  
Lãnh đạo khoa thường bỏ qua các vấn đề an toàn dù nó lặp đi, lặp lại.  
[C] Ý kiến về trao đổi thông tin trong khoa, phòng đang làm việc:  
Chúng tôi được phản hồi về những cải tiến liên quan các sự cố đã báo cáo.  
Nhân viên thoải mái nói ra vấn đề có thể ảnh hưởng xấu cho người bệnh.  
Chúng tôi được thông báo về các sự cố xảy ra ở khoa, phòng đang làm việc.  
Nhân viên thoải mái khi thắc mắc các quyết định, hành động của lãnh đạo.  
Khoa thường thảo luận biện pháp phòng ngừa sự lặp lại các sự cố tương tự.  
Nhân viên thường e ngại khi hỏi về những điều họ nghĩ là sai.  
1
2
3
4
5
C1  
C2  
C3  
C4  
C5  
C6R  
C7a  
C8aR  
Khoa có thông báo về sự cố ở khoa khác, bệnh viện khác để học hỏi.  
Nhân viên thường ít có cơ hội trao đổi, hỏi ý kiến lãnh đạo khoa, phòng.  
[D] Tần suất báo cáo sự cố ở khoa, phòng đang làm việc:  
1
2
3
4
5
Khi gặp hoặc mắc sai lầm, nhưng được phát hiện và chỉnh sửa kịp thời nên không  
ảnh hưởng đến người bệnh, thì Anh (Chị) thường báo cáo.  
D1  
D2  
D3  
Khi gặp hoặc mắc sai lầm, nhưng sự cố không gây tổn thương nặng cho người  
bệnh, thì Anh (Chị) thường báo cáo.  
Khi gặp hoặc mắc sai lầm có khả năng gây hại cho người bệnh, nhưng thực tế  
không gây hại, thì Anh (Chị) thường báo cáo  
Khi gặp hoặc mắc sai lầm và sự cố đã gây tổn thương nặng cho người bệnh, thì Anh  
(Chị) thường báo cáo.  
D4a  
D5a  
Khi phát hiện nguồn nguy hiểm, Anh (Chị) thường báo cáo bộ phận quản lý.  
[E] Nhận định về mức an toàn ở khoa: EQuá rủi ro DKém CTạm được BTốt AHoàn hảo  
Mã số  
Nội dung khảo sát  
Trả lời  
3
[F] Ý kiến nhận xét của Anh (Chị) về bệnh viện đang:  
1
2
4
5
F1  
F2  
Lãnh đạo bệnh viện tạo bầu không khí khuyến khích an toàn người bệnh.  
Các khoa, phòng trong bệnh viện phối hợp tốt với nhau.  
F3R  
F4  
Sự cố thường xảy ra khi chuyển người bệnh từ khoa này sang khoa khác.  
Sự hợp tác tốt giữa các khoa phòng là rất cần thiết để làm việc chung.  
Thông tin quan trọng của người bệnh thường bị thiếu khi đổi ca làm việc.  
Nhân viên thường thấy khó chịu khi làm việc với nhân viên ở khoa khác.  
Vấn đề thường xuất hiện trong khi trao đổi thông tin giữa các khoa, phòng.  
Hoạt động của lãnh đạo bệnh viện cho thấy ATNB là ưu tiên hàng đầu.  
Lãnh đạo bệnh viện dường như chỉ quan tâm ATNB sau khi có sự cố nặng.  
Các khoa, phòng phối hợp tốt với nhau để chăm sóc người bệnh tốt nhất.  
Đổi ca làm việc là thời điểm dễ xảy ra sự cố ở bệnh viện.  
F5R  
F6R  
F7R  
F8  
F9R  
F10  
F11R  
F12a  
Lãnh đạo bệnh viện quan tâm đến các bài học từ sự cố ở bệnh viện khác.  
73  
tạp chí nhi khoa 2019, 12, 1  
Vui lòng cung cấp thông tin liên quan cá nhân của Anh (Chị):  
[A0] Khoa, phòng đang làm việc: ………………………………………………………………………..  
[G] Số lượt phiếu báo cáo sự cố Anh (Chị) đã gửi về phòng QLCL trong 12 tháng qua? ………. phiếu  
[H1] Thời gian đã làm việc tại bệnh viện: ……. năm  
[H2] Thời gian đã làm việc tại khoa, phòng hiện tại: …….. năm  
[H3] Anh (Chị) làm việc tại bệnh viện bao nhiêu giờ mỗi tuần? ………giờ (lưu ý: 5 ngày x 8 giờ = 40 giờ)  
[H4] Nghề nghiệp của Anh (Chị):…………………………………………………………………………  
[H5] Anh (Chị) có tương tác hay tiếp xúc trực tiếp với người bệnh không? 1 Có 0 Không  
[H6] Anh (Chị) đã làm việc bao lâu ở chuyên khoa này? ……. năm  
74  
pdf 13 trang yennguyen 19620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kiểm định thang đo khảo sát văn hóa an toàn người bệnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkiem_dinh_thang_do_khao_sat_van_hoa_an_toan_nguoi_benh.pdf