Tài liệu Đánh giá thực trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần

Đánh giá Thực trạng Hệ thống Chăm sóc Sức khỏe Tâm thần thuộc quản lý của Bộ Lao động, Thương binh  
và Xã hội  
© Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam, 2011  
Hướng dẫn trích dẫn: RTCCD-MOLISA, Đánh giá Thực trạng Hệ thống Chăm sóc Sức khỏe Tâm thần  
thuộc quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, WHO tại Việt Nam, 2011  
Nghiên cứu được thực hiện với sự phối hợp giữa Trung tâm RTCCD và Cục Bảo trợ Xã hội (Bộ Lao động,  
Thương binh và Xã hội). Nội dung trong bản báo cáo này thể hiện quan điểm riêng của nhóm tư vấn độc  
lập và căn cứ trên số liệu điều tra tại 8 tỉnh thành phố. Nhóm tư vấn chịu trách nhiệm về mọi sai lệch liên  
quan đến số liệu và các diễn giải trong báo cáo. Mọi góp ý, xin liên hệ với BS. TS. Trần Tuấn  
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG  
Hệ thống Chăm sóc Sức khỏe Tâm thần  
Thuộc quản lý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội  
CÁC TỪ VIẾT TẮT  
AP  
Quỹ từ thiện Atlantic  
BNTT  
Bệnh nhân tâm thần  
BLĐTBXH  
BTXH  
BVĐK  
BVTT  
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội  
Bảo trợ xã hội  
Bệnh viện đa khoa  
Bệnh viện tâm thần  
BYT  
Bộ Y tế  
CTXH  
CSSKTT  
NGO  
Công tác xã hội  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần  
Tổ chức phi chính phủ  
PHCN  
RNTT  
Phục hồi chức năng  
Rối nhiễu tâm trí  
RTCCD  
SKTT  
Trung tâm Nghiên cứu và Đào Tạo Phát Triển Cộng Đồng  
Sức khỏe tâm thần  
SLĐTBXH  
UNICEF  
VUSTA  
WHO  
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội  
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp quốc tại Việt Nam  
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam  
Tổ chức Y tế Thế giới  
Trang | 3  
MỤC LỤC  
CÁC TỪ VIẾT TẮT................................................................................................ 3  
TÓM TẮT................................................................................................................ 6  
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU.........................................................10  
PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................................15  
CHƯƠNG 1: Các chính sách về CSSKTT ở Việt Nam và Vai trò của BLĐTBXH  
................................................................................................................................16  
CHƯƠNG 2: Thực trạng ngân sách nhà nước cho hệ thống CSSKTT ..................26  
CHƯƠNG 3: Hệ thống tổ chức các trung tâm chăm sóc BNTT thuộc quản lý của  
BLĐTBXH .............................................................................................................31  
CHƯƠNG 4: Thực trạng đội ngũ cán bộ BTXH tại tuyến cơ sở............................36  
CHƯƠNG 5: Nhu cầu CSKTT tại cộng đồng ........................................................39  
CHƯƠNG 6: Đề xuất và Áp dụng chính sách........................................................45  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................51  
Phụ lục 1: Tổng quan đối tượng cung cấp tin tại 8 tỉnh..........................................52  
Phụ lục 2: Tóm tắt Đánh giá dự án CSSKTT tại cộng đồng do BYT quản lý........53  
Trang | 4  
Danh mục các HỘP, ĐỒ THỊ và BẢNG  
Danh mục các Hộp  
Hộp 1: Các thành phần của cuộc đánh giá hệ thống CSSKTT làm cơ sở cho củng cố hệ thống CSSKTT  
trong phạm vi quản lý của BLĐTBXH..........................................................................................................11  
Hộp 2: Định hướng củng cố và phát triển hệ thống bảo trợ và chăm sóc xã hội dành cho BNTT do  
BLĐTBXH quản lý........................................................................................................................................12  
Hộp 3: Các cấp độ thu thông tin ....................................................................................................................12  
Hộp 4: Các nhóm đối tượng cung cấp thông tin ............................................................................................13  
Hộp 5: Định nghĩa thực hành chính sách (WHO, 2001)................................................................................17  
Hộp 6: Kiến nghị và đề xuất của BYT...........................................................................................................17  
Hộp 7: Một số chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam có liên quan đến BNTT ...............................18  
Hộp 8: Thực tế phân bổ chi tiêu của BVTT tỉnh Đăk Lăk.............................................................................28  
Hộp 9: Danh sách 16 tỉnh có trung tâm BTXH dành cho người bệnh tâm thần ...........................................32  
Hộp 10: Chức năng nhiệm vụ của ba cơ sở CSSKTT tỉnh ............................................................................33  
Hộp 11: Thống kê tình hình chăm sóc BNTT tại tỉnh Sơn La.......................................................................33  
Hộp 12: Điều kiện để một cán bộ BTXH có thể hoạt động tốt......................................................................38  
Hộp 13: 10 khuyến cáo của WHO cho công tác CSSKTT ............................................................................44  
Danh mục các Đồ Thị  
Đồ thị 1: Các công việc cán bộ BTXH thực hiện liên quan đến chăm sóc BNTT (N=54)............................37  
Đồ thị 2: Khó khăn của các cán bộ BTXH ....................................................................................................38  
Đồ thị 3: Những hỗ trợ từ cộng đồng các gia đình hiện nay nhận được (n=242) ..........................................43  
Đồ thị 4: Những hỗ trợ từ cộng đồng các gia đình mong muốn sẽ nhận được để chăm sóc người bệnh tốt  
hơn (n=242) ...................................................................................................................................................43  
Đồ thị 5: Nguồn thông tin về chăm sóc BNTT gia đình mong muốn nhận được (n=212) ............................44  
Danh mục các Bảng  
Bảng 1: Sự khác biệt giữa “kinh phí được duyệt theo kế hoạch” và kinh phí thực cấp trong dự án CSSKTT  
cộng đồng của BYT .......................................................................................................................................27  
Bảng 2: Định mức chi tiêu cho cơ sở chăm sóc BNTT tuyến tỉnh (có so sánh với loại hình chăm sóc bệnh  
nhân khác)......................................................................................................................................................28  
Bảng 3: Thực trạng ngân sách nhà nước dành cho CSSKTT (ước tính trên cơ sở thảo luận nhóm).............29  
Bảng 4: Cơ cấu chi theo ngân sách cấp cho CSSKTT...................................................................................30  
Bảng 5 : Tỷ lệ mắc bệnh tâm thần tại một số nước trên thế giới [3]..............................................................40  
Bảng 6: Tỷ lệ giường bệnh tâm thần: so sánh Việt Nam và một số nước trên thế giới [3]............................41  
Bảng 7: Khả năng tham gia công việc nhà và chăm sóc bản thân của đối tượng (n=241) ............................42  
Trang | 5  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được triển khai với sự hợp tác chuyên môn giữa Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo  
Phát triển Cộng đồng (RTCCD) và Cục Bảo trợ Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã  
hội (BLĐTBXH) với sự hỗ trợ tài chính từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên  
Hiệp quốc (UNICEF). Mục tiêu chính của nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi thực trạng của hệ thống  
dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần do BLĐTBXH quản lý đang đáp ứng đến đâu so với nhu  
cầu thực tế đặt ra để từ đó đưa ra các kiến nghị mang tầm định hướng hành động cho kế hoạch  
toàn quốc giai đoạn 2011-2020. Thông tin được thu thập theo ba phần:  
1) Khung chính sách hiện có ở tầm vĩ mô: chủ yếu khảo sát từ BLĐTBXH và Bộ Y tế (BYT)  
và thể hiện cụ thể ở tuyến địa phương tại 8 tỉnh/thành phố được chọn vào nghiên cứu;  
2) Thực trạng hệ thống trung tâm bảo trợ xã hội (BTXH) khảo sát tại 8 tỉnh/thành phố; và  
3) Thực trạng vận hành hệ thống dịch vụ BTXH dành cho người bệnh tâm thần ở tuyến cơ sở  
tại 8 tỉnh/thành phố điều tra.  
