Giá trị dao động xung ký trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
viện đa số bệnh nhân ổn định (95,9%); sống  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
thực vật 0,9%; tỉ lệ tử vong là 0,2%. Chúng tôi  
nhận thấy việc lựa chọn điều trị hồi sức tích cực,  
nội khoa hay phẫu thuật phụ thuộc vào tình  
trạng lâm sàng bệnh nhân, đặc điểm tùy loại tổn  
thương trên chụp cắt lớp vi tính sọ não.  
1. Đồng Văn Hệ, Trần Trường Giang (2005). Đặc  
điểm dịch tễ học chấn thương sọ não tại Bệnh viện  
Việt Đức, Tạp chí nghiên cứu Y học, 39(6).  
2. Trương Văn Việt (2002), "Các yếu tố nguy cơ  
gây chấn thương sọ não tại thành phố Hồ Chí  
Minh", Tạp chí nghiên cứu Y học TP Hồ Chí Minh,  
6(2), tr. 14-20.  
V. KẾT LUẬN  
3. Lê Tấn Nẫm, Nguyễn Minh Tâm (2012),  
“Nguyên nhân, phân loại và kết quả chấn thương  
sọ não tại bệnh viện An Giang”, Kỷ yếu Hội nghị  
khoa học 10/2012. Bệnh viện An Giang.  
Nguyên nhân chấn thương sọ não do tai nạn  
giao thông vẫn cao nhất; thường gặp ở nam giới  
và độ tuổi lao động. Tỉ lệ điều trị nội khoa chiếm  
đa số, phẫu thuật chỉ chiếm (9,5%).  
GIÁ TRỊ DAO ĐỘNG XUNG KÝ  
TRONG CHẨN ĐOÁN HEN PHẾ QUẢN Ở TRẺ EM  
Bùi Mỹ Hạnh1,2, Nguyễn Diệu Linh1  
Backgrounds: Pediatric asthma, especially  
children <5 years old, is often difficult to diagnose,  
leading to a lack of prompt treatment and control.  
Impulse Oscillometry (IOS) is a method that can  
evaluate airway obstruction and recommend an early  
diagnosis. Objective: To determine the value of IOS  
in the diagnosis of asthma in children. Subjects and  
methods: A descriptive cross-sectional study was  
conducted on 104 children under 10 years old with  
suspected asthma symptoms who visited in the  
National Lung Hospital from January 2020 to August  
2020. Results: There were 78 children diagnosed  
with asthma, the male/female (M/F) ratio was 2/1 (p  
= 0.003). There was a consistency between the  
diagnosis of asthma according to GINA and Decision  
No. 4888/QD-BYT by the Ministry of Health with the  
diagnosis recommendation based on bronchodilator  
therapy in IOS (kappa coefficient = 0.432). Value of  
R5, AX before bronchodilator test with AUC = 0,66 (p  
= 0,015), AUC = 0,67 (p = 0,009); And Value R5  
change, Fres after test AUC = 0,783 (p = 0,000),  
%ChangeFres có AUC = 0,785 (p = 0,000) are mild  
valuable indicators for the diagnosis of asthma in  
children with cut-off was 0,88 kPa/L/s; 3,38 kPa/L,  
18% and 15,5%.  
TÓM TẮT52  
Mở đầu: Hen trẻ em, đặc biệt trẻ em < 5 tuổi  
thường khó chẩn đoán, dẫn đến không được điều trị  
và kiểm soát kịp thời. Dao động xung ký (IOS) là  
phương pháp có thể đánh giá tắc nghẽn đường thở ở  
trẻ, gợi ý chẩn đoán HPQ sớm ở trẻ em. Mục tiêu:  
Nghiên cứu nhằm xác định giá trị của IOS trong chẩn  
đoán HPQ ở trẻ em. Đối tượng và phương pháp  
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 104  
trẻ em dưới 10 tuổi có triệu chứng nghi ngờ HPQ đến  
khám tại Bệnh viện Phổi Trung Ương từ tháng  
01/2020 đến tháng 8/2020. Kết quả: Nghiên cứu có  
78 trẻ được chẩn đoán HPQ, tỷ lệ nam/nữ 2/1 (p =  
0,003). Có sự phù hợp mức độ trung bình giữa chẩn  
đoán HPQ theo GINA và quyết định 4888 của Bộ Y tế  
(QĐ4888) với gợi ý chẩn đoán dựa vào nghiệm pháp  
hồi phục phế quản (test HPPQ) trong IOS (kappa =  
0.432). Giá trị R5, AX trước nghiệm pháp HPPQ, sự  
thay đổi R5, Fres sau test HPPQ là các chỉ số có giá trị  
gợi ý chẩn đoán HPQ ở trẻ em. R5Pre có AUC = 0,66  
(p = 0,015), AXPre có AUC = 0,67 (p = 0,009) và  
%ChangeR5 có AUC =0,783 (p=0,000), %ChangeFres  
có AUC = 0,785 (p = 0,000) có giá trị trong gợi ý chẩn  
đoán HPQ ở mức độ trung bình với điểm cắt lần lượt  
là 0,88 kPa/L/s; 3,38 kPa/L; 18% và 15,5%.  
