Hình thái ống tủy răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới của người Hà Nội

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
HÌNH THÁI ỐNG TỦY RĂNG HÀM LỚN THỨ NHẤT HÀM DƯỚI  
CỦA NGƯỜI HÀ NỘI  
Đinh Diệu Hồng*, Phạm Như Hải*, Đỗ Thị Thu Hương*,  
Đào Thị Dung*, Nguyễn Anh Chi*  
nội nha. Các đặc điểm hình thái bên ngoài và  
bên trong của tủy răng rất phức tạp và mỗi  
người lại khác nhau.  
TÓM TẮT62  
Chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón (CBCT) là  
một công cụ có giá trị cho điều trị nội nha. Mục đích  
của nghiên cứu này là xác định hình thái của ống tủy  
răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới (răng số 6 hàm  
dưới). CBCT của 315 bệnh nhân đã được sử dụng. Kết  
quả như sau: 88,7% răng 6 hàm dưới có 2 chân răng,  
11,3% răng số 6 hàm dưới có 3 chân răng. 55,6%  
răng số 6 hàm dưới có 2 ống tuỷ riêng biệt ở chân  
gần (Vertucci IV). 77,1% răng số 6 hàm dưới chỉ có 1  
ống tuỷ duy nhất (Vertucci I). Sự khác biệt về số  
lượng chân răng cũng như hình thái ống tuỷ bên phải  
và bên trái không có ý nghĩa thống kê. Sự khác biệt  
về số lượng chân răng cũng như hình thái ống tuỷ ở  
nam và nữ không có ý nghĩa thống kê.  
Những cải tiến trong hệ thống hình ảnh kỹ  
thuật số không xâm lấn, chẳng hạn như phim  
conebeam CT và chụp cắt lớp vi tính, cũng như  
việc sử dụng kính phóng đại trong thực hành  
lâm sàng, giúp bác sĩ thực hành phát hiện được  
sự phức tạp của giải phẫu ống tủy.  
Các thông số giải phẫu thường được mô tả  
trong tài liệu là răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới  
có 2 chân răng và 3 ống tủy mà ít đưa ra các biến  
thể có thể gặp cũng như tỷ lệ để các bác sĩ lâm  
sàng cẩn trọng khi điều trị tủy cho bệnh nhân.  
Từ khóa: ống tủy, nội nha, cone-beam, răng hàm  
lớn thứ nhất hàm dưới.  
SUMMARY  
ROOT CANAL MORPHOLOGY AND  
CONFIGURATION MANDIBULAR FIRST  
MOLARS OF HANOI SUBPOPULATION  
Cone-beam computed tomography (CBCT) is a  
valuable tool for endodontic treatment. The purpose  
of this study was to determine the morphology of the  
mandibular first molar canal. CBCT of 315 patients  
was used. The results are as follows: 88.7% of the  
lower 6th teeth have 2 roots, 11.3% of the lower 6th  
teeth have 3 roots. 55.6% of mandibular sixth teeth  
have 2 separate canals in the mesial root (Vertucci  
IV). 77.1% of the mandibular sixth teeth have only  
one root canal (Vertucci I). The difference in the  
number of roots as well as the right and left canal  
morphology was not statistically significant. The  
difference in number of roots as well as root canal  
morphology in men and women was not statistically  
significant.  
Hình 1: Trường hợp răng số 6 hàm dưới có 3  
chân răng với 4 ống tuỷ ở cả bên trái và bên phải  
Hiện nay, những tiến bộ công nghệ trong  
chụp phim răng trên lâm sàng đã cho phép thu  
được hình ảnh theo 3 chiều không gian, cho  
phép mô tả chính xác, bao quát và toàn diện về  
hình thái chân răng và hệ thống ống tuỷ.  