Tiến trình phân tích thông tin thu thập được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ giữa nhóm triển  
khai nghiên cứu với bộ phận hoạch định chính sách BTXH và phục hồi chức năng (PHCN) cho  
người bệnh tâm thần của BLĐTBXH. Sự hợp tác trong triển khai nghiên cứu và phân tích kết quả  
nghiên cứu giữa nhóm hoạch định chính sách của BLĐTBXHvà các nhà khoa học trong nước dẫn  
đến việc nhanh chóng sử dụng các bằng chứng thực tế vào tiến trình ra chính sách. Do vậy, nhóm  
nghiên cứu đã luôn phải cập nhật thông tin trong quá trình viết báo cáo để kịp điều chỉnh theo  
những diễn biến mới nhất của thay đổi chính sách chăm sóc sức khỏe người bệnh tâm thần mà  
BLĐTBXH đưa ra trong năm 2011.  
Nghiên cứu đã đưa ra 5 kết luận và 5 khuyến cáo hành động 2012-2013, trong đó có một khuyến  
cáo riêng cho WHO và UNICEF.  
Kết luận  
1. Hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT) do BLĐTBXH quản lý gồm 17 trung tâm  
BTXH (thuộc 16 tỉnh) kèm theo việc thực hiện chính sách BTXH của Việt Nam cho các đối  
tượng yếu thế (trong đó có bệnh nhân tâm thần (BNTT) có ở 100% số xã trong cả nước. Hệ  
thống này vận hành song song với hệ thống do BYT quản lý, gồm 1 Viện SKTT, 2 bệnh viện  
chuyên khoa tâm thần tuyến trung ương, 32 bệnh viện tâm thần (BVTT) tỉnh, 33 khoa tâm  
thần thuộc bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh và 33 khoa tâm thần trong trung tâm phòng chống  
bệnh xã hội cùng với dự án CSSKTT cộng đồng triển khai ở 70% các xã, với hoạt động chính  
là trạm y tế xã (TYT) phát thuốc cho những đối tượng BNTT phân liệt và động kinh đã có hồ  
sơ điều trị tại bệnh viện chuyên khoa tỉnh hoặc trung ương.  
2. Việt Nam đang thiếu một chính sách quốc gia về CSSKTT theo đúng nghĩa. Đây là nguyên  
nhân chính dẫn đến tình trạng chưa có sự kết nối chặt chẽ giữa hệ thống do BLĐTBXH quản  
lý với hệ thống do BYT quản lý, ở cả tầm phát triển các hướng dẫn quy chuẩn quốc gia lẫn  
tầm thực thi cụ thể ở tuyến địa phương trong thời gian qua. Sự ra đời của đề án 32 và đề án  
1215 đã tạo ra một bối cảnh mới thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên, đặc biệt là giữa BLĐTBXH  
và BYT.  
3. Hệ thống chăm sóc BNTT do BLĐTBXH quản lý có các đặc điểm nổi bật sau:  
a. Các trung tâm BTXH và PHCN cho người bệnh tâm thần ở tỉnh mới chỉ nhằm mục tiêu là  
cơ sở tập trung BNTT (chủ yếu thuộc nhóm lang thang, bị người nhà bỏ rơi, không nơi  
nương tựa, đối tượng thuộc gia đình có công với cách mạng) và cũng mới chỉ triển khai  
được ở 16 tỉnh thành trong cả nước (xấp xỉ 20%). Khả năng thực hiện của các trung tâm  
Trang | 6  
này cũng mới chỉ đáp ứng được không quá một phần ba nhu cầu của mỗi tỉnh. Ở tại 8 tỉnh  
điều tra, thực trạng hợp tác giữa các cơ quan BTXH và y tế trong chăm sóc và PHCN cho  
người bệnh tâm thần đều có chung đặc điểm là hoàn toàn thiếu quy chuẩn chuyên môn, chỉ  
mang tính hành chính và sự vụ chuyển-nhận bệnh nhân, do hậu quả là không có một chiến  
lược gắn kết chuyên môn xuyên suốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của tỉnh. Thực tế  
là có tới 18,8% BNTT thuộc diện quản lý của BLĐTBXH/BYT sống ở cộng đồng trong  
tình trạng bị nhốt, cùm thường xuyên tại nhà, trong khi gia đình và cộng đồng có nhu cầu  
gửi họ đến các trung tâm BTXH dành cho BNTT mà không được chấp nhận.  
b. So với định hướng chăm sóc sức khỏe của Đảng Cộng Sản Việt Nam và khuyến cáo của  
WHO về chăm sóc và PHCN bệnh nhân tâm thần ở các nước đang phát triển vào thập niên  
đầu thế kỷ 21, có thể thấy các nguồn lực cơ bản trong toàn bộ hệ thống đang bị thiếu hụt  
đáng kể để đáp ứng yêu cầu CSSKTT ở cả hai loại hình cơ sở tập trung và tại cộng đồng.  