Keywords: Asthma, pediatric asthma, impulse  
oscillometry.  
Từ khóa: Hen phế quản, hen trẻ em, dao động  
xung ký.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
SUMMARY  
THE VALUE OF IMPULSE OSCILLOMETRY  
IN THE DIAGNOSIS OF ASTHMA IN  
CHILDREN AT LUNG HOSPITAL NATIONAL  
HPQ là bệnh lý mạn tính đường hô hấp  
thường gặp, chiếm 1 - 18% dân số các nước. Tỷ  
lệ mắc bệnh trung bình là 5% ở người lớn và  
10% ở trẻ em [1]. Đây là bệnh mạn tính phổ  
biến nhất ở trẻ em. Ở Việt Nam chưa có thống  
kê chính xác, các công trình nghiên cứu ở các  
vùng và địa phương cho thấy hen trẻ em có tỷ lệ  
mắc khoảng 4 - 8%. Những năm gần đây hen  
trẻ em có xu hướng tăng lên, cứ 20 năm tỷ lệ  
hen trẻ em tăng lên 2-3 lần,[2]. Hô hấp ký là xét  
nghiệm thăm dò chức năng hô hấp được sử  
1Trường Đại học Y Hà Nội  
2Bệnh viện Đại học Y Hà Nội  
Chịu trách nhiệm chính: Bùi Mỹ Hạnh  
Ngày nhận bài: 17.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 11.5.2021  
Ngày duyệt bài: 20.5.2021  
221  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
dụng phổ biến nhất ở người lớn và trẻ lớn. HPQ trong 12 tháng qua.  
Phương pháp này đòi hỏi cần có sự hợp tác tích  
cực từ phía người bệnh khi tiến hành đo, rất khó  
thực hiện ở trẻ nhỏ, khả năng hiểu và hợp tác  
của trẻ chưa tốt, do đó sẽ dẫn tới sai sót trong  
kết quả đo. Dao động xung ký (IOS) là một kỹ  
thuật không xâm lấn, có thể đánh giá về mặt cơ  
học của đường thở, phương pháp này đo trực  
tiếp kháng lực (R) và phản lực (X) đường dẫn khí  
ở nhiều tần số dao động khác nhau [3]. Xét  
nghiệm này dễ thực hiện, nhanh chóng, đòi hỏi  
rất ít sự hợp tác vì người bệnh chỉ cần hít thở  
bình thường, có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi,  
đặc biệt có thể thực hiện với trẻ nhỏ từ 2 tuổi trở  
lên [4]. Phương pháp mới này hữu ích, thuận  
tiện để đánh giá tắc nghẽn đường dẫn khí ở trẻ  
em, đặc biệt là trẻ nhỏ phối hợp kém, giúp ích  
rất nhiều cho việc chẩn đoán sớm, điều trị và  
kiểm soát hen phế quản ở trẻ em [5]. Tại Việt  
Nam, phương pháp này chưa được ứng dụng  
phổ biến, chưa có nhiều nghiên cứu về vai trò  
của IOS trong chẩn đoán và đánh giá mức độ  
đáp ứng điều trị hen phế quản ở trẻ em. Do đó,  
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Giá trị dao động  
xung ký trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em  
tại Bệnh viện Phổi Trung Ương” với mục tiêu:  
Xác định giá trị của dao động xung ký (IOS)  
trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em.  
- Không có các bệnh lý hô hấp mạn tính khác.  
- Người giám hộ trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu.  
• Tiêu chuẩn loại trừ  
- Trẻ không hợp tác đo IOS.  
