Giá trị dao động xung ký trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021
viện đa số bệnh nhân ổn định (95,9%); sống
TÀI LIỆU THAM KHẢO
thực vật 0,9%; tỉ lệ tử vong là 0,2%. Chúng tôi
nhận thấy việc lựa chọn điều trị hồi sức tích cực,
nội khoa hay phẫu thuật phụ thuộc vào tình
trạng lâm sàng bệnh nhân, đặc điểm tùy loại tổn
thương trên chụp cắt lớp vi tính sọ não.
1. Đồng Văn Hệ, Trần Trường Giang (2005). Đặc
điểm dịch tễ học chấn thương sọ não tại Bệnh viện
Việt Đức, Tạp chí nghiên cứu Y học, 39(6).
2. Trương Văn Việt (2002), "Các yếu tố nguy cơ
gây chấn thương sọ não tại thành phố Hồ Chí
Minh", Tạp chí nghiên cứu Y học TP Hồ Chí Minh,
6(2), tr. 14-20.
V. KẾT LUẬN
3. Lê Tấn Nẫm, Nguyễn Minh Tâm (2012),
“Nguyên nhân, phân loại và kết quả chấn thương
sọ não tại bệnh viện An Giang”, Kỷ yếu Hội nghị
khoa học 10/2012. Bệnh viện An Giang.
Nguyên nhân chấn thương sọ não do tai nạn
giao thông vẫn cao nhất; thường gặp ở nam giới
và độ tuổi lao động. Tỉ lệ điều trị nội khoa chiếm
đa số, phẫu thuật chỉ chiếm (9,5%).
GIÁ TRỊ DAO ĐỘNG XUNG KÝ
TRONG CHẨN ĐOÁN HEN PHẾ QUẢN Ở TRẺ EM
Bùi Mỹ Hạnh1,2, Nguyễn Diệu Linh1
Backgrounds: Pediatric asthma, especially
children <5 years old, is often difficult to diagnose,
leading to a lack of prompt treatment and control.
Impulse Oscillometry (IOS) is a method that can
evaluate airway obstruction and recommend an early
diagnosis. Objective: To determine the value of IOS
in the diagnosis of asthma in children. Subjects and
methods: A descriptive cross-sectional study was
conducted on 104 children under 10 years old with
suspected asthma symptoms who visited in the
National Lung Hospital from January 2020 to August
2020. Results: There were 78 children diagnosed
with asthma, the male/female (M/F) ratio was 2/1 (p
= 0.003). There was a consistency between the
diagnosis of asthma according to GINA and Decision
No. 4888/QD-BYT by the Ministry of Health with the
diagnosis recommendation based on bronchodilator
therapy in IOS (kappa coefficient = 0.432). Value of
R5, AX before bronchodilator test with AUC = 0,66 (p
= 0,015), AUC = 0,67 (p = 0,009); And Value R5
change, Fres after test AUC = 0,783 (p = 0,000),
%ChangeFres có AUC = 0,785 (p = 0,000) are mild
valuable indicators for the diagnosis of asthma in
children with cut-off was 0,88 kPa/L/s; 3,38 kPa/L,
18% and 15,5%.
TÓM TẮT52
Mở đầu: Hen trẻ em, đặc biệt trẻ em < 5 tuổi
thường khó chẩn đoán, dẫn đến không được điều trị
và kiểm soát kịp thời. Dao động xung ký (IOS) là
phương pháp có thể đánh giá tắc nghẽn đường thở ở
trẻ, gợi ý chẩn đoán HPQ sớm ở trẻ em. Mục tiêu:
Nghiên cứu nhằm xác định giá trị của IOS trong chẩn
đoán HPQ ở trẻ em. Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 104
trẻ em dưới 10 tuổi có triệu chứng nghi ngờ HPQ đến
khám tại Bệnh viện Phổi Trung Ương từ tháng
01/2020 đến tháng 8/2020. Kết quả: Nghiên cứu có
78 trẻ được chẩn đoán HPQ, tỷ lệ nam/nữ 2/1 (p =
0,003). Có sự phù hợp mức độ trung bình giữa chẩn
đoán HPQ theo GINA và quyết định 4888 của Bộ Y tế
(QĐ4888) với gợi ý chẩn đoán dựa vào nghiệm pháp
hồi phục phế quản (test HPPQ) trong IOS (kappa =
0.432). Giá trị R5, AX trước nghiệm pháp HPPQ, sự
thay đổi R5, Fres sau test HPPQ là các chỉ số có giá trị
gợi ý chẩn đoán HPQ ở trẻ em. R5Pre có AUC = 0,66
(p = 0,015), AXPre có AUC = 0,67 (p = 0,009) và
%ChangeR5 có AUC =0,783 (p=0,000), %ChangeFres
có AUC = 0,785 (p = 0,000) có giá trị trong gợi ý chẩn
đoán HPQ ở mức độ trung bình với điểm cắt lần lượt
là 0,88 kPa/L/s; 3,38 kPa/L; 18% và 15,5%.