Mỗi chủng tộc lại có cấu tạo giải phẫu răng  
khác nhau, thậm chí đặc điểm vùng miền cũng  
có thể góp phần tạo sự khác biệt về hình thái và  
giải phẫu [1],[2]. Do đó, để người thực hành có  
những dữ liệu tham khảo về hệ thống ống tủy  
răng số 6 hàm dưới ở người miền bắc chúng tôi  
đã tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu:  
3. Xác định số lượng và hình thái ống tủy của  
răng số 6 hàm dưới bằng phim Conebeam ở  
người khu vực Hà Nội và lân cận.  
Key words: root canal, endodontic, cone-beam  
computed tomographic, mandibular first molar.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Để điều trị nội nha tốt thì điều quan trọng là  
phải biết về giải phẫu của răng. Việc thiếu kiến  
thức về các biến thể hình thái và giải phẫu của  
hệ thống ống tủy có thể dẫn đến việc không xác  
định được tất cả các ống tủy, không tạo hình và  
bơm rửa tốt, hậu quả là thất bại trong điều trị  
4. Tìm mối liên quan giữa giới tính và hình  
thái ống tuỷ của răng số 6 hàm dưới.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1 Đối tượng: Mẫu nghiên cứu gồm 630  
răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới phải và trái của  
315 phim conebeam CT của bệnh nhân Hà Nội  
và vùng lân cận, gồm 148 nam và 167 nữ, tuổi  
*Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc Gia Hà Nội  
Chịu trách nhiệm chính: Đinh Diệu Hồng  
Ngày nhận bài: 17.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 13.5.2021  
Ngày duyệt bài: 20.5.2021  
265  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
từ 18 đến 55 tuổi.  
2.3 . Phương pháp nghiên cứu: Nghiên  
cứu thực hiện theo thiết kế cắt ngang mô tả  
phân tích trên conebeam CT. Bệnh nhân được  
Tiêu chuẩn chọn mẫu:  
1.Có đủ 2 răng số 6 hàm dưới  
2.Các răng số 6 hàm dưới có chân răng phát chụp conebeam CT bằng máy Galileos (Sirona  
triển hoàn toàn Dental System Inc., Đức), kích cỡ voxel 0,3mm x  
3.Hình ảnh conebeam CT rõ ràng, thể hiện 0,3mm x 0,3mm, Gray scale 12 bit tại bộ môn  
được hình ảnh các ống tủy. Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y dược, Đại Học  
Tiêu chuẩn loại trừ: Các răng số 6 hàm Quốc Gia Hà Nội và phòng chụp Xquang Hà  
dưới đã bị  
Thành trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm  
2019 đến tháng 4 năm 2021.  
1. Tiêu ngót chân răng  
2. Trám bít hoặc có miếng trám đến tủy  
3. Phục hồi kim loại như chốt, mão  
4. Nghiêng hoặc mọc ngầm  
Quan sát hình ảnh bằng phần mềm Galileos  
Viewer (Sirona Dental System Inc.) trên màn  
hình 24 inch có độ phân giải 1.920x1.200, độ  
Cỡ mẫu. Răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới: tương phản 1.000:1, bề dày mỗi lát cắt 1mm.  
dựa vào kết quả nghiên cứu của Huỳnh Hữu Trình tự thực hiện như sau:  
Thục Hiền (2019), tỉ lệ răng hàm lớn thứ nhất  
Đầu tiên, điều chỉnh lát cắt trên cửa sổ  
hàm dưới có ≥ 3 ống tủy là 16,1% [3]. Áp dụng Tangential đi qua đúng giữa trục chân răng của  
vào công tức tính cỡ mẫu:  
từng chân răng số 6 hàm dưới cần đo. Sau đó,  
điều chỉnh mặt phẳng cắt trên cửa sổ Cross-  
sectional theo đúng trục của răng được đo. Di  
chuyển lát cắt trên cửa sổ Axial để kiểm tra số  
lượng và hình thái ống tủy của mỗi chân răng  
(hình 2).  
