Khảo sát điểm chất lượng cuộc sống của người dân ở một số khu vực thường xuyên ngập úng tại phường Phú Thuận, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
KHẢO SÁT ĐIỂM CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN  
Ở MỘT SỐ KHU VỰC THƯỜNG XUYÊN NGẬP ÚNG  
TẠI PHƯỜNG PHÚ THUẬN, QUẬN 7, TP. HỒ CHÍ MINH  
Đặng Văn Chính*, Đặng Ngọc Chánh*, Lê Việt Anh*, Nguyễn Thị Hồng Diễm*  
TÓM TẮT  
Đặt vấn đề: TP.HCM là đô thị lớn nhất và là trung tâm kinh tế của cả nước với sự đóng góp 20% vào  
GDP quốc gia và 30% vào tổng giá trị xuất khẩu. Mặc dù có vai trò quan trọng chiến lược trong nền kinh tế  
quốc gia, tuy nhiên TP.HCM lại nằm trên một nền đất thấp và dễ dàng bị ngập do mưa lớn, nước lũ thượng  
nguồn hay triều cường. Trước tình trạng ngập úng thường xuyện xảy ra trên diện rộng tại TP.HCM, có thể gây  
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và sức khoẻ của người dân.  
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định sự thay đổi điểm trung bình chất lượng cuộc sống (CLCS) dựa vào thang  
đo WHOQOL-BREF của người dân phường Phú Thuận, Quận 7, TP. HCM tại thời điểm bị ngập lụt so với thời  
điểm không bị ngập lụt.  
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng thiết kế theo dõi dọc có bắt cặp và phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại  
hộ gia đình. Tiến hành thu thập dữ kiện vào 2 thời điểm khi không bị ngập lụt và khi bị ngập lụt. Sử dụng bộ câu  
hỏi bộ câu hỏi WHOQOL-BREF đã được chuẩn hóa tại Việt Nam.  
Kết quả nghiên cứu: Điểm CLCS của 3 lĩnh vực Sức khỏe thể chất (SKTC), Sức khỏe tinh thần(SKTT) và  
Môi trường sống (MTS) tại thời điểm ngập lụt đều thấp hơn so với thời điểm không bị ngập lụt. Điểm CLCS ở  
lĩnh vực MTS của người dân ở khu vực có tình trạng ngập lụt nặng hơn như đường Huỳnh Tấn Phát thấp hơn  
so với các khu vực còn lại. Tuổi, giới, trình độ học vấn và thu nhập gây ảnh hưởng tiêu cực tới điểm CLCS ở cả 4  
lĩnh vực SKTC, SKTT, QHXH và MTS.  
Kết luận: Tình trạng ngập lụt có gây ảnh hưởng tới điểm trung bình CLCS của người dân phường Phú  
Thuận, Quận 7, TP. HCM ở 3 lĩnh vực SKTC, SKTT và MTS.  
Từ khóa: chất lượng cuộc sống, ngập úng, đô thị  
ABSTRACT  
QUALITY OF LIFE SCORES ASSESSMENT AMONG PEOPLE LIVING IN SOME AREAS  
WITH FREQUENT FLOODING IN PHU THUAN WARD, DISTRICT 7, HO CHI MINH CITY  
Dang Van Chinh, Dang Ngoc Chanh, Le Viet Anh, Nguyen Thi Hong Diem  
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 503 – 509  
Background: Ho Chi Minh City is the biggest city and the economic center of Vietnam with its contribution  
of 20 percent to the country’s GDP and 30 percent to the total export value. Despite of its strategic role in the  
national economy, Ho Chi Minh City is located in a lowland area and easily flooded by heavy rains, upstream  
floods, or strong flood tides. The risks of frequent large-scale flooding in Ho Chi Minh City can lead to serious  
impacts on people’s living and health.  
Objectives: To examine changes in the average scores of the quality of life of people living in Phu Thuan  
ward, district 7, Ho Chi Minh City using WHOQOL-BREF instrument by comparing between the flooding  
period and the non-flooding period.  
*Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh.  
Tác giả liên lạc: ThS. Lê Việt An  
ĐT: 0987123847  
Email: [email protected]rg.vn  
503  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Methods: Using tracking methods and paired comparison and in person interviews with households;  
collecting data in both flooding and non-flooding periods; employing WHOQOL-BREF standardized for  
Vietnam.  