Keywords: Asthma, pediatric asthma, impulse
oscillometry.
Từ khóa: Hen phế quản, hen trẻ em, dao động
xung ký.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
SUMMARY
THE VALUE OF IMPULSE OSCILLOMETRY
IN THE DIAGNOSIS OF ASTHMA IN
CHILDREN AT LUNG HOSPITAL NATIONAL
HPQ là bệnh lý mạn tính đường hô hấp
thường gặp, chiếm 1 - 18% dân số các nước. Tỷ
lệ mắc bệnh trung bình là 5% ở người lớn và
10% ở trẻ em [1]. Đây là bệnh mạn tính phổ
biến nhất ở trẻ em. Ở Việt Nam chưa có thống
kê chính xác, các công trình nghiên cứu ở các
vùng và địa phương cho thấy hen trẻ em có tỷ lệ
mắc khoảng 4 - 8%. Những năm gần đây hen
trẻ em có xu hướng tăng lên, cứ 20 năm tỷ lệ
hen trẻ em tăng lên 2-3 lần,[2]. Hô hấp ký là xét
nghiệm thăm dò chức năng hô hấp được sử
1Trường Đại học Y Hà Nội
2Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Mỹ Hạnh
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 17.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 11.5.2021
Ngày duyệt bài: 20.5.2021
221
vietnam medical journal n01 - june - 2021
dụng phổ biến nhất ở người lớn và trẻ lớn. HPQ trong 12 tháng qua.
Phương pháp này đòi hỏi cần có sự hợp tác tích
cực từ phía người bệnh khi tiến hành đo, rất khó
thực hiện ở trẻ nhỏ, khả năng hiểu và hợp tác
của trẻ chưa tốt, do đó sẽ dẫn tới sai sót trong
kết quả đo. Dao động xung ký (IOS) là một kỹ
thuật không xâm lấn, có thể đánh giá về mặt cơ
học của đường thở, phương pháp này đo trực
tiếp kháng lực (R) và phản lực (X) đường dẫn khí
ở nhiều tần số dao động khác nhau [3]. Xét
nghiệm này dễ thực hiện, nhanh chóng, đòi hỏi
rất ít sự hợp tác vì người bệnh chỉ cần hít thở
bình thường, có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi,
đặc biệt có thể thực hiện với trẻ nhỏ từ 2 tuổi trở
lên [4]. Phương pháp mới này hữu ích, thuận
tiện để đánh giá tắc nghẽn đường dẫn khí ở trẻ
em, đặc biệt là trẻ nhỏ phối hợp kém, giúp ích
rất nhiều cho việc chẩn đoán sớm, điều trị và
kiểm soát hen phế quản ở trẻ em [5]. Tại Việt
Nam, phương pháp này chưa được ứng dụng
phổ biến, chưa có nhiều nghiên cứu về vai trò
của IOS trong chẩn đoán và đánh giá mức độ
đáp ứng điều trị hen phế quản ở trẻ em. Do đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Giá trị dao động
xung ký trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em
tại Bệnh viện Phổi Trung Ương” với mục tiêu:
Xác định giá trị của dao động xung ký (IOS)
trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em.
- Không có các bệnh lý hô hấp mạn tính khác.
- Người giám hộ trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu.
• Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ không hợp tác đo IOS.