Độ tin cậy 95%, Z (1- α/2) =1,96; d=0,05 Cỡ  
mẫu tối thiểu là 106 răng  
Hình 2: Giao diện phầm mềm Gelileos Viewer, điều chỉnh để quan sát chân ngoài răng hàm lớn  
thứ nhất hàm dưới bên phải. Chân này có 1 ống tủy, loại I theo Vertucci.  
Hình A, B: định vị răng và chân răng cần mẫu. Bệnh nhân và răng được chọn được ghi  
quan sát  
Hình C, D, E: điều chỉnh để quan sát chân xa răng và ống tủy. Quan sát từng răng, từng chân  
răng số 6 hàm dưới bên phải răng, đo ở 2 thời điểm khác nhau, nếu số liệu  
Hình F, G, H: ẩn các đường xác định mặt khác nhau thì sẽ nhờ người thứ 2 kiêm tra.  
phẳng trực giao, quan sát trong cả 3 mặt phẳng, Hình thái ống tủy: được ghi nhận theo phân  
di chuyển các lát cắt ghi nhận số lượng ống tuỷ, loại Vertucci (1984) [4],[5]. Những ống tủy có  
hình thái ống tuỷ hình thái khác ngoài phân loại Vertucci được ghi  
nhận dữ liệu chung và dữ liệu về hình thái chân  
Điều tra viên chính khảo sát hình ảnh nhận theo số ống tủy thay đổi theo chiều dài  
conebeam CT của từng bệnh nhân để chọn bệnh chân răng từ cổ đến chóp.  
nhân và chọn răng thỏa mãn tiêu chuẩn chọn  
Hình thái ống tủy: ghi nhận theo phân loại  
266  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Vertucci (1984) gồm 8 loại (hình 3):  
Loại I: chỉ có một ống tủy từ buồng tủy đến  
lỗ chóp chân răng.  
Loại II: có hai ống tủy xuất phát từ buồng tủy  
tạo thành hai ống tủy riêng biệt nhưng gặp nhau  
ở gần chóp để thành một ống tủy và ra khỏi  
chân răng bằng một lỗ chóp.  
Loại III: có một ống tủy xuất phát từ buồng  
tủy nhưng sau đó chia hai và gặp nhau ở gần  
chóp để tạo một ống tủy và ra khỏi chân răng  
bằng một lỗ chóp.  
Loại IV: có hai ống tủy riêng biệt kéo dài từ  
buồng tủy tới chóp chân răng.  
Loại V: một ống tủy xuất phát từ buồng tủy,  
sau đó tách ra thành hai ống tủy và đi khỏi chân  
răng bằng hai lỗ chóp riêng biệt.  
Loại VI: hai ống tủy xuất phát từ buồng tủy,  
kết hợp lại thành một ống tủy và sau đó lại chia  
hai ở chóp với hai lỗ chóp riêng biệt.  
Loại VII: một ống tủy xuất phát từ buồng tủy,  
chia hai sau đó kết hợp lại thành một ống tủy và  
lại chia hai ở chóp với hai lỗ chóp riêng biệt.  
Loại VIII: có ba ống tủy riêng biệt kéo dài từ  
buồng tủy đến chóp chân răng.  
Hình 3: Phân loại hình thái ống tủy theo Vertucci  
Ống tủy hình C: khi các ống tủy hợp lại với  
nhau tạo thành 1 ống tủy dạng dải cong, hình  
chữ C. Ống tủy hình C được quan sát trong thiết  
diện cắt ngang để ghi nhận hình thái và số lượng  
ống tủy ở từng phần ba chân răng: phần ba cổ,  
phần ba giữa và phần ba chóp.  
Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu  
bằng phần mềm thống kê SPSS 22. và R 4.0.2  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Xác định số lượng và hình thái ống tủy của răng 6 hàm dưới bằng phim Conebeam  
ở người khu vực Hà Nội và lân cận.  