Results: The quality of life (QOL) score in three aspects included physical health, mental health and living  
conditions at flooding time was lower than non - flooding time. The QOL score of living conditions of people who  
living at affected areas was lower than other areas, such as at Huynh Tan Phat road area. There were 4 factors  
including: age, gender, educational level and income have affected to QOL scores in term of physical health,  
mental health and living condition.  
Conclusion: Flooding did affect the average score of people’s quality of life in Phu Thuan ward, district 7,  
Ho Chi Minh City in three aspects of in terms of physical health, mental health and living conditions.  
Keywords: quality of life, flooding, urban  
và hệ thống metro có nguy cơ ngập lụt(1). Trước  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
nguy cơ thường xuyên xảy ra ngập tại TP. Hồ  
Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là đô thị  
Chí Minh trên diện rộng có thể gây ảnh hưởng  
lớn nhất và là trung tâm kinh tế của cả nước với  
nghiêm trọng đến sinh hoạt, sức khoẻ của người  
sự đóng góp 20% vào GDP quốc gia và 30% vào  
dân(3). Tuy nhiên, hiện tại các nhà nghiên cứu chỉ  
tổng giá trị xuất khẩu. Mặc dù có vai trò quan  
tập trung vào việc đánh giá tình trạng ngập lụt  
trọng chiến lược trong nền kinh tế quốc gia, tuy  
ảnh hưởng tới giao thông đô thị hay quy hoạch  
nhiên TP. Hồ Chí Minh lại nằm trên một nền đất  
đô thị. Hầu như, chưa có nhiều nghiên cứu tìm  
thấp và dễ dàng bị ngập do mưa lớn, nước lũ  
hiểu về những ảnh hưởng của tình trạng này lên  
thượng nguồn hay triều cường(6). Theo Trung  
đời sống cũng như sức khỏe của người dân.  
tâm Chống ngập của thành phố, 60% diện tích  
Quận 7 được hình thành từ 05 xã phía Bắc  
toàn thành có cao độ thấp hơn 2 m, trong khi  
và một phần thị trấn huyện Nhà Bè cũ với  
mực nước cao nhất tại trạm Phú An trên sông  
tổng diện tích tự nhiên là 3576 ha nằm về phía  
Sài Gòn và gần trung tâm thành phố có thể đạt  
Đông Nam thành phố. Đây là khu vực có địa  
1,55 m. Với mực nước 1,55 m cộng thêm 1m  
hình tương đối thấp trung bình 0,6m đến 1,5m,  
nước biển dâng cao vào cuối thế kỷ sẽ gây ngập  
chịu ảnh hưởng trược tiếp của tình trạng ngập  
phần lớn diện tích thành phố(7). Hơn nữa, tốc độ  
triều với độ ngập sâu có thể từ 0,5 -1,0 m(2).  
lún gần 15 mm/năm hiện nay tại nhiều điểm  
Trong 5 năm gần đây, các khu vực trên địa bàn  
trong thành phố sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề.  
quận như đường Huỳnh Tấn Phát, Gò Ô Môi,  
Hiện nay, cả thành phố có hơn 100 điểm  
đường Phú Thuận,thường xuyên xảy ra tình  
ngập, tổng cộng 154/322 xã phường đã ghi nhận  
trạng ngập lụt kéo dài(5). Người dân sinh sống  
bị ngập lụt thường xuyên. Trong điều kiện khí  
tại đây cũng đã nhiều năm liền chịu cảnh sống  
hậu cá biệt như cơn bão Linda năm 1997 thì 48%  
và sinh hoạt chung với ngập lụt. Với hiện  
dân số thành phố sẽ chịu cảnh ngập lụt. Một báo  
trạng như vậy, có thể gây ảnh hưởng không  
cáo khác của Ngân hàng Thế giới xếp TP. Hồ  
nhỏ đến CLCS của dân cư sinh sống trên  
Chí Minh vào danh sách 25 thành phố rủi ro  
những khu vực này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu  
nhất thế giới về quy mô dân số chịu ảnh hưởng  
về CLCS của người dân ở khu vực thường  
của các cơn bão liên quan tới BĐKH(4). Nghiên  
xuyên ngập lụt phường Phú Thuận, quận 7,  
cứu của Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế  
TP. Hồ Chí Minh được tiến hành với mong  
(ICEM 2009) dự báo tới năm 2050, 50% các nhà  
muốn đưa ra thêm các bằng chứng khoa học  
máy nước, 60% các nhà máy xử lý nước thải,  
giúp các ban ngành địa phương có cái nhìn  
90% diện tích các bãi rác thải và 30% đến 70% hệ  
đúng đắn cũng như có thêm các giải pháp  
thống giao thông bao gồm đường cao tốc, cảng  
ngăn ngừa và giảm bớt ảnh hưởng của tình  
504  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Nghề nghiệp chính  
Công chức/viên chức/nhân viên 72  
trạng ngập lụt lên đời sống của người dân  
29,15  
28,74  
31,58  
10,53  
trong khu vực.  