- Trẻ có có tình trạng bệnh lý mạn tính nặng
khác kèm theo: Tim bẩm sinh, bệnh thần kinh
cơ, bại não, …
2.2. Phương pháp nghiên cứu
a. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang.
b. Chọn mẫu: Sử dụng chọn mẫu thuận tiện
tất cả BN thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại
trừ. n=78
c. Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
- Dùng bộ câu hỏi trực tiếp khai thác tiền sử,
bệnh sử của trẻ từ trẻ và gia đình; thăm khám
đánh giá lâm sàng; chẩn đoán hen phế quản và
đánh giá mức độ kiểm soát hen cho trẻ theo
GINA 2019, theo bộ câu hỏi ACT.
- Tiến hành đo IOS, làm test HPPQ cho trẻ,
đọc và phân tích kết quả.
- Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
2.3. Phương pháp thống kê và xử lý số
liệu: Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm
SPSS 20. So sánh các trung bình, tỷ lệ, so sánh 2
tỷ lệ bằng kiểm định Khi bình phương, Fisher’s
Exact Test, Phi and Cramer’s, ANOVA (p < 0.05
được coi là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê).
Chỉ số Kappa cho biết mức độ đồng thuận giữa 2
phương pháp chẩn đoán bệnh. Giá trị dự đoán
của các chỉ số IOS được thể hiện dưới dạng
đường cong ROC, AUC.
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu. Trẻ em dưới
10 tuổi có triệu chứng nghi ngờ HPQ đến khám
tại Bệnh viện Phổi Trung Ương từ tháng 01/2020
đến tháng 8/2020.
• Tiêu chuẩn chọn người bệnh
- Trẻ em dưới 10 tuổi, chưa từng được chẩn
đoán và điều trị HPQ, có triệu chứng nghi ngờ
2.4. Đạo đức nghiên cứu. Tất cả thông tin
của người bệnh được giữ bí mật, chỉ nhằm mục
đích nghiên cứu
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm chung của trẻ được chẩn đoán HPQ
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo nhóm chẩn đoán HPQ
Đặc điểm
Nam
HPQ (n=78)
52 (66,7%)
26 (33,3%)
6,4 ±1,94
6,46 ± 2,04
6,42 ± 1,96
118,83 ± 13,18
116,73 ± 12,76
118,13 ± 13
22,71 ± 7,05
21,3 ± 6,53
22,24 ± 6,87
26 (33,3%)
Không HPQ (n=26)
16
p
Giới
0,634
Nữ
Nam
Nữ
10
7,13 ± 1,63
6,6 ± 2,76
Tuổi
(năm)
0,272
0,55
Chung
Nam
Nữ
Chung
Nam
Nữ
6,92 ± 2,10
121,38 ± 9,45
117,6 ± 19,31
119,92 ± 13,83
24,46 ± 6,93
24,5 ± 12,08
24,47 ± 9,022
6 (23,1%)
Chiều cao
(cm)
Cân nặng
0,19
(kg)
Chung
Có tiền sử dị ứng
Tiền sử
0,326
222
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021
bản thân
Mề đay
Viêm mũi dị ứng
Viêm phế quản nhiều đợt
Gia đình có người bị HPQ
Gia đình có người bị dị ứng khác
13 (16,7%)
34 (43,6%)
47 (60,3%)
17 (21,8%)
23 (29,5%)
4 (15,4%)
11 (42,3%)
15 (57,7%)
3 (11,5%)
5 (19,2%)
0,878
0,909
0,817
0,25
Tiền sử
gia đình
0,307
Nhận xét: Tỷ lệ HPQ ở trẻ em nam cao gấp 2 lần trẻ em nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê với p = 0,003. Không có sự khác biệt về giới, tuổi, cân nặng, chiều cao, tiền sử bản thân, tiền sử
gia đình giữa nhóm người bệnh được chẩn đoán có hen phế quản và không hen phế quản (p>0,05).