- Trẻ có có tình trạng bệnh lý mạn tính nặng  
khác kèm theo: Tim bẩm sinh, bệnh thần kinh  
cơ, bại não, …  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
a. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả  
cắt ngang.  
b. Chọn mẫu: Sử dụng chọn mẫu thuận tiện  
tất cả BN thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại  
trừ. n=78  
c. Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu  
- Dùng bộ câu hỏi trực tiếp khai thác tiền sử,  
bệnh sử của trẻ từ trẻ và gia đình; thăm khám  
đánh giá lâm sàng; chẩn đoán hen phế quản và  
đánh giá mức độ kiểm soát hen cho trẻ theo  
GINA 2019, theo bộ câu hỏi ACT.  
- Tiến hành đo IOS, làm test HPPQ cho trẻ,  
đọc và phân tích kết quả.  
- Thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu.  
2.3. Phương pháp thống kê và xử lý số  
liệu: Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm  
SPSS 20. So sánh các trung bình, tỷ lệ, so sánh 2  
tỷ lệ bằng kiểm định Khi bình phương, Fisher’s  
Exact Test, Phi and Cramer’s, ANOVA (p < 0.05  
được coi là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê).  
Chỉ số Kappa cho biết mức độ đồng thuận giữa 2  
phương pháp chẩn đoán bệnh. Giá trị dự đoán  
của các chỉ số IOS được thể hiện dưới dạng  
đường cong ROC, AUC.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu. Trẻ em dưới  
10 tuổi có triệu chứng nghi ngờ HPQ đến khám  
tại Bệnh viện Phổi Trung Ương từ tháng 01/2020  
đến tháng 8/2020.  
• Tiêu chuẩn chọn người bệnh  
- Trẻ em dưới 10 tuổi, chưa từng được chẩn  
đoán và điều trị HPQ, có triệu chứng nghi ngờ  
2.4. Đạo đức nghiên cứu. Tất cả thông tin  
của người bệnh được giữ bí mật, chỉ nhằm mục  
đích nghiên cứu  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
3.1.1. Đặc điểm chung của trẻ được chẩn đoán HPQ  
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo nhóm chẩn đoán HPQ  
Đặc điểm  
Nam  
HPQ (n=78)  
52 (66,7%)  
26 (33,3%)  
6,4 ±1,94  
6,46 ± 2,04  
6,42 ± 1,96  
118,83 ± 13,18  
116,73 ± 12,76  
118,13 ± 13  
22,71 ± 7,05  
21,3 ± 6,53  
22,24 ± 6,87  
26 (33,3%)  
Không HPQ (n=26)  
16  
p
Giới  
0,634  
Nữ  
Nam  
Nữ  
10  
7,13 ± 1,63  
6,6 ± 2,76  
Tuổi  
(năm)  
0,272  
0,55  
Chung  
Nam  
Nữ  
Chung  
Nam  
Nữ  
6,92 ± 2,10  
121,38 ± 9,45  
117,6 ± 19,31  
119,92 ± 13,83  
24,46 ± 6,93  
24,5 ± 12,08  
24,47 ± 9,022  
6 (23,1%)  
Chiều cao  
(cm)  
Cân nặng  
0,19  
(kg)  
Chung  
Có tiền sử dị ứng  
Tiền sử  
0,326  
222  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
bản thân  
Mề đay  
Viêm mũi dị ứng  
Viêm phế quản nhiều đợt  
Gia đình có người bị HPQ  
Gia đình có người bị dị ứng khác  
13 (16,7%)  
34 (43,6%)  
47 (60,3%)  
17 (21,8%)  
23 (29,5%)  
4 (15,4%)  
11 (42,3%)  
15 (57,7%)  
3 (11,5%)  
5 (19,2%)  
0,878  
0,909  
0,817  
0,25  
Tiền sử  
gia đình  
0,307  
Nhận xét: Tỷ lệ HPQ ở trẻ em nam cao gấp 2 lần trẻ em nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống  
kê với p = 0,003. Không có sự khác biệt về giới, tuổi, cân nặng, chiều cao, tiền sử bản thân, tiền sử  
gia đình giữa nhóm người bệnh được chẩn đoán có hen phế quản và không hen phế quản (p>0,05).  