Công nhân  
Nghề tự do  
Nội trợ/hưu trí  
Địa điểm  
71  
78  
26  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định sự thay đổi điểm trung bình CLCS  
dựa vào thang đo WHOQOL-BREF của người  
dân phường Phú Thuận, Quận 7, TP. HCM tại  
thời điểm bị ngập lụt so với thời điểm không bị  
ngập lụt.  
Huỳnh Tấn Phát  
Gò Ô Môi  
50  
50  
48  
49  
50  
20,24  
20,24  
19,43  
19,84  
20,24  
Hoàng Quốc Việt  
Đào Trí  
Phú Thuận  
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu  
Thời gian cư ngụ trên địa bàn  
Từ 1 đến dưới 5 năm  
80  
80  
87  
32,39  
32,39  
35,22  
Có 247 người dân trên 18 tuổi sống ít nhất 1  
năm ở khu vực thường xuyên bị ngập lụt tại  
phường Phú Thuận, quận 7, TP. HCM.  
Từ 5 đến dưới 10 năm  
Trên 10 năm  
Thu nhập bình quân (triệu đồng)  
Trung bình ± Độ lệch chuẩn 7,49 ± 1,44  
Giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất 3,5 - 16  
Phương pháp nghiên cứu  
Sử dụng thiết kế theo dõi dọc có bắt cặp và  
phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia  
đình. Các đối tượng nghiên cứu sẽ được lên  
danh sách và tiến hành thu thập dữ kiện vào 2  
thời điểm khi không bị ngập lụt và khi bị ngập  
lụt. Để hạn chế tình trạng bị mất mẫu trong quá  
trình thu thập thông tin, mẫu được lấy dự trù  
lên 10%. Trong trường hợp mẫu bị mất nhiều  
hơn 10%, thì mẫu sẽ được lấy thay thế bằng các  
đối tượng sinh sống trong cùng khu vực có độ  
tuổi tương đương với các đối tượng đã bị mất  
mẫu. Sử dụng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF đã  
được chuẩn hóa tại Việt Nam.  
Tuổi của các đối tượng tham gia phỏng  
vấn có trung bình là 39 tuổi. Trong đó người  
nhỏ tuổi nhất tham gia nghiên cứu là 22 tuổi  
và cao tuổi nhất tham gia nghiên cứu là 64  
tuổi. Tỉ lệ giới tính phân bố khá đồng đều với  
nam 52,23% và nữ 47,77%. Đa số dối tượng có  
trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên, tỉ lệ này  
chiếm gần 75%, chỉ 25,1% có trình độ học vấn  
dưới cấp 3. Có 77,73% các đối tượng được  
phỏng vấn đã kết hôn và có gia đình. Nhóm  
đối tượng làm nghề tự do chiếm tỉ lệ cao nhất  
hơn 31,58%, tiếp đó nhóm công nhân viên  
chức, nhân viên văn phòng chiếm tỉ lệ 29,15%  
và nhóm công nhân chiếm tỉ lệ 27%. Thời gian  
sinh sống của người dân trong khu vực chủ  
yếu là trên 10 năm chiếm 35,22%. Thu nhập  
bình quân theo đầu người hàng tháng của gia  
đình các đối tượng có trung bình là 7,49 triệu,  
thấp nhất là 3,5 triệu đồng và cao nhất là 16  
triệu đồng (Bảng 1).  