3.1.1. Số lượng chân răng 6 hàm dưới  
Bảng 1: Số lượng chân răng 6 hàm dưới  
Răng 36  
Số lượng  
Răng 46  
Số lượng  
Tổng  
Số lượng  
Số lượng  
chân răng  
p
Tỷ lệ  
(%)  
90,5  
9,5  
Tỷ lệ  
(%)  
87  
Tỷ lệ  
(%)  
88,7  
11,3  
(n)  
285  
30  
(n)  
274  
41  
(n)  
559  
71  
2 chân  
3 chân  
Tổng  
0,21  
0,21  
13  
315  
315  
630  
Số lượng chân răng của răng số 6 hàm dưới 2 bên phải và trái khác biệt nhau không có ý nghĩa  
thống kê. Răng số 6 hàm dưới có 2 chân răng chiếm 88,7%, răng số 6 hàm dưới có 3 chân răng  
chiếm 11,3%. Không gặp trường hợp răng số 6 hàm dưới có 1 chân hoặc nhiều hơn 3 chân.  
3.1.2. Hình thái ống tủy chân gần của răng 6 hàm dưới hàm dưới theo Vertucci  
Bảng 2: Hình thái ống tủy chân gần của răng 6 hàm dưới theo Vertucci  
Răng 36  
Răng 46  
Tổng  
Hình thái ống tuỷ  
P
Số lượng  
Tỷ lệ  
(%)  
7,0  
30,5  
4,1  
56,2  
1,3  
Số lượng  
Tỷ lệ  
(%)  
8,6  
27,9  
6,0  
54,9  
1,6  
Số lượng Tỷ lệ  
(n)  
22  
96  
13  
177  
4
(n)  
27  
88  
19  
173  
5
(n)  
49  
184  
32  
350  
9
(%)  
7,8  
29,2  
5,1  
55,6  
1,4  
0,6  
0,3  
0
Loại I theo Vertucci  
Loại II theo Vertucci  
Loại III theo Vertucci  
Loại IV theo Vertucci  
Loại V theo Vertucci  
Loại VI theo Vertucci  
Loại VII theo Vertucci  
Loại VIII theo Vertucci  
Tổng  
0,55  
0,54  
0,36  
0,81  
1
2
0,6  
2
0,6  
0,3  
4
1
1
0,3  
1
2
1
0
0
0
0
0
-
315  
315  
630  
Chân gần răng 6 hàm dưới chủ yếu có hai ống tủy riêng biệt kéo dài từ buồng tủy tới chóp chân  
răng (Vertucci IV) chiếm 55,6%. Sự khác nhau bên phải và trái không có ý nghĩa thống kê. Không  
267  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
gặp trường hợp có ba ống tủy riêng biệt kéo dài từ buồng tủy đến chóp chân răng (loại VIII  
Vertucci). Không quan sát thấy ống tuỷ dạng hình chữ C ở chân gần răng số 6 hàm dưới trong nhóm  
nghiên cứu.  