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng của trẻ được chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888
Biểu đồ 3.1: Đặc điểm lâm sàng trẻ ≥ 5 tuổi theo chẩn đoán HPQ
Nhận xét: Có 17 trong số 22 trẻ em < 5 tuổi được chẩn đoán HPQ theo QĐ 4888, tương đương
77,27%. 100% đều có triệu chứng khò khè ± ho tái diễn và 70,6% đã được loại trừ các nguyên nhân
gây khó thở khác. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tiền sử có dị ứng, có yếu tố khởi phát triệu
chứng giữa nhóm được chẩn đoán HPQ và nhóm không được chẩn đoán HPQ với p < 0,05. Sự khác
biệt các triệu chứng còn lại chưa đạt mức ý nghĩa.
3.2. Mối liên quan giữa chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 với kết quả IOS
Bảng 3.2: Sự phù hợp giữa chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 và theo gợi ý chẩn
đoán dựa vào kết quả test HPPQ trong IOS (n = 104)
Chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888
Không
16
10
26
Có
13
65
78
Tổng
29
75
Không
Có
Tổng
Gợi ý chẩn đoán
HPQ theo test
HPPQ của IOS
K = 0,432
(p = 0,000)
104
Nhận xét: Hệ số Kappa = 0,432 (p = 0,000), có sự phù hợp ở mức độ trung bình của chẩn đoán
HPQ theo GINA/QĐ4888 với kết quả test HPPQ trong IOS.
3.3. Các giá trị IOS trong chẩn đoán HPQ
Bảng 3.3: Kết quả đo IOS theo phân nhóm chẩn đoán HPQ trước và sau test HPPQ
Các chỉ số IOS
HPQ (n=78)
0,96 ± 0,3
Không HPQ (n=26)
0,8 ± 0,22
p
Pre
0,014
0,249
0,000
0,083
0,104
0,881
0,022
0,142
0,092
0,272
R5
Post
%Change
Pre
0,72 ± 0,24
25,29 ± 9,57
0,52 ± 0,12
0,48 ± 0,12
-6,04 ± 13,12
3,64 ± 1,52
2,44 ± 1,33
-35,59 ± 18,88
36,08 ± 115,65
0,66 ± 0,16
(kPa/L/s)
16,5 ± 10,17
0,47 ± 0,11
0,44 ± 0,1
-6,48 ± 11,87
2,86 ±1,31
2,03 ± 0,94
R20
(kPa/L/s)
Post
%Change
Pre
Post
%Change
AX
(kPa/L)
-27,23 ± 28,38
10,4 ± 11,82
%Change của Fres
Nhận xét: Sự khác biệt về giá trị trung bình của R5Pre, %ChangeR5, AXPre giữa nhóm HPQ và
không HPQ có ý nghĩa thống kê (p < 0.05). Không có sự khác biệt về R5Post, R20Pre, R20Post,
%ChangeR20, AXPost, %ChangeFres giữa nhóm được chẩn đoán HPQ và nhóm không được chẩn
223
vietnam medical journal n01 - june - 2021
đoán HPQ (p > 0,05).
a
b
c
Biểu đồ 3.2: Đường cong ROC giá trị IOS trước test HPPQ (a), sau test HPPQ
(b), sự thay đổi các giá trị IOS sau test HPPQ (c) trong chẩn đoán HPQ
0,506 (p = 0,934). %ChangeAX có AUC = 0,403
(p = 0,148), %ChangeFres có AUC = 0,785 (p =
0,000).
Ta thấy giá trị R5, AX trước test HPPQ, sự
thay đổi giá trị R5 và Fres sau test HPPQ
(%ChangeR5, %ChangeFres) có khả năng để gợi
ý chẩn đoán HPQ.
Với các giá trị IOS có AUC > 0,6, ta xác định
được điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu của từng
chỉ số trong chẩn đoán HPQ như sau:
Nhận xét:
▪ Trước test HPPQ, R5Pre có AUC = 0,66 (p =
0,015), R20Pre có AUC = 0,62 (p = 0,068),
AXPre có AUC = 0,67 (p = 0,009), R5Pre-R20Pre
có AUC = 0,62 (p = 0,069).
▪ Sau test HPPQ, R5Post có AUC = 0,55 (p =
0,405), R20Post có AUC = 0,6 (p = 0,132),
AXPost có AUC = 0,58 (p = 0,239).