KẾT QUẢ  
Đặc tính về dân số - xã hội  
Bảng 1: Tần số và tỉ lệ người dân phân bố theo đặc  
tính dân số- xã hội (N= 247)  
Đặc tính  
n
%
Tuổi  
Trung bình ± Độ lệch chuẩn  
39,33 ±8,36  
22 - 64  
Giá trị nhỏ nhất – giá trị lớn nhất  
Ảnh hưởng của tình trạng ngập lụt lên điểm  
trung bình CLCS của người dân  
Giới tính  
Nam  
129  
118  
52,23  
Nữ  
47,77  
Trong vòng 4 tuần (01 tháng), đa số đối  
tượng tham gia trả lời phỏng vấn ở thời điểm  
khộng bị ngập lụt tự đánh giá mức “Tốt” đối với  
chất lượng bản thân (44,9%). Tỉ lệ tự đánh giá  
chất lượng cuộc sống bình thường trong thời  
điểm không bị ngập cũng khá cao (41,3%). Trong  
Trình độ học vấn  
Biết đọc, viết/Cấp 1/Cấp 2  
Từ cấp 3 trở lên  
62  
25,10  
74,90  
185  
Tình trạng hôn nhân  
Độc thân  
55  
22,27  
77,73  
Có vợ/chồng  
192  
505  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
thời điểm bị ngập lụt thì mức tự đánh giá của  
các đội tượng về chất lượng cuộc sống chủ yếu  
là mức “Bình thường” (50,8%). Mức đánh giá  
chất lượng cuộc sống “Tốt” tại thời điểm này  
giảm xuống còn 29,3%, sự thay đổi này có ý  
nghĩa thống kê (p <0,05) (Bảng 2).  
Bảng 2: Ảnh hưởng của tình trạng ngập lụt đến mức độ tự đánh giá về CLCS trong 1 tháng vừa qua (N=247)  
Chất lượng cuộc sống  
Không ngập lụt  
Ngập lụt  
Rất kém (n,%)  
Kém (n,%)  
22 (8,9)  
Bình thường(n,%)  
102 (41,3)  
Tốt (n,%)  
111(44,9)  
72 (29,3)  
Rất tốt (n,%)  
12 (4,9)  
0
2 (0,8)  
42 (17,1)  
X2=58,11; p <0,001*  
125 (50,8)  
5 (2,0)  
*Kiểm định Stuart-Maxwell  
Bảng 3: Ảnh hưởng của tình trạng ngập lụt đến mức độ hài lòng về sức khỏe bản thân trong 1 tháng qua  
(N=247)  
Rất không hài lòng  
(n,%)  
Không hài lòng  
(n,%)  
Hài lòng  
(n,%)  
Rất hài lòng  
(n,%)  
Bình thường  
(n,%)  
Tình trạng sức khỏe  
Không bị ngập lụt  
Bị ngập lụt  
1 (0,4)  
5 (2,0)  
24 (9,7)  
96 (38,9)  
108 (43,7)  
78 (31,7)  
18 (7,3)  
7 (2,9)  
43 (17,5)  
X2=49,2; p <0,001*  
113 (45,9)  
* Kiểm định Stuart-Maxwell  
Tại thời điểm khộng bị ngập lụt mức độ tự  
đánh giá về tình trạng sức khỏe của các đối  
tượng chủ yếu là “Hài lòng” (43,7%). Mức “Bình  
thường” cũng chiếm tỉ lệ khá cao 38,9%. Tại thời  
điểm bị ngập lụt mức độ tự đánh giá về tình  
trạng sức khỏe của các đối tượng chủ yếu là  
“Bình thường” (45,9%). Mức “Hài lòng” giảm  
xuống còn 31,7%, sự thay đổi này cũng có ý  
nghĩa thống kê (p <0,05) (Bảng 3).  
Điểm trung bình CLCS bốn lĩnh vực sức  
khỏe của người dân được khi bị ngập lụt dao  
động từ 47,75 đến 63,06 điểm. Trong đó, điểm  
trung bình CLCS lĩnh vực SKTC cao nhất (63,06  
± 14,99), tiếp theo là điểm trung bình CLCS lĩnh  
vực QHXH (53,03 ± 13,74), và điểm trung bình  
CLCS lĩnh vực SKTT (48,33 ± 16,90), thấp nhất là  
trung bình CLCS lĩnh vực MTS (47,75 ± 14,64).  