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng của trẻ được chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888  
Biểu đồ 3.1: Đặc điểm lâm sàng trẻ ≥ 5 tuổi theo chẩn đoán HPQ  
Nhận xét: Có 17 trong số 22 trẻ em < 5 tuổi được chẩn đoán HPQ theo QĐ 4888, tương đương  
77,27%. 100% đều có triệu chứng khò khè ± ho tái diễn và 70,6% đã được loại trừ các nguyên nhân  
gây khó thở khác. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tiền sử có dị ứng, có yếu tố khởi phát triệu  
chứng giữa nhóm được chẩn đoán HPQ và nhóm không được chẩn đoán HPQ với p < 0,05. Sự khác  
biệt các triệu chứng còn lại chưa đạt mức ý nghĩa.  
3.2. Mối liên quan giữa chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 với kết quả IOS  
Bảng 3.2: Sự phù hợp giữa chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 và theo gợi ý chẩn  
đoán dựa vào kết quả test HPPQ trong IOS (n = 104)  
Chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888  
Không  
16  
10  
26  
Có  
13  
65  
78  
Tổng  
29  
75  
Không  
Có  
Tổng  
Gợi ý chẩn đoán  
HPQ theo test  
HPPQ của IOS  
K = 0,432  
(p = 0,000)  
104  
Nhận xét: Hệ số Kappa = 0,432 (p = 0,000), có sự phù hợp ở mức độ trung bình của chẩn đoán  
HPQ theo GINA/QĐ4888 với kết quả test HPPQ trong IOS.  
3.3. Các giá trị IOS trong chẩn đoán HPQ  
Bảng 3.3: Kết quả đo IOS theo phân nhóm chẩn đoán HPQ trước và sau test HPPQ  
Các chỉ số IOS  
HPQ (n=78)  
0,96 ± 0,3  
Không HPQ (n=26)  
0,8 ± 0,22  
p
Pre  
0,014  
0,249  
0,000  
0,083  
0,104  
0,881  
0,022  
0,142  
0,092  
0,272  
R5  
Post  
%Change  
Pre  
0,72 ± 0,24  
25,29 ± 9,57  
0,52 ± 0,12  
0,48 ± 0,12  
-6,04 ± 13,12  
3,64 ± 1,52  
2,44 ± 1,33  
-35,59 ± 18,88  
36,08 ± 115,65  
0,66 ± 0,16  
(kPa/L/s)  
16,5 ± 10,17  
0,47 ± 0,11  
0,44 ± 0,1  
-6,48 ± 11,87  
2,86 ±1,31  
2,03 ± 0,94  
R20  
(kPa/L/s)  
Post  
%Change  
Pre  
Post  
%Change  
AX  
(kPa/L)  
-27,23 ± 28,38  
10,4 ± 11,82  
%Change của Fres  
Nhận xét: Sự khác biệt về giá trị trung bình của R5Pre, %ChangeR5, AXPre giữa nhóm HPQ và  
không HPQ có ý nghĩa thống kê (p < 0.05). Không có sự khác biệt về R5Post, R20Pre, R20Post,  
%ChangeR20, AXPost, %ChangeFres giữa nhóm được chẩn đoán HPQ và nhóm không được chẩn  
223  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
đoán HPQ (p > 0,05).  
a
b
c
Biểu đồ 3.2: Đường cong ROC giá trị IOS trước test HPPQ (a), sau test HPPQ  
(b), sự thay đổi các giá trị IOS sau test HPPQ (c) trong chẩn đoán HPQ  
0,506 (p = 0,934). %ChangeAX có AUC = 0,403  
(p = 0,148), %ChangeFres có AUC = 0,785 (p =  
0,000).  
Ta thấy giá trị R5, AX trước test HPPQ, sự  
thay đổi giá trị R5 và Fres sau test HPPQ  
(%ChangeR5, %ChangeFres) có khả năng để gợi  
ý chẩn đoán HPQ.  
Với các giá trị IOS có AUC > 0,6, ta xác định  
được điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu của từng  
chỉ số trong chẩn đoán HPQ như sau:  
Nhận xét:  
▪ Trước test HPPQ, R5Pre có AUC = 0,66 (p =  
0,015), R20Pre có AUC = 0,62 (p = 0,068),  
AXPre có AUC = 0,67 (p = 0,009), R5Pre-R20Pre  
có AUC = 0,62 (p = 0,069).  
▪ Sau test HPPQ, R5Post có AUC = 0,55 (p =  
0,405), R20Post có AUC = 0,6 (p = 0,132),  
AXPost có AUC = 0,58 (p = 0,239).  