▪ Sau test HPPQ, %ChangeR5 có AUC =
0,783 (p = 0,000), %ChangeR20 có AUC =
Bảng 3.4: Điểm cắt các giá trị IOS trong gợi ý chẩn đoán HPQ (n=78)
Chỉ số IOS
R5Pre
%ChangeR5
AXPre
Điểm cắt
0,88
Độ nhạy
0,592
0,842
0,57
Độ đặc hiệu
0,692
AUC
0,66
0,783
0,65
0,785
18
3,38
15,5
0,72
0,77
0,84
%ChangeFres
0,645
Nhận xét: Các chỉ số IOS là R5Pre, AXPre, %ChangeR5, %ChangeFres có giá trị trong gợi ý chẩn
đoán HPQ ở mức độ trung bình với điểm cắt lần lượt là 0,88 kPa/L/s, 3,38 kPa/L, 18% và 15,5%.
chiều cao và cân nặng trung bình là 101,15 ±
8,19 cm và 17,43 ± 3,79 kg[7].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong số 78
trẻ bị HPQ, có 33.3% trẻ có tiền sử dị ứng (dị
ứng thức ăn, dị ứng thời tiết, phấn hoa, …),
43.6% trẻ có tiền sử viêm mũi dị ứng, tương
ứng với ti lệ trong những nghiên cứu ban đầu.
Tỷ lệ nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
trong nghiên cứu của Diệp Thắng và cộng sự
[7], tỷ lệ trẻ có tiền sử dị ứng là 21,43% và tiền
sử viêm mũi dị ứng là 39,29%. Có sự khác nhau
này có thể do điều kiện khí hậu, môi trường, thời
IV. BÀN LUẬN
4.1. Về đặc điểm đối tượng nghiên cứu
4.1.2. Đặc điểm chung của trẻ được
chẩn đoán HPQ. Trong nghiên cứu của chúng
tôi, nhóm trẻ được chẩn đoán HPQ có tuổi trung
bình là 6,42 ± 1,96, tỷ lệ nam/nữ là 2/1. Theo
nghiên cứu của Bong Seok Choi tiến hành nghiên
cứu trên 118 trẻ HPQ trong độ tuổi từ 6 – 15
tuổi tại Hàn Quốc với độ tuổi trung bình là 8,4
tuổi; tỷ lệ nam/nữ là 1,79:1 [6]. Do khác nhau
về độ tuổi đối tượng nghiên cứu nên cũng có sự
chênh lệch về các chỉ số nhân trắc học của đối
tiết miền Bắc đa dạng, phức tạp hơn ở miền
tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu của chúng
Nam; miền Bắc có bốn mùa, thời gian giao thoa
tôi, chỉ số chiều cao và cân nặng trung bình của
nhóm được chẩn đoán HPQ là 118,13 ± 13 cm
và 22,24 ± 6,87 kg. Nhóm trẻ này có độ tuổi
trung bình là 6,42 ± 1,96, cao hơn nhóm trẻ
giữa các mùa rất nhạy cảm, dễ tác động đến
những cơ địa dị ứng. Tầm quan trọng của dị ứng
như một nguyên nhân của HPQ đã được nhấn
mạnh và được coi như một trong các yếu tố
HPQ trong nghiên cứu của Diệp Thắng và cộng
nguy cơ rất quan trọng cần thiết bộc lộ HPQ [8].
sự có tuổi trung bình là 3,82 ± 0,74 tuổi với
Viêm mũi dị ứng thường xuất hiện trước HPQ, và
224
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021
cũng là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện và tăng quả nghiên cứu của chúng tôi, sự chênh lệch
nặng thêm bệnh hen. Vì vậy, theo khuyến cáo giữa chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 và theo
của ARIA 2008, người bệnh viêm mũi dị ứng nên gợi ý của test HPPQ trong IOS là rất nhỏ. Chẩn
được xác định có bị hen phế quản hay không, và đoán theo GINA/QĐ4888 thì có 75% số trẻ đến
trong kế hoạch hành động phải điều trị đồng khám bị HPQ; còn chẩn đoán theo gợi ý của test
thời cả hai bệnh. Trẻ HPQ thường có tiền sử mắc HPPP trong IOS thì có 72,1% số trẻ đến khám bị
các bệnh dị ứng như viêm da cơ địa, viêm mũi dị HPQ. Có mối liên quan với nhau giữa chẩn đoán
ứng, dị ứng thức ăn…
HPQ theo GINA/QĐ4888 và gợi ý chẩn đoán HPQ
[8], sau khi đồng nhất từ 33 nghiên cứu ở tất cả chỉ số Kappa là 0,432, kết quả nghiên cứu cho
các khu vực địa lý trên thế giới để xem xét. 33 thấy có sự phù hợp ở mức độ trung bình giữa
nghiên cứu này có sự khác nhau trong định chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 và theo gợi
nghĩa về tiền sử gia đình và kiểu hình HPQ ý của kết quả test HPPQ trong IOS.