3.1.3. Hình thái ống tủy chân xa của răng 6 hàm dưới hàm dưới theo Vertucci  
Bảng 3: Hình thái ống tủy chân xa của răng 6 hàm dưới hàm dưới theo Vertucci  
Răng 36  
Số lượng  
Răng 46  
Số lượng  
Tổng  
Số lượng  
Hình thái ống tuỷ  
P
Tỷ lệ  
(%)  
76,8  
4,4  
3,5  
1,9  
13,3  
0
Tỷ lệ  
(%)  
77,5  
4,8  
2,5  
2,2  
12,7  
0,3  
0
Tỷ lệ  
(%)  
77,1  
4,6  
3,0  
2,1  
13,0  
0,2  
0
(n)  
242  
14  
11  
6
42  
0
0
0
315  
(n)  
244  
15  
8
7
40  
1
0
0
315  
(n)  
486  
29  
19  
13  
82  
1
0
0
630  
Loại I theo Vertucci  
Loại II theo Vertucci  
Loại III theo Vertucci  
Loại IV theo Vertucci  
Loại V theo Vertucci  
Loại VI theo Vertucci  
Loại VII theo Vertucci  
Loại VIII theo Vertucci  
Tổng  
0,92  
1
0,64  
1
0,91  
1
-
-
0
0
0
0
Chân xa răng 6 hàm dưới chủ yếu chỉ có một ống tủy từ buồng tủy đến lỗ chóp chân răng  
(Vertucci I) chiếm 77,1%. Sự khác nhau bên phải và trái không có ý nghĩa thống kê. Không gặp  
trường hợp có một ống tủy xuất phát từ buồng tủy, chia hai sau đó kết hợp lại thành một ống tủy và  
lại chia hai ở chóp với hai lỗ chóp riêng biệt (loại VII Vertucci) hoặc có ba ống tủy riêng biệt kéo dài  
từ buồng tủy đến chóp chân răng (loại VIII Vertucci). Không quan sát thấy ống tuỷ dạng hình chữ C  
ở chân xa răng số 6 hàm dưới trong nhóm nghiên cứu.  
3.2. Mối liên quan giới tính với hình thái chân răng 6 hàm dưới  
3.2.1. Mối liên quan giới tính với số lượng chân răng 6 hàm dưới  
Bảng 4: Mối liên quan giữa giới tính với số lượng chân răng số 6 hàm dưới  
Nam  
Số lượng (n)  
Nữ  
Số lượng  
chân răng  
2 chân  
P
Tỷ lệ (%)  
86,1  
Số lượng (n)  
Tỷ lệ (%)  
91,0  
255  
41  
296  
304  
30  
334  
0,071  
0,071  
3 chân  
13,9  
9,0  
Tổng  
Số lượng răng 6 hàm dưới có 2 chân ở nam (86,1%) ít hơn nữ (91%), khác biệt không có ý nghĩa  
thống kê.  
3.2.2. Mối liên quan giữa giới tính với hình thái ống tuỷ chân gần răng số 6 hàm dưới  
Bảng 5: Mối liên quan giữa giới tính với hình thái ống tuỷ chân gần răng số 6 hàm dưới  
Nam  
Số lượng (n)  
Nữ  
Số lượng (n)  
Hình thái chân răng  
P
Tỷ lệ (%)  
7,1  
Tỷ lệ (%)  
8,4  
Loại I theo Vertucci  
Loại II theo Vertucci  
Loại III theo Vertucci  
Loại IV theo Vertucci  
Loại V theo Vertucci  
Loại VI theo Vertucci  
Loại VII theo Vertucci  
Loại VIII theo Vertucci  
21  
82  
11  
176  
4
28  
102  
21  
174  
5
0,65  
0,49  
0,20  
0,08  
1
0,70  
1
-
27,7  
3,7  
30,5  
6,3  
59,5  
1,4  
52,1  
1,5  
1
0,3  
3
0,9  
1
0,3  
1
0,3  
0
0
0
0
296  
334  
Hình thái ống tuỷ chân gần của răng số 6 hàm dưới theo Vertucci không có sự khác biệt giữa nam  
và nữ.  
3.2.3. Mối liên quan giữa giới tính với hình thái ống tuỷ chân xa răng số 6 hàm dưới  
Bảng 6: Mối liên quan giữa giới tính với hình thái ống tuỷ chân xa răng số 6 hàm dưới  
Nam  
Số lượng (n)  
Nữ  
Số lượng (n)  
Hình thái  
P
Tỷ lệ (%)  
76,0  
Tỷ lệ (%)  
78,1  
Loại I theo Vertucci  
Loại II theo Vertucci  
Loại III theo Vertucci  
225  
16  
8
261  
13  
11  
0,59  
0,48  
0,84  
5,4  
2,7  
3,9  
3,3  
268  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Loại IV theo Vertucci  
Loại V theo Vertucci  
Loại VI theo Vertucci  
Loại VII theo Vertucci  
Loại VIII theo Vertucci  
Tổng số răng theo giới  
6
41  
0
0
0
2,0  
13,9  
0,0  
0,0  
0,0  
7
41  
1
0
0
2,1  
12,3  
0,3  
0
1
0,64  
1
-
-
0
296  
334  
Hình thái ống tuỷ chân xa của răng số 6 hàm dưới theo Vertucci không có sự khác biệt giữa nam  
và nữ.  