Trong đó, 17 cơ sở tập trung thuộc tuyến tỉnh nằm trong tình trạng thiếu hụt nguồn lực  
nghiêm trọng. Chất lượng nhân lực đạt yêu cầu về lòng nhiệt tình trong nghề nghiệp,  
nhưng chưa được đào tạo cơ bản về phương pháp làm việc, kiến thức và kỹ năng chuyên  
môn trong chăm sóc và PHCN bệnh nhân tâm thần. Hạ tầng cơ sở chưa được thiết kế,  
trang bị và vận hành theo quy định của một cơ sở chăm sóc và PHCN cho BNTT với quan  
điểm lấy bệnh nhân là trung tâm và đảm bảo tôn trọng quyền cơ bản của người bệnh. Tất  
cả các cơ sở đánh giá đều thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc đặc thù, thiếu mối quan  
hệ và hợp tác chuyên môn giữa các cấp trong hệ thống cũng như với các hệ thống liên  
quan, đặc biệt là với hệ thống do BYT quản lý. Thêm vào đó, nguồn tài chính mới chỉ đáp  
ứng yêu cầu giữ bệnh nhân hơn là chăm sóc và PHCN cho bệnh nhân.  
c. Trong 5 năm qua, hệ thống do BLĐTBXH quản lý được vận hành với mục tiêu cụ thể là  
triển khai các nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và gần đây là nghị định  
13/2010/NĐ-CP ban hành ngày 27/02/2010 về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH,  
trong đó có BNTT. Cho đến năm 2011, toàn bộ hệ thống đã thực hiện tương đối tốt nghị  
định 13 cho BNTT. Tuy nhiên, do định nghĩa “bệnh nhân tâm thần” chỉ bó hẹp ở những  
đối tượng điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, nên việc bỏ sót các đối tượng  
BNTT khác hệ thống y tế cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống do  
BLĐTBXH quản lý.  
d. Nhìn chung, hệ thống CSSKTT của cả BLĐTBXH và BYT đều mới chỉ tập trung vào  
nhóm bệnh loạn thần (psychotic disoders) và bỏ sót các nhóm bệnh tâm thần phổ biến khác  
như trầm cảm, lo âu, sang chấn sau stress, rối loạn tâm thần do rượu, nghiện chất, và đặc  
biệt là các nhóm bệnh tâm thần ở phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ, trẻ em và trẻ vị thành  
niên. Các hoạt động hỗ trợ đặc thù khác cho BNTT chưa được triển khai vì nhiều nguyên  
nhân, trong đó nguyên nhân chính là do thiếu hệ thống nâng cao hiểu biết cho đội ngũ thực  
thi nhiệm vụ và dân chúng nói chung về kiến thức cơ bản trong dự phòng, điều trị, chăm  
sóc và PHCN cho BNTT tại cộng đồng.  
4. Hệ thống BTXH đang được nâng cấp thông qua hai đề án quốc gia: “Đề án 32/QĐ-TTg về  
phát triển nghề công tác xã hội (CTXH)” ban hành ngày 25/3/2010 và “Đề án 1215/QĐ-TTg  
về trợ giúp xã hội và PHCN cho người bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng  
đồng giai đoạn 2011-2020” ban hành ngày 22/7/2011. Điều này phản ánh sự chủ động, tích  
cực của BLĐTBXH và quyết tâm chính trị cao của nhà nước Việt Nam trong hai năm qua vì  
mục tiêu công bằng và an sinh xã hội nói chung và vì người bệnh tâm thần nói riêng.  
5. Tuy nhiên, trong bối cảnh thiếu hụt nguồn lực trầm trọng , thiếu sự hợp tác giữa các bộ ngành  
liên quan cũng như hai đề án 32 và 1215 mới ở giai đoạn đầu của tiến trình xác định mô hình,  
cho đến nay, tình trạng chung vẫn chưa có thay đổi đáng kể so với thời điểm nhóm nghiên cứu  
thu thập thông tin (cuối năm 2010). Với tình trạng thiếu hụt nhân lực, các cơ sở đào tạo hiện  
tại của BLĐTBXH, BYT, Bộ Giáo dục và Đào tạo chắc chắn chưa có khả năng đào tạo “cầm  
tay chỉ việc” để nhanh chóng lấp lỗ hổng chuyên môn của hệ thống từ cộng đồng tới các trung  
Trang | 7  
tâm tuyến tỉnh do BLĐTBXH quản lý. Do vậy, các kết luận và khuyến nghị của nghiên cứu  
này vừa mang tính thời sự vừa giúp cho việc xem xét, điều chỉnh lựa chọn các ưu tiên hành  
động và lập kế hoạch mang tính hệ thống để thực hiện các đề án 32 và 1215, nhất là cho hai  
năm tới (2012-2013).  
Khuyến cáo hành động  
1. Ưu tiên của giai đoạn này là cần thống nhất được tầm nhìn và khung mục tiêu quốc gia về  
CSSKTT ở Việt Nam, nhằm tạo cơ sở định hình cho các hoạt động thiết kế tiếp theo của  
BLĐTBXH và BYT trong các đề án 32 và 1215, dự án CSSKTT cộng đồng của chương trình  
mục tiêu quốc gia và đề án 930/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 về củng cố và xây dựng bệnh viện  
chuyên khoa tâm thần tại các tỉnh hiện còn thiếu (do BYT quản lý). Cần lập ra một Tổ Công  
tác đặc biệt thực thi ngay mục tiêu xây dựng và đưa ra được chính sách quốc gia về CSSKTT  
phù hợp với khả năng về nguồn lực của Việt Nam đồng thời đáp ứng tốt khuyến cáo của  
WHO, nhằm tạo được cơ sở cho các bộ ngành, địa phương hợp tác chung sức hành động từ  
nay tới năm 2020 theo mục tiêu có được một hệ thống CSSKTT lồng ghép đa ngành, lấy dự  
phòng là chính và công tác chăm sóc PHCN, hỗ trợ người bệnh tâm thần chủ yếu diễn ra tại  
cộng đồng.  
2. Khuyến nghị Quốc hội đưa ra nghị quyết nhằm giúp BLĐTBXH và BYT tiến đến sự thống  
nhất trong việc tạo lập và vận hành mô hình một hệ thống “chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng  
đồng” ở tuyến địa phương. Trong đó, các đề án 32 và 1215 của BLĐTBXH, chương trình mục  
tiêu quốc gia/dự án CSSKTT cộng đồng và đề án 930 của BYT phải được thiết kế tập trung  
vào mục tiêu chung là đổi mới hệ thống CSSKTT và PHCN cho BNTT theo khuyến cáo của  
WHO và chủ trương về một nền y tế công bằng, hiệu quả và bền vững của Đảng. Theo tầm  
nhìn này, từng đề án phải có mục tiêu cụ thể hướng đến góp phần tạo lập cả phần cứng và  
phần mềm vận hành hệ thống tại từng tỉnh, bao gồm cả cơ sở chăm sóc điều trị, phục hồi tập  
trung và hệ thống chăm sóc phục hồi tại cộng đồng.  