Bảng 4 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê về điểm CLCS giữa 2 thời điểm ngập  
lụt và không ngập giữa ở các lĩnh vực SKTC,  
SKTT và MTS (p <0,001). Trong đó, điểm CLCS  
của 3 lĩnh vực SKTC, SKTT và MTS tại thời điểm  
ngập lụt đều thấp hơn so với điểm CLCS của 3  
lĩnh vực SKTC, SKTT và MTS tại thời điểm  
không bị ngập lụt. Lĩnh vực QHXH không có  
sức khác biệt giữa 2 thời điểm ngập lụt và không  
ngập lụt (p >0,05).  
Điểm trung bình CLCS bốn lĩnh vực sức  
khỏe của người dân được khi không bị ngập lụt  
dao động từ 53,02 đến 67,00 điểm. Trong đó,  
điểm trung bình CLCS lĩnh vực SKTC cao nhất  
(67,00 ± 13,44), tiếp theo là điểm trung bình  
CLCS lĩnh vực sức khoẻ tâm thần (54,13 ± 15,06),  
và điểm trung bình CLCS lĩnh vực MTS (53,56 ±  
13,62), thấp nhất là điểm trung bình CLCS lĩnh  
vực QHXH (53,02 ± 13,46).  
Bảng 4: Ảnh hưởng của tình trạng ngập lụt đến 4 lĩnh vực của CLCS (N= 247)  
Lĩnh vực  
Không ngập lụt (TB ± ĐLC)  
67,00 ± 13,45  
Ngập lụt (TB ± ĐLC)  
63,06 ± 14,99  
48,33 ± 16,9  
t
p
Sức khỏe thể chất  
Sức khỏe tâm thần  
Quan hệ xã hội  
Môi trường sống  
5,66  
8,69  
-0,08  
10,71  
p <0,001  
p <0,001  
0,93  
54,13 ± 15,06  
53,02 ± 13,46  
53,03 ± 13,74  
47,75 ± 14,64  
53,56 ± 13,62  
p <0,001  
(p <0,05). Hai lĩnh vực QHXH và MTS thì không  
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm  
giới tính nam và nữ (p >0,05). Có sự tương quan  
nghịch có ý nghĩa thống kê về điểm CLCS cả 4  
Các yếu tố liên quan tới điểm trung bình CLCS  
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt  
có ý nghĩa thống kê về điểm CLCS hai lĩnh vực  
SKTC và SKTT giữa 2 nhóm giới tính nam và nữ  
506  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
lĩnh vực với tuổi của đối tượng tham gia nghiên  
cứu (p <0,001). Trong đó, độ tuổi đối tượng càng  
cao thì điểm CLCS tại các lĩnh vực SKTC, SKTT,  
QHXH và MTS càng giảm.  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa khu  
vực sống và điểm CLCS hai lĩnh vực SKTT và  
MTS (p <0,05). Hai lĩnh vực SKTC và QHXH thì  
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa  
các khu vực sống (p >0,05). Trong đó, đối tượng  
sống tại khu vực đường Gò Ô Môi có điểm  
CLCS ở lĩnh vực MTS thấp nhất, còn đối tượng  
sống tại khu vực đường Phú Thuận có điểm  
CLCS ở lĩnh vực SKTT thấp nhất.  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm  
CLCS ở cả 4 lĩnh vực giữa các nhóm đối tượng  
có trình độ học vấn khác nhau (p <0,001). Trong  
đó, nhóm đối tượng có trình độ học vấn từ cấp 3  
trở lên có điểm CLCS lĩnh vực SKTC, SKTT,  
QHXH và MTS cao hơn nhóm có trình độ học  
vấn từ cấp 2 trở xuống.  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm  
CLCS ở cả 4 lĩnh vực giữa các nhóm có thời gian  
cư ngụ trên địa bàn trên địa bàn khác nhau.  