IV. BÀN LUẬN  
Trong số 630 răng số 6 hàm dưới được nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chủ yếu là răng có 2  
chân răng chiếm 88,7%. Số lượng răng có 2 chân răng bên phải và trái khác biệt nhau không có ý  
nghĩa thống kê. So với nghiên cứu của Huỳnh Hữu Thục Hiền năm 2019 [3] trên 778 răng số 6 hàm  
dưới ở người miền nam thì 83,9% có 2 chân riêng biệt, 16,1% có 3 chân riêng biệt.  
Bảng 7: Số lượng chân răng số 6 hàm dưới trong một số nghiên cứu  
Tác giả  
Huỳnh Hữu Thục Hiền, 2019 [3]  
Na Ni et al., 2018 [1]  
Ozkan Miloglu et al., 2012 [2]  
Shehadat S.A. et al., 2019 [6]  
Sharaan M.E et al., 2017 [7]  
Đinh Diệu Hồng và cộng sự, 2021  
Đối tượng  
CBCT  
Cỡ mẫu  
807  
2 chân  
83,9 %  
74,9%  
97,6%  
95,78%  
99,5%  
88,7 %  
3 chân  
16,1 %  
25,0%  
2,4%  
4,22%  
0,5%  
11,3 %  
Khác  
-
CBCT  
CBCT  
CBCT  
CBCT  
CBCT  
900  
533  
664  
218  
630  
0,1%  
-
-
Về hình thái ống tủy chân gần răng số 6 hàm dưới: trong nghiên cứu của chúng tôi, chân gần  
răng số 6 hàm dưới chủ yếu có 2 ống tuỷ riêng biệt (Vertucci IV) chiếm đến 55,6%, Vertucci II chiếm  
29,2%, ngoài ra còn gặp Vertucci I, III, V, VI với tỷ lệ thấp hơn. Tỷ lệ này có khác biệt với kết quả  
của các tác giả khác, điều này có thể do đặc điểm giải phẫu của người phía Bắc Việt Nam.  
Bảng 8: Hình thái ống tủy chân gần răng 6 hàm dưới theo Vertucci trong một số  
nghiên cứu  
Đối  
Cỡ  
Tác Giả  
I
II  
Ill  
lV  
V
Vl  
Vll Vlll Khác  
tượng mẫu  
Huỳnh Hữu Thục  
CBCT 807 8,7% 25,0% 2,2% 56,9% 4,3% 1,2%  
-
-
-
-
1,6%  
Hiền, 2019 [3]  
Na Ni et al.,2018 [1] CBCT 900 3,0 % 16,6% 0,3% 76,8% 1,3% 0,1%  
1,9%  
Ozkan Miloglu et  
CBCT 533 0,4% 32,8% 2,3% 59,5% 2,4% 0,4%  
al., 2012 [2]  
1,3% 0,9%  
Sharaan M.E et al.,  
CBCT 218  
0% 11,93% 3,21% 83,94% 7.78%  
-
0,92%  
-
2017 [7]  
Đinh Diệu Hồng và  
cộng sự  
CBCT 630 7,8% 29,2% 5,1% 55,6% 1,4% 0,6% 0,3%  
-
-
Hình thái ống tuỷ chân xa răng số 6 hàm dưới: trong nghiên cứu của chúng tôi, chủ yếu có 1 ống  
tuỷ (Vertucci I) chiếm 77,1%, Vertucci V chiếm 13%, các hình thái khác gặp với tỷ lệ thấp hơn. Tỷ lệ  
này có khác biệt với kết quả của các tác giả khác, điều này có thể do đặc điểm giải phẫu của người  
phía Bắc Việt Nam.  