3. Hoạt động trong năm 2012 về CSSKTT cần ưu tiên đi theo trình tự:  
» Thống nhất tầm nhìn và khung mục tiêu cho chính sách CSSKTT quốc gia. Hoạt động này  
cần được ưu tiên và tổ chức với sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan và các nhà khoa  
học đa ngành,  
» Từ đề án 32, 1215, 930 và dự án CSSKTT cộng đồng, phối hợp thiết kế mô hình hệ thống  
CSSKTT tuyến tỉnh theo khuyến cáo của WHO, trong đó có hai nhánh đi song song phối  
hợp với nhau: nhánh nền tảng là mảng CSSKTT cộng đồng, với các hoạt động dự phòng,  
phát hiện sớm, can thiệp điều trị sớm và PHCN sớm được thực hiện và quản lý bởi đội ngũ  
đa ngành; chủ yếu phối hợp giữa nhân viên CTXH của bên LĐTBXH với nhân viên y tế;  
mảng hỗ trợ là cơ sở chăm sóc điều trị tập trung đặt ở tỉnh, là sự phối hợp lồng ghép của  
BVTT với trung tâm BTXH dành cho BNTT. Như thế, mỗi tỉnh sẽ chỉ có một cơ sở tập  
trung bệnh nhân, làm các chức năng chẩn đoán, điều trị, chăm sóc và PHCN các trường  
hợp phức tạp và nặng.  
» Thiết kế và đưa vào vận hành mô hình chăm sóc sức khoẻ lồng ghép tại tuyến chăm sóc  
ban đầu (huyện/xã), thí điểm tại một huyện.  
4. Cần thành lập nhóm hỗ trợ kỹ thuật gồm các chuyên gia đa ngành trong nước chuyên về  
CSSKTT thực hiện chức năng kết nối hỗ trợ cho cả BLĐTBXH và BYT. Vai trò tổ chức thành  
lập và vận hành nhóm này nên giao cho VUSTA đảm nhiệm với mô hình Think-tank. Đây là  
cơ sở chính thức được Quốc hội và nhà nước giao trọng trách tư vấn kỹ thuật và phản biện  
khoa học cho các chương trình, dự án phát triển.  
Trang | 8  
5. Hỗ trợ từ tổ chức quốc tế, đặc biệt từ UNICEF và WHO cần được tiếp tục và đẩy mạnh theo 3  
hướng sau:  
» Hỗ trợ để các bên thống nhất được cách tiếp cận toàn diện, đa ngành (holistic), dựa vào  
cộng đồng (community-based) trong CSSKTT, ưu tiên hỗ trợ các mô hình, sáng kiến khoa  
học và phù hợp với điều kiện nguồn lực thực tế của Việt Nam.  
» Hỗ trợ thành lập và vận hành nhóm hỗ trợ kỹ thuật và các hoạt động vận động chính sách ở  
tầm vĩ mô nhằm nhanh chóng tạo ra khung chính sách và pháp lý về CSSKTT ở Việt Nam.  
Các hoạt động hội thảo và nghiên cứu thử nghiệm mô hình, xác định bằng chứng định  
hướng chính sách cần được đẩy mạnh trong năm 2012-13.  
» Hỗ trợ VUSTA tổ chức và vận hành nhóm Think-tank dành cho CSSKTT, đảm bảo vai trò  
khoa học và độc lập trong tư vấn phản biện chính sách cho các bên liên quan chủ yếu (Ủy  
ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội, Vụ các Vấn đề Xã hội của Ban Tuyên giáo Trung  
ương, BLĐTBXH, BYT, Bộ Tài chính).  
»
Đẩy mạnh hơn nữa vai trò của các tổ chức độc lập của Việt Nam trong CSSKTT, bằng sự  
trợ giúp kỹ thuật và tài chính trực tiếp đến các tổ chức này (qua hợp đồng giao việc nhằm  
tạo lập và hoàn thiện các mô hình thí điểm định hướng chính sách) hoặc gián tiếp (qua tổ  
chức các hội thảo, hội nghị, cơ hội thực hiện vận động chính sách bằng các mô hình nghiên  
cứu thực địa, hoặc cơ hội đào tạo nhân lực).  
Trang | 9  
PHẦN 1  
TỔNG QUAN  
VỀ NGHIÊN CỨU  
1. GIỚI THIỆU  
Hệ thống chăm sóc sức khỏe cho BNTT đang được vận hành chủ yếu bởi BYT và BLĐTBXH.  
Trong đó, BLĐTBXH thực hiện chức năng chăm sóc và điều trị PHCN cho BNTT thông qua hoạt  
động của “nhân viên CTXH”1 tại cộng đồng, và qua hệ thống trung tâm chăm sóc hỗ trợ BNTT  
nặng tại tuyến tỉnh đã được thành lập và vận hành ở 16 tỉnh/thành phố trong cả nước.  
Để củng cố và hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe theo mục tiêu “chất lượng, hiệu quả và  
công bằng”, BLĐTBXH hợp tác với UNICEF và WHO phát triển chương trình hành động cụ thể  
cho giai đoạn 2011-2015. Để xây dựng được chương trình hành động phù hợp với nhu cầu của  
cộng đồng, các cơ quan liên quan cần phân tích thực trạng hiện tại của hệ thống CSSKTT tại cộng  
đồng do BLĐTBXH quản lý.  
Đề xuất ban đầu do chuyên gia tư vấn của WHO đưa ra là một nghiên cứu hệ thống toàn diện2 tập  
trung vào tám mảng lớn (Hộp 1), mỗi mảng là một nghiên cứu đặc thù. Khi đưa vào thảo luận  
triển khai thực tế, với điều kiện nhân lực và mức kinh phí giới hạn có được từ hỗ trợ của WHO  
trong năm 2010-2011, Cục BTXH thống nhất tiến hành thực hiện một nghiên cứu với mục đích  
làm rõ cấu trúc và sự vận hành hệ thống hiện tại trên phương diện vĩ mô (tức phân tích chính sách  
hiện tại), kết hợp với thu thập thông tin địa phương có hoặc chưa có trung tâm BTXH dành cho  
BNTT để làm bằng chứng xác định cho các ưu tiên đổi mới hệ thống trong thời gian tới. Trong đó,  
song song với đề án 32 về phát triển nghề CTXH, hệ thống bảo trợ chăm sóc xã hội dành cho  
BNTT sẽ được đổi mới và phát triển ở cả hai tuyến: tuyến chăm sóc tập trung và tuyến chăm sóc  
cộng đồng (Hộp 2).  