Trong đó nhóm sống từ 1 đến dưới 5 năm có  
điểm CLCS ở các lĩnh vực SKTC, SKTT, QHXH  
và MTS cao hơn tất các nhóm còn lại.  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê điểm  
CLCS ở lĩnh vực SKTC giữa nhóm đã kết hôn và  
còn độc thân (p <0,05). Trong đó, nhóm có tình  
trạng hôn nhân đã kết hôn có điểm CLCS ở lĩnh  
vực SKTC thấp hơn nhóm độc thân.  
Có sự tương quan thuận có ý nghĩa thống kê  
về điểm CLCS cả 4 lĩnh vực với thu nhập hàng  
tháng của gia đinh đối tượng phỏng vấn  
(p<0,001). Trong đó, thu nhập bình quân của gia  
đình đối tượng càng cao thì điểm CLCS tại các  
lĩnh vực SKTC, SKTT, QHXH và MTS càng tăng.  
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm  
CLCS ở cả 4 lĩnh vực giữa các nhóm nghề  
nghiệp khác nhau. Trong đó nhóm “Công  
chức/viên chức/nhân viên văn phòng” có điểm  
CLCS ở các lĩnh vực SKTC, SKTT, QHXH và  
MTS cao hơn các nhóm còn lại (p <0,001).  
Bảng 5: Các yếu tố liên quan tới với điểm trung bình CLCS (N=247)  
Sức khỏe thể chất  
(TB ± ĐLC)  
Sức khỏe tinh thần  
(TB ± ĐLC)  
Quan hệ xã hội  
(TB ± ĐLC)  
Môi trường  
(TB ± ĐLC)  
Đặc tính  
Giới  
Nam  
66,33 ± 13,25  
63,58 ± 15,38  
0,03  
53,34 ± 15,19  
48,93 ± 17,08  
0,003  
54,08 ± 13,85  
51,88 ± 13,23  
0,07  
51,11 ± 13,96  
50,17 ± 14,92  
0,47  
Nữ  
p
Tuổi  
r
-0,51  
-0,87  
-0,37  
-0,72  
-0,25  
-0,41  
-0,20  
-0,34  
Hệ số hồi quy  
p
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
Trình độ học vấn  
Dưới cấp 3  
Từ cấp 3 trở lên  
p
56,53 ± 13,49  
67,87 ± 13,51  
< 0,001  
40,90± 14,68  
54,70 ± 15,26  
< 0,001  
46,26± 11,91  
55,30 ± 13,37  
< 0,001  
40,06 ± 11,24  
54,21 ± 13,61  
< 0,001  
Hôn nhân  
Độc thân  
Có vợ/chồng  
p
67,90 ± 12,91  
64,20 ± 14,66  
0,02  
52,47 ± 15,46  
50,88 ± 16,47  
0,37  
53,96 ± 14,86  
52,76 ± 13,21  
0,41  
48,63 ± 13,00  
51,24 ± 14,77  
0,09  
Nghề nghiệp  
Công chức/viên chức/nhân  
viên  
69,53± 13,45  
56,56 ± 14,77  
57,53 ± 11,87  
57,34 ± 13,11  
Công nhân  
Nghề tự do  
Nội trợ/hưu trí  
p
66,15 ± 11,56  
64,58 ± 14,04  
50,77 ± 15,76  
< 0,001  
49,87 ± 12,83  
51,28 ± 18,72  
40,10 ± 14,47  
< 0,001  
50,61 ± 14,48  
53,27 ± 14,18  
46,42 ± 8,99  
< 0,001  
47,36 ± 12,23  
50,62 ± 15,70  
41,27 ± 10,91  
< 0,001  
507  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
Sức khỏe thể chất  
(TB ± ĐLC)  
Sức khỏe tinh thần  
(TB ± ĐLC)  
Quan hệ xã hội  
(TB ± ĐLC)  
Môi trường  
(TB ± ĐLC)  
Đặc tính  
Khu vực sống  
Huỳnh Tấn Phát  
Gò Ô Môi  
63,40 ± 13,62  
64,49 ± 15,46  
65,14 ± 15,95  
67,06 ± 9,64  
65,07 ± 16,13  
0,50  
51,20 ± 13,96  
49,44 ± 17,23  
53,17 ± 18,34  