▪ Sau test HPPQ, %ChangeR5 có AUC =  
0,783 (p = 0,000), %ChangeR20 có AUC =  
Bảng 3.4: Điểm cắt các giá trị IOS trong gợi ý chẩn đoán HPQ (n=78)  
Chỉ số IOS  
R5Pre  
%ChangeR5  
AXPre  
Điểm cắt  
0,88  
Độ nhạy  
0,592  
0,842  
0,57  
Độ đặc hiệu  
0,692  
AUC  
0,66  
0,783  
0,65  
0,785  
18  
3,38  
15,5  
0,72  
0,77  
0,84  
%ChangeFres  
0,645  
Nhận xét: Các chỉ số IOS là R5Pre, AXPre, %ChangeR5, %ChangeFres có giá trị trong gợi ý chẩn  
đoán HPQ ở mức độ trung bình với điểm cắt lần lượt là 0,88 kPa/L/s, 3,38 kPa/L, 18% và 15,5%.  
chiều cao và cân nặng trung bình là 101,15 ±  
8,19 cm và 17,43 ± 3,79 kg[7].  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong số 78  
trẻ bị HPQ, có 33.3% trẻ có tiền sử dị ứng (dị  
ứng thức ăn, dị ứng thời tiết, phấn hoa, …),  
43.6% trẻ có tiền sử viêm mũi dị ứng, tương  
ứng với ti lệ trong những nghiên cứu ban đầu.  
Tỷ lệ nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với  
trong nghiên cứu của Diệp Thắng và cộng sự  
[7], tỷ lệ trẻ có tiền sử dị ứng là 21,43% và tiền  
sử viêm mũi dị ứng là 39,29%. Có sự khác nhau  
này có thể do điều kiện khí hậu, môi trường, thời  
IV. BÀN LUẬN  
4.1. Về đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
4.1.2. Đặc điểm chung của trẻ được  
chẩn đoán HPQ. Trong nghiên cứu của chúng  
tôi, nhóm trẻ được chẩn đoán HPQ có tuổi trung  
bình là 6,42 ± 1,96, tỷ lệ nam/nữ là 2/1. Theo  
nghiên cứu của Bong Seok Choi tiến hành nghiên  
cứu trên 118 trẻ HPQ trong độ tuổi từ 6 – 15  
tuổi tại Hàn Quốc với độ tuổi trung bình là 8,4  
tuổi; tỷ lệ nam/nữ là 1,79:1 [6]. Do khác nhau  
về độ tuổi đối tượng nghiên cứu nên cũng có sự  
chênh lệch về các chỉ số nhân trắc học của đối  
tiết miền Bắc đa dạng, phức tạp hơn ở miền  
tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu của chúng  
Nam; miền Bắc có bốn mùa, thời gian giao thoa  
tôi, chỉ số chiều cao và cân nặng trung bình của  
nhóm được chẩn đoán HPQ là 118,13 ± 13 cm  
và 22,24 ± 6,87 kg. Nhóm trẻ này có độ tuổi  
trung bình là 6,42 ± 1,96, cao hơn nhóm trẻ  
giữa các mùa rất nhạy cảm, dễ tác động đến  
những cơ địa dị ứng. Tầm quan trọng của dị ứng  
như một nguyên nhân của HPQ đã được nhấn  
mạnh và được coi như một trong các yếu tố  
HPQ trong nghiên cứu của Diệp Thắng và cộng  
nguy cơ rất quan trọng cần thiết bộc lộ HPQ [8].  