Bảng 9: Hình thái ống tủy chân xa răng 6 hàm dưới theo Vertucci trong một số nghiên cứu  
Đối  
Cỡ  
Tác Giả  
I
II  
Ill  
lV  
V
Vl  
Vll Vlll Khác  
tượng mẫu  
Huỳnh Hữu Thục  
CBCT 807 69,1 % 6,6 % 5,5 % 9,3 % 9,0 % 0,3 %  
-
-
-
-
0,3%  
-
-
-
-
Hiền, 2019 [3]  
Na Ni et al.,2018 [1] CBCT 900 79,4% 6,4% 0,7% 7,9% 5,3%  
Ozkan Miloglu et  
al., 2012 [2]  
-
-
CBCT 533 74,7% 12,3% 1,5% 9,7% 1,8%  
Sharaan M.E et al.,  
2017 [7]  
3,67  
%
0,46  
%
CBCT 218 62,84% 19,72% 10,55% 2,75%  
-
-
-
Đinh Diệu Hồng và  
CBCT 630 77,1% 4,6% 3,0% 2,1% 13% 0,2 %  
-
-
cộng sự  
269  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
configuration of mandibular first molars with cone  
V. KẾT LUẬN  
beam computed tomography in a Turkish population.  
Journal of Dental Sciences, 2013. 8, p. 80-86  
(http://dx.doi.org/10.1016/j.jds.2012.09.002).  
3. Hiền, H.H.T., Đặc Điểm Hình Thái Chân Răng Và  
Ống Tủy Răng Cối Lớn Thứ Nhất Và Thứ Hai Người  
Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, trường Đại Học Y Dược  
TP Hồ Chí Minh, 2019.  
Số lượng chân răng 2 bên phải và trái khác  
biệt nhau không có ý nghĩa thống kê. Răng số 6  
hàm dưới thường có 2 chân răng (88,7%). Sự  
khác biệt về số lượng chân răng ở hai giới không  
có ý nghĩa thống kê.  
Chân gần răng số 6 hàm dưới chủ yếu có 2  
ống tủy riêng biệt kéo dài từ buồng tuỷ tới chóp  
chân răng (Vertucci IV) chiếm 55,6%. Sự khác  
nhau bên phải và trái cũng như sự khác nhau  
giữa nam và nữ là không có ý nghĩa thống kê.  
Chân xa răng số 6 hàm dưới chủ yếu có 1  
ống tủy kéo dài từ buồng tuỷ tới chóp chân răng  
(Vertucci I) chiếm 77,1%. Sự khác nhau bên  
phải và trái cũng như sự khác nhau giữa nam và  
nữ là không có ý nghĩa thống kê.  
4. Bansal, R., S. Hegde, and M.S. Astekar,  
Classification of Root Canal Configurations: A  
Review and a New Proposal of Nomenclature  
System for Root Canal Configuration. Journal of  
Clinical  
and  
Diagnostic  
Research,  
2018  
(https://doi.org/10.7860/jcdr/2018/35023.11615).  
5. Vertucci F.J., Root canal morphology and its  
relationship to endodontic procedures. Endodontic  
Topics, 2005. 10,ꢀ: p. 3–29 (https://doi.org/  
10.1111/j.1601-1546.2005.00129.x).  
6. Shehadat S.A., Waheb S., Bayatti S.W.A et  
al., Cone beam computed tomography analysis of  
Root and Root canal Morphology of First  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
permanent lower molars in  
a
Middle East  
Subpopulation. Journal of International Society of  
Preventive & Community Dentistry, 2019. 9(5). p:  
458-463.  