dương tính, sử dụng các quần thể nghiên cứu có
Năm 2007, Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) cùng
tỷ lệ lưu hành bệnh HPQ từ 2 - 26%. Tuy nhiên, Hội Hô hấp Châu Âu (ERS) đã đồng thuận đưa
tiền sử gia đình mắc bệnh HPQ ở một hoặc IOS vào tài liệu hướng dẫn thăm dò chức năng
nhiều người thân ruột thịt luôn được xác định là hô hấp ở trẻ mẫu giáo[3]. Với phương pháp này
một yếu tố nguy cơ của bệnh HPQ. Trong nhóm sẽ giúp cải thiện đáng kể trong việc chẩn đoán
đối tượng nghiên cứu của chúng tôi, trong số 78 tắc nghẽn đường dẫn khí, theo dõi điều trị và
trẻ được chẩn đoán HPQ thì có 29,5% trẻ có diễn tiến bệnh. Trong nghiên cứu của Diệp
người thân trong gia đình có cơ địa dị ứng và Thắng và cộng sự[7] trên 100 trẻ 3 – 5 tuổi có
218% trẻ có người thân bị HPQ. Tỷ lệ tương ứng triệu chứng nghi ngờ HPQ đến khám cũng đã
là 38,1% và 33,33% theo Diệp Thắng và cộng đánh giá sự phù hợp giữa chẩn đoán HPQ theo
sự[7], cao hơn so với kết quả trong nghiên cứu GINA và gợi ý chẩn đoán HPQ dựa vào kết quả
của chúng tôi.
IOS có thử thuốc giãn phế quản. Nghiên cứu này
4.1.2. Đặc điểm lâm sàng của trẻ được cho thấy có sự phù hợp ở mức độ trung bình
chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888. Về đặc giữa hai phép chẩn đoán với chỉ số Kappa = 0,52
điểm lâm sàng của nhóm trẻ được chẩn đoán (p < 0.01). Chỉ số đồng thuận này đạt được cao
HPQ trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% hơn so với trong nghiên cứu của chúng tôi. Có
nhóm trẻ nhỏ < 5 tuổi đều có triệu chứng của sự chênh lệch trên có thể do nhóm đối tượng
khò khè và ho tái diễn nhiều lần, trong đó đã có của 2 nghiên cứu có độ tuổi khác nhau, trong
70,6% trẻ đã được loại trừ các nguyên nhân gây nghiên cứu của chúng tôi độ tuổi của nhóm đối
khó thở khác. Ngoài ra, nhóm trẻ < 5 tuổi cũng tượng là từ 3–10 tuổi, trải rộng hơn so với
có tiền sử dị ứng, có yếu tố khởi phát triệu nghiên cứu của Diệp Thắng và cộng sự, 3-5 tuổi.