sự có tuổi trung bình là 3,82 ± 0,74 tuổi với  
Viêm mũi dị ứng thường xuất hiện trước HPQ, và  
224  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
cũng là yếu tố nguy cơ làm xuất hiện và tăng quả nghiên cứu của chúng tôi, sự chênh lệch  
nặng thêm bệnh hen. Vì vậy, theo khuyến cáo giữa chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 và theo  
của ARIA 2008, người bệnh viêm mũi dị ứng nên gợi ý của test HPPQ trong IOS là rất nhỏ. Chẩn  
được xác định có bị hen phế quản hay không, và đoán theo GINA/QĐ4888 thì có 75% số trẻ đến  
trong kế hoạch hành động phải điều trị đồng khám bị HPQ; còn chẩn đoán theo gợi ý của test  
thời cả hai bệnh. Trẻ HPQ thường có tiền sử mắc HPPP trong IOS thì có 72,1% số trẻ đến khám bị  
các bệnh dị ứng như viêm da cơ địa, viêm mũi dị HPQ. Có mối liên quan với nhau giữa chẩn đoán  
ứng, dị ứng thức ăn…  
HPQ theo GINA/QĐ4888 và gợi ý chẩn đoán HPQ  
Trong một nghiên cứu khác của Wylie Burke của test HPPQ trong IOS (p = 0,000 < 0,01). Với  
[8], sau khi đồng nhất từ 33 nghiên cứu ở tất cả chỉ số Kappa là 0,432, kết quả nghiên cứu cho  
các khu vực địa lý trên thế giới để xem xét. 33 thấy có sự phù hợp ở mức độ trung bình giữa  
nghiên cứu này có sự khác nhau trong định chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888 và theo gợi  
nghĩa về tiền sử gia đình và kiểu hình HPQ ý của kết quả test HPPQ trong IOS.  
dương tính, sử dụng các quần thể nghiên cứu có  
Năm 2007, Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) cùng  
tỷ lệ lưu hành bệnh HPQ từ 2 - 26%. Tuy nhiên, Hội Hô hấp Châu Âu (ERS) đã đồng thuận đưa  
tiền sử gia đình mắc bệnh HPQ ở một hoặc IOS vào tài liệu hướng dẫn thăm dò chức năng  
nhiều người thân ruột thịt luôn được xác định là hô hấp ở trẻ mẫu giáo[3]. Với phương pháp này  
một yếu tố nguy cơ của bệnh HPQ. Trong nhóm sẽ giúp cải thiện đáng kể trong việc chẩn đoán  
đối tượng nghiên cứu của chúng tôi, trong số 78 tắc nghẽn đường dẫn khí, theo dõi điều trị và  
trẻ được chẩn đoán HPQ thì có 29,5% trẻ có diễn tiến bệnh. Trong nghiên cứu của Diệp  
người thân trong gia đình có cơ địa dị ứng và Thắng và cộng sự[7] trên 100 trẻ 3 – 5 tuổi có  
218% trẻ có người thân bị HPQ. Tỷ lệ tương ứng triệu chứng nghi ngờ HPQ đến khám cũng đã  
là 38,1% và 33,33% theo Diệp Thắng và cộng đánh giá sự phù hợp giữa chẩn đoán HPQ theo  
sự[7], cao hơn so với kết quả trong nghiên cứu GINA và gợi ý chẩn đoán HPQ dựa vào kết quả  
của chúng tôi.  
IOS có thử thuốc giãn phế quản. Nghiên cứu này  
4.1.2. Đặc điểm lâm sàng của trẻ được cho thấy có sự phù hợp ở mức độ trung bình  
chẩn đoán HPQ theo GINA/QĐ4888. Về đặc giữa hai phép chẩn đoán với chỉ số Kappa = 0,52  
điểm lâm sàng của nhóm trẻ được chẩn đoán (p < 0.01). Chỉ số đồng thuận này đạt được cao  
HPQ trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% hơn so với trong nghiên cứu của chúng tôi. Có  
nhóm trẻ nhỏ < 5 tuổi đều có triệu chứng của sự chênh lệch trên có thể do nhóm đối tượng  
khò khè và ho tái diễn nhiều lần, trong đó đã có của 2 nghiên cứu có độ tuổi khác nhau, trong  
70,6% trẻ đã được loại trừ các nguyên nhân gây nghiên cứu của chúng tôi độ tuổi của nhóm đối  
khó thở khác. Ngoài ra, nhóm trẻ < 5 tuổi cũng tượng là từ 3–10 tuổi, trải rộng hơn so với  
có tiền sử dị ứng, có yếu tố khởi phát triệu nghiên cứu của Diệp Thắng và cộng sự, 3-5 tuổi.  