54,80 ± 11,42  
47,72 ± 18,46  
0,02  
55,61 ± 14,06  
52,07 ± 11,82  
50,98 ± 15,52  
53,20 ± 13,05  
53,20 ± 13,11  
0,49*  
44,79 ± 10,78  
42,79 ± 14,09  
59,18 ± 13,92  
47,02 ± 10,97  
59,78 ± 12,34  
< 0,001  
Hoàng Quốc Việt  
Đào Trí  
Phú Thuận  
p
Thời gian cư ngụ trên địa  
bàn  
<5 năm  
68,41 ± 10,84  
66,57 ± 14,38  
60,48 ± 16,00  
< 0,001  
55,05 ± 12,90  
51,44 ± 17,90  
47,53 ± 16,68  
0,0001  
56,13 ± 13,70  
52,47 ± 14,36  
50,69 ± 12,22  
0,002*  
47,31 ± 11,81  
51,57 ± 15,22  
52,90 ± 15,34  
0,001  
Từ 5 - <10 năm  
Trên 10 năm  
p
Thu nhập bình quân  
r
0,20  
0,64  
0,27  
1,00  
0,29  
0,91  
0,32  
1,05  
Hệ số hồi quy  
p
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
< 0,001  
*Kiểm định Kruskal – Wallis  
BÀN LUẬN  
KẾT LUẬN  
Nghiên cứu cho thấy, điểm trung bình CLCS  
bốn lĩnh vực sức khỏe của người dân được khi  
không bị ngập lụt dao động từ 53,02 đến 67,00  
điểm. Trong đó, điểm trung bình CLCS lĩnh vực  
SKTC cao nhất, tiếp theo là điểm trung bình  
CLCS lĩnh vực sức khoẻ tâm thần, và điểm trung  
bình CLCS lĩnh vực MTS, thấp nhất là điểm  
trung bình CLCS lĩnh vực QHXH. Điểm trung  
bình CLCS bốn lĩnh vực sức khỏe của người dân  
được khi bị ngập lụt dao động từ 47,75 đến 63,06  
điểm. Trong đó, điểm trung bình CLCS lĩnh vực  
SKTC cao nhất, tiếp theo là điểm trung bình  
CLCS lĩnh vực QHXH và điểm trung bình CLCS  
lĩnh vực SKTT, thấp nhất là trung bình CLCS  
lĩnh vực MTS.  
Tình trạng ngập lụt có gây ảnh hưởng tới  
điểm trung bình CLCS của người dân phường  
Phú Thuận, Quận 7, TP. HCM ở 3 lĩnh vực  
SKTC, SKTT và MTS. Trong đó, điểm CLCS của  
3 lĩnh vực SKTC, SKTT và MTS tại thời điểm  
ngập lụt đều thấp hơn so với thời điểm không bị  
ngập lụt. Điểm CLCS ở lĩnh vực MTS của người  
dân ở khu vực có tình trạng ngập lụt nặng hơn  
như đường Huỳnh Tấn Phát thấp hơn so với các  
khu vực còn lại. Tuổi gây ảnh hưởng tiêu cực tới  
điểm CLCS ở cả 4 lĩnh vực SKTC, SKTT, QHXH  
và MTS. Tuổi càng cao thì điểm CLCS cả 4 lĩnh  
vực: SKTC, SKTT, QHXH và MTS càng thấp. Nữ  
giới có điểm CLCS ở hai lĩnh vực SKTC và SKTT  
thấp hơn so với nhóm đối tượng nam giới.  
Nhóm có trình độ học vấn cao có điểm CLCS ở 3  
lĩnh vực SKTT, QHXH và MTS cao hơn so với  
nhóm có trình độ học vấn thấp hơn. Nhóm đối  
tượng công nhân có điểm CLCS ở 4 lĩnh vực  
SKTC, SKTT, QHXH và MTS khá thấp so với  
nhóm công chức/viên chức/nhân viên hành  
chính. Thu nhập bình quân của gia đình có ảnh  
hưởng tốt tới điểm CLCS ở cả 4 lĩnh vực SKTC,  
SKTT, QHXH và MTS. Thu nhập càng cao thì  
điểm CLCS ở cả 4 lĩnh vực SKTC, SKTT, QHXH  
và MTS càng tăng.  