Hộp 1: Các thành phần của cuộc đánh giá hệ thống CSSKTT làm cơ sở cho củng cố hệ  
thống CSSKTT trong phạm vi quản lý của BLĐTBXH  
1. Đánh giá lại hệ thống các văn bản pháp luật đã ban hành liên quan đến hỗ trợ, chăm  
sóc, và điều trị người bệnh tâm thần;  
2. Phân tích chính sách hiện hành và các văn bản hướng dẫn việc thực thi  
3. Phân tích thực trạng ngân sách nhà nước chi cho hệ thống CSSKTT (cả cấp trung ương  
và địa phương);  
4. Phân tích thực trạng các cơ sở CSSKTT và loại hình dịch vụ đang được các cơ sở này  
cung cấp;  
5. Phân tích thực trạng nguồn nhân lực;  
6. Phân tích sự phân bố kinh phí, nhân lực và trang thiết bị cho CSSKTT theo vùng địa lý;  
7. Phân tích sự phân bố bệnh nhân theo loại hình bệnh, mức độ nặng và nhu cầu;  
8. Chỉ ra số lượng và đặc điểm bệnh nhân được điều trị tại các tuyến khác nhau của hệ  
thống do BLĐTBXH và BYT quản lý.  
Nghiên cứu được triển khai với sự phối hợp của cán bộ hai cơ quan: Trung tâm Nghiên cứu và  
Đào tạo Phát triển Cộng đồng (cơ quan nghiên cứu độc lập) và cán bộ Cục BTXH (BLĐTBXH) từ  
tháng 9/2010 – tháng 4/2011.  
1 Là nhân viên tuyến xã làm công tác BTXH cho các đối tượng (trong đó có người bệnh tâm thần) theo nghị định số  
67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và gần đây là nghị định 13/2010/NĐ-CP ban hành ngày 27/02/2010. Cụm từ “nhân  
viên CTXH” được dùng đến trong thời gian gần đây, đặc biệt là từ sau khi đề án 32 về phát triển nghề CTXH ra đời.  
2 Harry Minas (2010). Reform of the system of MOLISA centres for persons with severe mental disorders; Briefing  
notes for meeting at MOLISA on 16 July 2009; Preliminary thoughts.  
Trang | 11  
Hộp 2: Định hướng củng cố và phát triển hệ thống bảo trợ và chăm sóc xã hội dành cho  
BNTT do BLĐTBXH quản lý  
» Các trung tâm bảo trợ chăm sóc xã hội cho các đối tượng mắc bệnh tâm thần nặng hiện  
nay cần được củng cố về chất lượng phục vụ,bám sát theo quyền bệnh nhân và đưa trung  
tâm vận hành theo nguyên tắc phù hợp với các khuyến cáo của WHO cho các nước đang  
phát triển về chăm sóc tập trung BNTT và phòng ngừa tái phát  
» Hệ thống bảo trợ chăm sóc BNTT tuyến cơ sở, một thành phần trong hệ thống CTXH do  
BLĐTBXH quản lý, được vận hành theo các nguyên lý CTXH vận dụng cụ thể vào  
phòng ngừa và điều trị RNTT tại cộng đồng.  
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hệ thống BTXH dành cho BNTT do BLĐTBXH quản lý. Việc  
phân tích dữ liệu được đặt trong mối liên quan với hệ thống do BYT quản lý. Nghiên cứu nhằm  
các mục tiêu cụ thể sau:  
1. Đánh giá lại hệ thống các văn bản pháp luật đã ban hành liên quan đến hỗ trợ, chăm sóc,  
và điều trị BNTT;  
2. Phân tích chính sách hiện hành và các văn bản hướng dẫn việc thực thi;  
3. Phân tích thực trạng ngân sách nhà nước chi cho hệ thống bảo trợ chăm sóc xã hội cho  
người bệnh tâm thần;  
4. Phân tính thực trạng các trung tâm BTXH dành cho BNTT và loại hình dịch vụ mà các cơ  
sở này đang cung cấp;  
5. Phân tích thực trạng nguồn nhân lực tại các trung tâm BTXH dành cho BNTT và tuyến cơ  
sở;  
6. Phân tích tình trạng trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của các trung tâm nói trên;  
7. Phân tích sự phân bố của bệnh nhân theo loại hình bệnh, mức độ nặng và nhu cầu theo các  
loại hình bảo trợ chăm sóc xã hội của hệ thống do BLĐTBXH quản lý;  
8. Chỉ ra đặc điểm bệnh nhân được điều trị tại trung tâm BTXH so sánh với bệnh nhân tại các  
cơ sở điều trị khác do BYT quản lý.  
3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU3  
3.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu áp dụng cả hai phương pháp: nghiên cứu về chất (qualitative method) và về lượng  
(quantitative method) để thu thập thông tin ở ba cấp độ: cấp bộ, cấp tỉnh, và cấp cộng đồng. Bốn  
nhóm đối tượng nghiên cứu chính được phỏng vấn là cán bộ quản lý, cán bộ thực hành lâm sàng,  
nhân viên CTXH ở tuyến huyện-xã và gia đình bệnh nhân (Hộp 3).  
Hộp 3: Các cấp độ thu thông tin  
»
»
»
cấp bộ (để xem xét hệ thống văn bản, kế hoạch thực hiện - cho các mục tiêu 1, 2, 3, 5 và  
6);  
cấp tỉnh (đánh giá năng lực cung cấp dịch vụ của các cơ sở điều trị và nhu cầu thực tế  
của bệnh nhân - cho các mục tiêu 3, 4, 6, 7 và 8); và  
cấp cộng đồng (đánh giá nguồn lực dựa vào cộng đồng thực hiện CSSKTT và nhu cầu  
thực tế về CSSKTT cộng đồng - cho các mục tiêu 3 và 8).  
3 Đã có hai báo cáo thành phần được nhóm nghiên cứu gửi tới WHO khi kết thúc các giai đoạn thiết kế nghiên cứu và  
triển khai thực địa, trong đó đã nêu chi tiết thiết kế nghiên cứu và tổ chức triển khai nghiên cứu trên thực đia. Do vậy,  
báo cáo này chỉ nêu tóm tắt những điểm chính giúp người đọc hiểu kết quả nghiên cứu đưa ra. Thông tin chi tiết hơn,  
xin liên hệ nhóm nghiên cứu hoặc văn phòng WHO tại Hà Nội để có các báo cáo thành phần.  
Trang | 12  
3.2. Thiết kế mẫu  
Nghiên cứu sử dụng mẫu nghiên cứu nhiều bậc (multi-stage sampling), phối hợp giữa mẫu có chủ  
định (purposive sampling) và mẫu ngẫu nhiên (random sampling). Trong bước đầu tiên - chọn  
mẫu chủ định - có 5 tỉnh thuộc nhóm có trung tâm BTXH dành cho BNTT và 3 tỉnh đối chứng  
(không có trung tâm) được chọn vào mẫu nghiên cứu, theo đề xuất của Cục BTXH, nhằm mục  
đích có được sự nhìn nhận hệ thống. Đó là các tỉnh/thành phố:  
» Hà Nội: đại diện nhóm thành phố nơi các nguồn lực được xem là tốt hơn cả;  
»
Đà Nẵng4: một trong hai tỉnh nhận được sự hỗ trợ của quốc tế để đổi mới hệ thống  
CSSKTT của tỉnh theo hướng chăm sóc dựa vào cộng đồng trong thời gian qua;  
» nhóm các tỉnh có trung tâm BTXH dành cho BNTT, với các tỉnh đại diện cho ba khu vực  
là Sơn La (miền núi phía Bắc), Bình Định (miền trung) và Bến Tre (đồng bằng sông  
Cửu Long); và  
» nhóm tỉnh đối chứng chưa có trung tâm BTXH dành cho BNTT gồm Quảng Ngãi (miền  
trung), Đăk Lăk (Tây Nguyên) và Kiên Giang (đồng bằng sông Cửu Long).  