chứng hen lên tới 64,7%, có sự khác biệt có ý
4.3. Các thông số IOS trong chẩn đoán
nghĩa thống kê so với nhóm không được chẩn HPQ ở trẻ em. Kết quả tại bảng 3.3 cho thấy
đoán HPQ. Trong nhóm trẻ lớn (≥ 5 tuổi) được giá trị trung bình của các chỉ số IOS trước, sau
chẩn đoán HPQ, ho là triệu chứng hay gặp nhất và sự thay đổi các giá trị này sau khi thực hiện
với 90,2%, tiếp sau đến khò khè, khó thở, tức test HPPQ theo nhóm HPQ và nhóm HPQ. Chỉ có
nặng ngực tương ứng là 67,2%, 59%, 37,7%. sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về trung
Các triệu chứng này đều tái diễn nhiều lần bình của các chỉ số R5Pre, %ChangeR5 và AXPre
(86,9%), có sự khác biệt so với nhóm không là có ý nghĩa thống kê. Giá trị trung bình các chỉ
HPQ. Trong nghiên cứu này cho thấy, tỷ lệ trẻ số khác (R5Post, R20Pre, R20Post, %ChangeR20,
đến khám có phát hiện được triệu chứng thực AXPost, %ChangeFres) không có sự khác biệt
thể như ran rít, ran ngáy là khá thấp, chiếm giữa 2 nhóm.
41,2% ở nhóm trẻ nhỏ và chỉ có 4,7% ở nhóm
Nghiên cứu của Song T.W và cộng sự (2008)
trẻ lớn. Có sự khác biệt trên có thể do chênh [5] với trẻ có độ tuổi 3 – 6 thì ghi nhận giá trị
lệch về số lượng trẻ trong 2 độ tuổi, ngoài ra có R10 trước test HPPQ và mức độ thay đổi của các
thể bị ảnh hưởng bởi thái độ, mức độ lo lắng của giá trị R5-35 sau test HPPQ có sự khác biệt có ý
bố mẹ với triệu chứng của trẻ nhỏ sẽ cao hơn, nghĩa giữa nhóm HPQ và không HPQ; AUC của
đưa trẻ đến khám sớm hơn so với nhóm trẻ lớn.
%ChangeR5 là 0,663 (p = 0,002) và %ChangeR10
4.2. Mối liên quan giữa chẩn đoán HPQ là 0,609 (p = 0,040), có ý nghĩa trong chẩn đoán
theo GINA/QĐ4888 với gợi ý chẩn đoán HPQ. So với nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số
theo kết quả test HHPQ trong IOS. Theo kết R5Pre có AUC = 0,66 (p = 0,015), AXPre có AUC
225
vietnam medical journal n01 - june - 2021
= 0,67 (p = 0,009) và %ChangeR5 có AUC = 0,000) có giá trị trong gợi ý chẩn đoán HPQ ở
0,783 (p = 0,000), %ChangeFres có AUC = mức độ trung bình với điểm cắt lần lượt là 0,88
0,785 (p = 0,000). Như vậy, chúng tôi thu được kPa/L/s; 3,38 kPa/L; 18% và 15,5%.
kết quả các chỉ số IOS là R5Pre, %ChangeR5,
TÀI LIỆU THAM KHẢO
AXPre, %ChangeFres có giá trị trong gợi ý chẩn
1. Bộ Y tế (2016), Quyết định số 4888/QĐ-BYT
đoán HPQ ở mức độ trung bình với điểm cắt lần
“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen trẻ em dưới
5 tuổi".
lượt là 0,88 kPa/L/s; 18%; 3,38 kPa/L và 15,5%.
Có những sự khác biệt giữa các nghiên cứu
trên có thể do nhóm đối tượng của từng nghiên
cứu có độ tuổi, chủng tộc, môi trường sống khác
nhau; bên cạnh đó, các giá trị tham chiếu sử
dụng làm chuẩn trong IOS chưa có giá trị riêng
cho con người Việt Nam, dẫn đến những khác biệt.
2. Marotta A., Klinnert M.D., Price M.R. et al
(2003), "Impulse oscillometry provides an
effective measure of lung dysfunction in 4-year-old
children at risk for persistent asthma", J Allergy
Clin Immunol, 112(2), 317–322.
3. Beydon N., Davis S.D. and Lombardi
E
(2007), "An Official American Thoracic
Society/European Respiratory Society Statement:
Pulmonary Function Testing in Preschool Children",
Am J Respir Crit Care Med, 175(12), 1304–1345.
4. Oliveira Jorge P.P., de Lima J.H.P. and Chong
E Silva D.C (2019), "Impulse oscillometry in the
assessment of children’s lung function", Allergol
Immunopathol, 47(3), 295–302.