1. Na Ni, Shen Cao, Lei Han et al., Cone-beam  
computed tomography analysis of root canal  
morphology in mandibular first molars in a Chinese  
7. Sharaan M.E., Elrawdy A.M., An evaluation of  
mandibular molars root canal morphology using  
cone-beam computed tomography in an Egyptian  
subpopulation. Tanta Denatal Journal, 2017. 14, p:  
220-224 (https://doi.org/10.4103/tdj.tdj_50_17).  
population:  
a
clinical studay. Evidence-Based  
2018. 3:1  
Endodontics,  
(https://doi.org/10.1186/s41121-018-0015-8).  
2. Ozkan Miloglu, Hakan Arslan, Cagatay  
Barutcigil et al., Evaluating root and canal  
ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG VÕNG MẠC  
TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LỌC MÁU CHU KÌ  
Vũ Tuấn Anh*  
nhân ĐTĐ có lọc máu chu kì là rất nặng và có nhiều  
tổn thương phối hợp, vì vậy việc khám võng mạc có  
chụp ảnh võng mạc không thuốc cản quang sớm và  
định kỳ có thể giúp phát hiện và can thiệp sớm các  
biến chứng nặng ở mắt.  
TÓM TẮT63  
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của tổn  
thương võng mạc trên bệnh nhân bị bệnh đái tháo  
đường (ĐTĐ) đang lọc máu chu kì. Đối tượng và  
phương pháp nghiên cứu: nghiên cưú mô tả trên  
63 bệnh nhân ĐTĐ đang lọc máu chu kỳ (126 mắt),  
thu thập các thông tin cơ bản (tuổi, giới, thời gian  
mắc ĐTĐ, typ ĐTĐ, thời gian lọc máu …), khám đáy  
mắt và chụp ảnh võng mạc kỹ thuật số tiêu chuẩn  
xác định tổn thương của bệnh võng mạc ĐTĐ và tổn  
thương phối hợp . Kết quả: tuổi bệnh nhân trung  
bình 54± 9,7 (23-77); nam giới chiếm 65,1%; đa số  
số mắt đều có thị lực giảm 89,5% (113/126); hầu hết  
mắc bệnh võng mạc ĐTĐ (125/126 mắt), trong đó  
giai đoạn chưa tăng sinh nhẹ và vừa là 65,9%% (83  
mắt), tiền tăng sinh 20,6% (26 mắt) và tăng sinh  
12,7% (16 mắt), tỷ lệ phù hoàng điểm 19,8% (25  
mắt). Kết luận: tổn thương võng mạc của bệnh  
Từ khóa: bệnh võng mạc đái tháo đường, lọc  
máu chu kỳ  
SUMMARY  
RETINALLESION FEATURESOF HEMODIALYSIS  
PATIENTS WITH DIABETES MELLITUS  
Purpose: Descibe the retinal lesion features in  
patients with diabetes mellitus on hemodialysis.  
Materials and Methods: observational study, 126  
eyes of 63 diabetes patients on hemodialysis, grading  
for retinal lesion (R0→R4), macular lesion (M0, M1)  
following the criteria of the ICO classification and find  
out other retinal lesions. Results: demography: age  
average 54± 9.7 (23-77), 65.1% were male, majority  
of eyes has vision impairment 89,5% (113/126); almost  
had DR (125/126) included R1-R2 65.9%, R3 20.6%,  
R4 12.7% and macular edema (M1) prevalence was  
19.8%. Conclusion: prevalence of DR in DM on  
hemodialysis group was remarkable, so the DR  
screening by eye check and digital fundus camera scan  
for this special group would be necessary.  
*Bệnh viện Mắt trung ương.  
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Tuấn Anh  
Ngày nhận bài: 16.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 14.5.2021  
Ngày duyệt bài: 21.5.2021  
270  
pdf 6 trang yennguyen 9980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình thái ống tủy răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới của người Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_thai_ong_tuy_rang_ham_lon_thu_nhat_ham_duoi_cua_nguoi_h.pdf