Ở bước thứ hai, tại mỗi tỉnh, toàn bộ hệ thống BTXH từ tỉnh cho đến xã đã được đưa vào đánh giá,  
gồm trung tâm BTXH dành cho BNTT, BVTT, và mạng lưới triển khai công tác CSSKTT trong  
tỉnh. Mẫu có chủ định được áp dụng cho việc chọn đối tượng lãnh đạo quản lý hệ thống trong tỉnh,  
và người nhà của bệnh nhân đang được chăm sóc bởi hệ thống. Bước chọn mẫu thứ ba là chọn  
ngẫu nhiên sáu xã cho mỗi tỉnh. Tại mỗi xã, nhân viên công tác BTXH, CSSKTT và hộ gia đình  
có BNTT được đưa vào mẫu điều tra phỏng vấn thu thông tin. Hộp 4 nêu các nhóm đối tượng  
cung cấp thông tin theo cấp độ thu thập thông tin của toàn bộ nghiên cứu.  
Hộp 4: Các nhóm đối tượng cung cấp thông tin  
»
»
Cán bộ quản lý: bao gồm những người hiện đang công tác ở cấp Bộ (BLĐTBXH và  
BYT), cấp tỉnh (tại các trung tâm BTXH dành cho BNTT hoặc các BVTT), và cán bộ  
trong chính quyền địa phương. Họ đã được phỏng vấn để làm sáng tỏ tiến trình đưa ra  
các chính sách, văn bản hướng dẫn công tác CSSKTT, kế hoạch triển khai, nguồn nhân  
lực và tài lực để triển khai các kế hoạch này.  
Cán bộ thực hành lâm sàng: những người hàng ngày trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại  
các trung tâm thuộc BLĐTBXH và cả ở các dự án CSSKTT tại tuyến cơ sở (cán bộ  
TYT và trung tâm y tế huyện).  
»
»
Nhân viên CTXH: ở tuyến cộng đồng (bao gồm những người đang thực hiện các hỗ trợ  
xã hội cho bệnh nhân.  
Bệnh nhân và gia đình bệnh nhân: những người có nhu cầu được chăm sóc bởi các  
dịch vụ do BLĐTBXH hoặc BYT quản lý (bao gồm cả người lớn và trẻ em)  
Tại 48 xã, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành 244 phỏng vấn hộ gia đình bệnh nhân, 137 cuộc phỏng  
vấn định lượng với cán bộ BTXH và chăm sóc BNTT tuyến xã, và 69 cuộc phỏng vấn định tính  
với cán bộ BTXH. Ở các tuyến cao hơn, phỏng vấn định tính được thực hiện với 68 lãnh đạo trong  
hệ thống BTXH và y tế, 22 lãnh đạo trong các cơ sở trực tiếp chăm sóc BNTT, 68 nhân viên trực  
4
Đà Nẵng và Khánh Hòa là hai tỉnh được nhận tài trợ của Quỹ từ thiện Atlantic thông qua Quỹ Hội Cựu chiến binh  
Mỹ tại Việt Nam (VVAF), với dự án củng cố hệ thống CSSKTT tuyến tỉnh theo hướng CSSKTT dựa vào cộng đồng,  
bắt đầu từ 2006 và kết thúc 2012 (xem thêm chi tiết trong báo cáo của Cục BTXH/BLĐTBXH, UNICEF và RTCCD  
về “Đánh giá các mô hình CSSKTT do các tổ chức NGOs vận hành tại Việt Nam”, Hà Nội tháng 10/2011.  
Trang | 13  
tiếp chăm sóc bệnh nhân, và 56 người nhà bệnh nhân tại các cơ sở chăm sóc điều trị bệnh tâm  
thần.  
Phụ lục 1 nêu số lượng các đối tượng thực tế được chọn vào mẫu nghiên cứu, phân bố theo tỉnh,  
và nội dung điều tra.  
3.3. Nội dung điều tra và tổ chức triển khai nghiên cứu trên thực địa  
Nghiên cứu được Cục BTXH tổ chức phối hợp với trung tâm RTCCD ở tuyến trung ương và với  
SLĐTBXH của mỗi tỉnh khi điều tra tại tuyến tỉnh.  
Các thông tin thu thập định tính và định lượng được xếp theo ba cấu phần đặc thù:  
» Cấu phần 1: Phân tích chính sách về CSSKTT ở Việt Nam và vai trò của BLĐTBXH,  
sử dụng nguồn thông tin có sẵn tại các cơ quan, công sở thuộc BLĐTBXH và BYT, và  
phỏng vấn các cán bộ đương nhiệm tại các tuyến. Cấu phần này nhằm đạt các mục tiêu 1, 2  
và 3.  
» Cấu phần 2: Phân tích hệ thống tổ chức các trung tâm chăm sóc BNTT thuộc quản lý  
của BLĐTBXH, sử dụng các công cụ và phương pháp nghiên cứu về chất và lượng để làm  
sáng tỏ thực trạng hiện tại, các dịch vụ đang được cung cấp, các đối tượng nhận dịch vụ,  
nguồn nhân lực thực hiện và khả năng thực tế, hạ tầng cơ sở và kinh phí vận hành. Cấu  
phần này nhằm đạt các mục tiêu số 3, 4, 5, 6.  
» Cấu phần 3: Đánh giá nhu cầu CSSKTT của bệnh nhân (đặc biệt với bệnh nhân là trẻ  
em, phụ nữ và người già) và đánh giá khả năng thực hiện hỗ trợ, chăm sóc bệnh nhân  
tại cộng đồng5, sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu chất và lượng, nhằm làm sáng tỏ  
các mục tiêu số 7 và 8.  
Các nội dung khảo sát được phát triển thành mười mẫu phiếu thu thập thông tin, trong đó có năm  
mẫu phục vụ cho hoạt động thu thập thông tin bằng phỏng vấn định tính6, ba mẫu phiếu thống kê  
khảo sát các cơ sở chăm sóc bệnh nhân theo hình thức báo cáo7, và hai mẫu phiếu phỏng vấn định  
lượng dành cho gia đình bệnh nhân tại cộng đồng, nhân viên BTXH và y tế cộng đồng.  