V. KẾT LUẬN
HPQ là bệnh lý hô hấp mạn tính thường gặp
ở trẻ em. Tỷ lệ HPQ ở trẻ em nam cao hơn trẻ
em nữ. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở
trẻ HPQ là ho, khò khè, khó thở, tức nặng ngực,
các triệu chứng tái diễn nhiều lần, có yếu tố khởi
phát và thường ít phát hiện triệu chứng thực thể
khi khám lâm sàng. Có sự phù hợp ở mức độ
trung bình giữa chẩn đoán HPQ theo GINA và
quyết định 4888 của Bộ Y tế (QĐ4888) với gợi ý
chẩn đoán dựa vào nghiệm pháp hồi phục phế
quản (test HPPQ) trong IOS (kappa = 0.432).
Giá trị R5, AX trước nghiệm pháp HPPQ, sự thay
đổi R5, Fres sau test HPPQ là các chỉ số có giá trị
gợi ý chẩn đoán HPQ ở trẻ em. R5Pre có AUC =
0,66 (p = 0,015), AXPre có AUC = 0,67 (p =
0,009) và %ChangeR5 có AUC = 0,783 (p =
0,000), %ChangeFres có AUC = 0,785 (p =
5. Song T.W., Kim K.W. and Kim E.S. et al
(2008), "Utility of impulse oscillometry in young
children with asthma", Pediatr Allergy Immunol,
19(8), 763–768.
6. Choi B.S., Kim K.W. and Lee Y.J. et al (2011),
"Exhaled Nitric Oxide is Associated with Allergic
Inflammation in Children", J Korean Med Sci,
26(10),1265–1269.
7. Diệp Thắng, Đặng Huỳnh Anh Thư và Nguyễn
Phúc Hậu (2013), "Giá trị dao động xung ký
trong chẩn đoán hen phế quản", Y Học TP Hồ Chí
Minh, 17(1), 256-259.
8. Burke W., Fesinmeyer M. and Reed K (2003),
"Family history as a predictor of asthma risk", Am J
Prev Med, 24(2),160–169.
THỰC TRẠNG SÂU CHÂN RĂNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI
BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2020 - 2021
Hà Lan Hương*, Trần Cao Bính**
trên 60 tuổi đến khám tại khoa và đồng ý tham gia
TÓM TẮT53
vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ là những bệnh
Mục tiêu: Mô tả thực trạng sâu chân răng ở người
nhân mắc bệnh toàn thân và tại chỗ cấp tính, mất
cao tuổi tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà
răng toàn bộ và không đủ khả năng trả lời phỏng vấn.
Nội năm 2020 - 2021. Đối tượng và phương pháp
Kết quả: có 192 bệnh nhân người cao tuổi (87 nam,
nghiên cứu: mô tả cắt ngang 192 bệnh nhân người
105 nữ) đã được khám và đánh giá tình trạng sâu
cao tuổi đến khám tại Khoa Điều trị răng miệng người
chân răng. Số bệnh nhân có ít nhất một tổn thương
cao tuổi. Tiêu chuẩn lựa chọn là những bệnh nhân
sâu chân răng là 51 (26,6%), trong đó có số bệnh
nhân nam là 21(41,2%), số bệnh nhân nữ là 30 (
58,8%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
*Bệnh viện E Hà Nội
(p= 0,155 > 0,05). Tỉ lệ răng tụt lợi là 75%. Chỉ số
**Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW HN; Viện đào tạo
RCI là 1,3 trong đó nhìn chung chỉ số RCI của các
Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội
răng thuộc cung răng hàm dưới cao hơn các răng
Chịu trách nhiệm chính: Hà Lan Hương
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 15.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 7.5.2021
Ngày duyệt bài: 13.5.2021
thuộc cung răng hàm trên. Tổn thương sâu chân răng
hay gặp nhất ở nhóm răng cửa và răng hàm lớn hàm
dưới. Về sự phân bố tổn thương sâu chân theo các
mặt cho thấy hay gặp nhất ở mặt bên và ít gặp nhất ở
mặt trong chân răng. Kết luận: Tỉ lệ sâu chân răng
226
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị dao động xung ký trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
gia_tri_dao_dong_xung_ky_trong_chan_doan_hen_phe_quan_o_tre.pdf