Tình trạng ngập lụt là một trong những  
yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến  
điểm CLCS ở 3 lĩnh vực với p <0,0001. Ở giai  
đoạn ngập lụt, khi xét lĩnh vực SKTC, SKTT,  
MTS, điểm CLCS đều có xu hướng giảm, dao  
động trong khoảng 4-5 điểm so với giai đoạn  
không ngập lụt. Kết quả này tương đồng với  
nghiên cứu năm 2004 của tác giả Tan HZ và  
cộng sự được thực hiện tại khu vực hồ Động  
Đình, Hồ Nam, một trong 4 hồ ngước ngọt lớn  
nhất Trung Quốc(Error! Reference source not found.)  
.
508  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019  
Nghiên cứu Y học  
khu vực thường xuyên ngập lụt trên địa bàn TP  
HCM để có những đánh giá xác thực hơn về  
những ảnh hưởng của hiện tượng ngập lụt.  
KIẾN NGHỊ  
Cần sớm có giải pháp giải quyết tình trạng  
ngập lụt này như xây dựng thêm các hồ điều  
hòa để thu gom và điều tiết nước cho toàn bộ  
khu vực. Đặc biệt ưu tiên giải quyết ở hai khu  
vực đường Huỳnh Tấn Phát và Gò Ô Môi. Đây  
là 2 khu vực này có mức độ ngập nghiêm trọng  
và điểm CLCS của người dân thấp hơn hẳn so  
với các khu vực khác.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Kỳ Phùng (2011). Biến đổi khí hậu và tác động đến  
thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố  
Hồ Chí Minh, pp.82-83.  
2. Nguyễn Thị Thanh Hương (2007). Nghiên cứu đánh giá tình  
trạng ngập lụt và đề xuất giải pháp giảm ngập cho quận Bình  
Thạnh. Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản Lý Môi Trường, Đại  
học Khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh.  
3. Nguyễn Thị Thu Hằng, Vũ Thụy Hà Anh và Nguyễn Lê Anh  
Pha (2014). Ảnh hưởng của ngập lụt do triều cường đến đời  
sống người dân quận 8 TP. HCM. Đại học Sài Gòn, pp.17-18.  
4. Susmita Dasgupta and et al (2009). Climate Change and the  
Future Impacts of Storm-Surge Disasters in Developing  
Countries. Center for global development, pp.11-12.  
Đẩy mạnh vai trò của các câu lạc bộ trong  
việc nâng cao sức khỏe của người dân, đặc biệt  
trong nhóm người cao tuổi.  
Tăng cường các chiến lược dài hạn trong  
chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ tìm kiếm việc  
làm, duy trì và phát triển các quỹ hỗ trợ cho vay  
xóa đói giảm nghèo.  
5. Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước TP. HCM  
(2014). Chương trình giảm ngập nước giai đoạn 2011-2015 và  
định hướng đến năm 2025. Trung tâm Điều hành chương trình  
chống ngập nước TP. HCM, pp.4-5.  
6. Trương Văn Hiếu (2008). Đánh giá ảnh hưởng của mưa, triều  
đến tình trạng ngập và biện pháp thoát nước đô thị khu vực TP  
Hồ Chí Minh. Viện Khí tượng thủy văn vả môi trường phía  
Nam, pp.8-9.  
Trong các chương trình chăm sóc và nâng  
cao sức khỏe cho người dân, cần quan tâm nhiều  
hơn đến đối tượng nữ giới, trình độ học vấn  
thấp và đối tượng công nhân.  
7. Vũ Thị Loan (2010). Tình hình ngập lụt ở thành phố Hồ Chí  
Minh và những vấn đề cần giải quyết. Đại học Kĩ thuật Công  
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, pp.2-3.  
Hội phụ nữ tại phường cần có nhiều hơn  
các chương trình tư vấn tâm lý, hoạt động vui  
chơi để nhằm tăng CLCS ở lĩnh vực SKTT cho  
nữ giới.  
Ngày nhận bài báo:  
15/08/2019  
31/08/2019  
15/10/2019  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
Cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu với  
quy mô lớn hơn về sức khỏe của người dân ở các  
509  
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng  
pdf 7 trang yennguyen 9180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát điểm chất lượng cuộc sống của người dân ở một số khu vực thường xuyên ngập úng tại phường Phú Thuận, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_diem_chat_luong_cuoc_song_cua_nguoi_dan_o_mot_so_kh.pdf