5 Ngoài hệ thống CSSKTT do BLĐTBXH và BYT quản lý, còn có các sáng kiến, mô hình, dự án chăm sóc BNTT do  
các tổ chức NGO trong và ngoài nước triển khai đã được nhóm nghiên cứu BLĐTBXH-WHO-UNICEF-RTCCD  
phân tích trong báo cáo chuyên đề “Đánh giá các mô hình CSSKTT do các tổ chức NGOs vận hành tại Việt Nam”.  
6 Là các mẫu: A1 (phỏng vấn lãnh đạo tuyến trung ương, SLĐTBXH, Sở Y tế hoặc BVTT, cơ sở điều trị BNTT); B1  
(lãnh đạo hoặc cán bộ chuyên trách trung tâm BTXH cho BNTT của tỉnh, hoặc trung tâm 05/06, khoa tâm thần trong  
BVĐK tỉnh); B1b (cán bộ nhân viên trực tiếp phục vụ bệnh nhân); B2 (gia đình người bệnh tại cơ sở BTXH/y tế tỉnh);  
và C1 (phỏng vấn định tính cán bộ BTXH).  
7 Là các mẫu: B3a (phiếu thống kê dành cho trung tâm BTXH, hoặc 05/06 do cán bộ thống kê điền); B3b (phiếu thống  
kê dành cho BVTT tỉnh hoặc khoa tâm thần trong BVĐK tỉnh; và B4 (bảng kiểm quan sát cơ sở chăm sóc BNTT).  
Chi tiết các mẫu xem trong báo cáo thiết kế nghiên cứu gửi WHO tháng 9/2010  
Trang | 14  
PHẦN 2  
KẾT QUẢ  
NGHIÊN CỨU  
Báo cáo này trình bày kết quả nghiên cứu trong  
sáu chương. Chương 1 phân tích thông tin về  
chính sách CSSKTT ở Việt Nam và vai trò của  
BLĐTBXH. Chương 2 mô tả thực trạng ngân sách  
nhà nước cho hệ thống CSSKTT. Chương 3 mô tả  
hệ thống vận hành của các trung tâm chăm sóc  
BNTT thuộc quản lý của BLĐTBXH trong mối  
liên quan với hệ thống CSSKTT thuộc quản lý của  
BYT. Chương 4 mô tả thực trạng hệ thống cán bộ  
BTXH trong CSSKTT và các trở ngại gặp phải.  
Chương 5 trình bày nhu cầu CSSKTT của cộng  
đồng. Chương 6 tổng kết các đề xuất và áp dụng  
chính sách.  
CHƯƠNG 1  
Các chính sách về CSSKTT ở  
Việt Nam và Vai trò của BLĐTBXH  
Trang | 16  
1. Khung pháp lý quốc gia liên quan đến người bệnh tâm thần và các can  
thiệp hệ thống chăm sóc BNTT  
Nếu hiểu chính sách quốc gia về CSSKTT là tài liệu ”mô tả  
các giá trị và chiến lược của chính phủ nhằm giảm thiểu gánh  
nặng tâm thần và cải thiện sức khỏe tâm trí của cộng đồng”  
[1], thì cho đến nay, chưa tìm thấy một tài liệu chính thức nào  
của BYT hoặc BLĐTBXH được xem là ”chính sách quốc gia  
về CSSKTT”. Có thể nhận xét này bị cho là quá cứng nhắc,  
bởi ở Việt Nam đã có cả một hệ thống bệnh viện cùng trung  
tâm BTXH dành cho BNTT và mạng lưới tổ chức tại cộng  
Hộp 5: Định nghĩa thực hành chính  
sách (WHO, 2001)  
Chính sách đưa ra cụ thể các tiêu  
chuẩn cần được áp dụng xuyên suốt  
hệ thống dịch vụ và các chương trình,  
gắn kết các dịch vụ và các chương  
trình này lại với nhau bằng một tầm  
nhìn chung, một đích hướng đến, và  
đồng nhằm phát thuốc và trợ giúp tài chính cho BNTT vận  
hành bởi hai Bộ, Y tế và LĐTBXH, từ nhiều năm nay.  
các mục tiêu cần đạt được. Không có  
khung gắn kết này, chắc chắn các  
dịch vụ, các chương trình sẽ bị vỡ  
vụn và không hiệu quả [1].  
Tuy nhiên, Hộp 5 dưới đây nêu lại định nghĩa thực hành về  
chính sách SKTT do WHO đưa ra [1] để từ đó có được chỗ  
dựa đánh giá khách quan về thực trạng chính sách CSSKTT ở  
Việt Nam.  
Trong thực tế, trình bày của đại diện BYT trước đại biểu Quốc Hội ngày  
6/8/2010 với hai kiến nghị nêu trong hộp 6 cũng thể hiện sự đồng thuận với  
nhận định là hiện đang thiếu chính sách quốc gia về CSSKTT.  
Hiện Việt Nam là một trong 35 nước trên thế giới chưa có luật  
hoặc pháp lệnh về CSSKTT. Luật Bảo vệ Sức khỏe Nhân dân  
ban hành năm 1989 đã khẳng định công dân có quyền được  
bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được  
bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh  
môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế [2]  
nhưng không có bất kỳ mục nào đề cập đến CSSKTT.  
Hộp 6: Kiến nghị và đề xuất của  
BYT  
Được đưa ra tại hội thảo ”Đại biểu  
dân cử phía nam với chính sách, pháp  
luật y tế” do Ủy ban các Vấn đề Xã  
hội (Quốc Hội khóa XII) và VUSTA  
tổ chức ngày 6/8/2010 bao gồm:  
Tuy nhiên, một số chính sách, pháp luận hiện hành của Việt  
Nam có phần nào đề cập đến trách nhiệm của xã hội với người  
bệnh tâm thần (Hộp 7) và thuốc liên quan đến BNTT. Kết hợp  
với các đề án, dự án quốc gia trực tiếp tác động đến hệ thống  
CSSKTT nêu dưới đây, ta có thể có được một cái nhìn tổng  
quan về thực trạng hệ thống chính sách, luật pháp của Việt  
Nam liên quan đến công tác CSSKTT.  
» Xây dựng và ban hành chính sách  
quốc gia về CSSKTT  
» Giám sát của Quốc Hội và ban  
hành nghị quyết của Quốc Hội về  
CSKKTT (nếu cần)  
Trang | 17  
Hộp 7: Một số chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến BNTT  
»
Chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH (NĐ 13 / 2010): quy định mức hỗ trợ tài chính hàng  
tháng cho người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ  
quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm;  
»
Luật người khuyết tật (2010): quy định người tâm thần, người có khuyết tật thần kinh là nhóm đối  
tượng khuyết tật. Đây là cơ sở để người tâm thần được hưởng một số chính sách hỗ trợ của nhà  
nước  
»
»
Luật khám chữa bệnh (2009): quy định bắt buộc phải chữa bệnh cho người bệnh tâm thần, phải  
có hội chẩn và chế độ hồ sơ bệnh án cho người bệnh tâm thần;  
Luật người cao tuổi (20009): quy định phụng dưỡng người cao tuổi về thể chất, tinh thần và quy  
định các chế độ, chính sách chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, bao gồm cả người cao tuổi bị  
khuyết tật thể chất và có mắc chứng tâm thần;  
»
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2006): quy định quyền trẻ em và trách nhiệm của nhà  
nước, các cơ quan đoàn thể, cộng đồng và gia đình trong việc chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc  
biệt, bao gồm: trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật thể chất và tâm thần, trẻ em nhiễm  
HIV, trẻ em nhiễm chất độc màu da cam;  
»
»
Luật bảo hiểm y tế (63/2005/NĐ-CP): quy định bảo hiểm bắt buộc đối với các đối tượng BTXH  
được hưởng trợ cấp hàng tháng, trong đó bao gồm đối tượng tâm thần;  
Bộ luật tố tụng hình sự (2003): quy định người bệnh tâm thần không được làm chứng, tạm đình  
chỉ điều tra, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can bị bệnh tâm thần và phải áp dụng biện  
pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người chấp hành hình phạt tù có mắc chứng tâm thần;  
»
Luật hôn nhân và gia đình (2000): quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc  
con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự… và  
con cái có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ đặc biệt khi ốm đau, già yếu, tàn tật. Luật cũng đồng thời  
quy định một số quyền quản lý tài sản đối với con/cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự;  
»
»
Luật phòng chống ma túy (2000): quy định việc kiểm soát các chất ma túy, thuốc gây nghiện,  
thuốc hướng thần;  
Pháp lệnh giám định tư pháp (2004): quy định về việc thành lập trung tâm giám định pháp y tâm  
thần;  
»
»
Luật dược (2005): quy định về quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và tiền chất làm thuốc;  
Dự án CSSKTT cộng đồng, thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia của BYT (khởi thảo từ  
1999): Dự án có mục tiêu đảm bảo BNTT phân liệt và động kinh đã qua chẩn đoán xác định của  
BVTT tỉnh hoặc trung ương, được tiếp tục điều trị tại cộng đồng;  
»
»
Dự án phòng chống bệnh không lây nhiễm của BYT (khởi thảo từ 2002): tập trung vào 5 bệnh,  
trong đó có bệnh tâm thần;  
Đề án 930/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 về “Đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các bệnh viện chuyên  
khoa lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi và một số BVĐK tỉnh thuộc các vùng miền núi khó  
khăn sử dụng vốn trái phiếu chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2009-2013”;  
»
»
Đề án 32/QĐ-TTg ngày 15/3/2010 về phát triển nghề CTXH ở Việt Nam, trong đó có CTXH  
trong chăm sóc y tế;  
Đề án 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 về “Trợ giúp xã hội và PHCN cho người tâm thần, người  
RNTT dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020”.  
Như vậy, chỉ trong ba năm 2009-2011, chính phủ đã phê duyệt ba đề án trực tiếp (đề án 930 và  
1215) và một đề án gián tiếp cho mảng CSSKTT (đề án 32). Hai đề án do BLĐTBXH quản lý và  
một đề án do BYT quản lý. Điều này thể hiện sự chuyển biến rõ rệt trong định hướng công tác  
CSSKTT của nhà nước Việt Nam.  
Trang | 18  
2. Vai trò của hai bộ chủ chốt LĐTBXH và Y tế trong vận hành các chủ  
trương chính sách liên quan đến CSSKTT  
2.1. Vai trò của BYT và những vấn đề đặt ra cho BLĐTBXH  
Phần viết dưới đây phân tích thêm ba đề án/dự án liên quan trực tiếp đến chăm sóc  
và PHCN cho người bệnh tâm thần thuộc quản lý của BYT để hình dung rõ hơn  
nguy cơ phân tách, xé lẻ nguồn lực CSSKTT ở Việt Nam, đang được quản lý bởi  
hai Bộ chủ chốt, do thiếu khung chính sách quốc gia về tâm thần. Đồng thời nêu  
lên vai trò tiềm năng trong tương lai của BLĐTBXH trong hệ thống CSSKTT ở  
Việt Nam.  
» Dự án CSSKTT cộng đồng được BYT thí điểm năm 1999 và cho triển khai từ năm  
2001. Chương trình tập trung vào phát thuốc điều trị tại cộng đồng bởi mạng lưới y  
tế xã cho hai đối tượng người bệnh cụ thể đã được làm hồ sơ bởi BVTT tỉnh hoặc  
trung ương: động kinh và tâm thần phân liệt. Tính đến năm 2010, diện bao phủ dự  
án lên đến 7.700/10.997 xã trong toàn quốc, đạt 70%. Từ năm 2006, mở rộng thêm  
bệnh trầm cảm, nhưng mới chỉ khu trú ở một vài xã làm điểm [3] [4]. Dự án này đã  
được BYT và WHO nhất trí đánh giá vào năm 2008 bởi một tổ chức độc lập  
(RTCCD) với sự trợ giúp của WHO. Kết quả đánh giá đã đưa ra sáu kết luận và sáu  
khuyến cáo cần phải đổi mới ở dự án này (xem Phụ lục 2). Tuy nhiên, cho đến thời  
điểm nghiên cứu này triển khai, và gần đây nhất, trong trình bày của BYT trước Ủy  
ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội về đề xuất Chương trình Mục tiêu Quốc gia  
ngày 8/3/2011, dự án này vẫn giữ cách làm cũ, không thể hiện sự thay đổi chiến  
lược theo khuyến cáo của báo cáo đánh giá đưa ra.  
» Chương trình quốc gia về bệnh không lây nhiễm: được khởi động từ năm 2002, do  
Cục Khám Chữa bệnh quản lý. Trong giai đoạn 2002-2010, chương trình tập trung  
vào bốn nhóm bệnh gồm huyết áp, tiểu đường, ung thư và tâm thần, và vận hành  
trong nội bộ BYT, không có sự hợp tác liên nghành với các Bộ khác, kể cả  
BLĐTBXH. Chương trình được thí điểm tại Thái Nguyên năm 2007 và cho đến  
hiện nay là năm 2010, cấu phần CSSKTT vẫn chưa được triển khai [5].  
Trang | 19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 57 trang yennguyen 73740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Đánh giá thực trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_danh_gia_thuc_trang_he_thong_cham_soc_suc_khoe_tam.pdf