chứng hen lên tới 64,7%, có sự khác biệt có ý  
4.3. Các thông số IOS trong chẩn đoán  
nghĩa thống kê so với nhóm không được chẩn HPQ ở trẻ em. Kết quả tại bảng 3.3 cho thấy  
đoán HPQ. Trong nhóm trẻ lớn (≥ 5 tuổi) được giá trị trung bình của các chỉ số IOS trước, sau  
chẩn đoán HPQ, ho là triệu chứng hay gặp nhất và sự thay đổi các giá trị này sau khi thực hiện  
với 90,2%, tiếp sau đến khò khè, khó thở, tức test HPPQ theo nhóm HPQ và nhóm HPQ. Chỉ có  
nặng ngực tương ứng là 67,2%, 59%, 37,7%. sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về trung  
Các triệu chứng này đều tái diễn nhiều lần bình của các chỉ số R5Pre, %ChangeR5 và AXPre  
(86,9%), có sự khác biệt so với nhóm không là có ý nghĩa thống kê. Giá trị trung bình các chỉ  
HPQ. Trong nghiên cứu này cho thấy, tỷ lệ trẻ số khác (R5Post, R20Pre, R20Post, %ChangeR20,  
đến khám có phát hiện được triệu chứng thực AXPost, %ChangeFres) không có sự khác biệt  
thể như ran rít, ran ngáy là khá thấp, chiếm giữa 2 nhóm.  
41,2% ở nhóm trẻ nhỏ và chỉ có 4,7% ở nhóm  
Nghiên cứu của Song T.W và cộng sự (2008)  
trẻ lớn. Có sự khác biệt trên có thể do chênh [5] với trẻ có độ tuổi 3 – 6 thì ghi nhận giá trị  
lệch về số lượng trẻ trong 2 độ tuổi, ngoài ra có R10 trước test HPPQ và mức độ thay đổi của các  
thể bị ảnh hưởng bởi thái độ, mức độ lo lắng của giá trị R5-35 sau test HPPQ có sự khác biệt có ý  
bố mẹ với triệu chứng của trẻ nhỏ sẽ cao hơn, nghĩa giữa nhóm HPQ và không HPQ; AUC của  
đưa trẻ đến khám sớm hơn so với nhóm trẻ lớn.  
%ChangeR5 là 0,663 (p = 0,002) và %ChangeR10  
4.2. Mối liên quan giữa chẩn đoán HPQ là 0,609 (p = 0,040), có ý nghĩa trong chẩn đoán  
theo GINA/QĐ4888 với gợi ý chẩn đoán HPQ. So với nghiên cứu của chúng tôi, các chỉ số  
theo kết quả test HHPQ trong IOS. Theo kết R5Pre có AUC = 0,66 (p = 0,015), AXPre có AUC  
225  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
= 0,67 (p = 0,009) và %ChangeR5 có AUC = 0,000) có giá trị trong gợi ý chẩn đoán HPQ ở  
0,783 (p = 0,000), %ChangeFres có AUC = mức độ trung bình với điểm cắt lần lượt là 0,88  
0,785 (p = 0,000). Như vậy, chúng tôi thu được kPa/L/s; 3,38 kPa/L; 18% và 15,5%.  
kết quả các chỉ số IOS là R5Pre, %ChangeR5,  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
AXPre, %ChangeFres có giá trị trong gợi ý chẩn  
1. Bộ Y tế (2016), Quyết định số 4888/QĐ-BYT  
đoán HPQ ở mức độ trung bình với điểm cắt lần  
“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen trẻ em dưới  
5 tuổi".  
lượt là 0,88 kPa/L/s; 18%; 3,38 kPa/L và 15,5%.  
Có những sự khác biệt giữa các nghiên cứu  
trên có thể do nhóm đối tượng của từng nghiên  
cứu có độ tuổi, chủng tộc, môi trường sống khác  
nhau; bên cạnh đó, các giá trị tham chiếu sử  
dụng làm chuẩn trong IOS chưa có giá trị riêng  
cho con người Việt Nam, dẫn đến những khác biệt.  
2. Marotta A., Klinnert M.D., Price M.R. et al  
(2003), "Impulse oscillometry provides an  
effective measure of lung dysfunction in 4-year-old  
children at risk for persistent asthma", J Allergy  
Clin Immunol, 112(2), 317–322.  
3. Beydon N., Davis S.D. and Lombardi  
E
(2007), "An Official American Thoracic  
Society/European Respiratory Society Statement:  
Pulmonary Function Testing in Preschool Children",  
Am J Respir Crit Care Med, 175(12), 1304–1345.  
4. Oliveira Jorge P.P., de Lima J.H.P. and Chong  
E Silva D.C (2019), "Impulse oscillometry in the  
assessment of children’s lung function", Allergol  
Immunopathol, 47(3), 295–302.  
V. KẾT LUẬN  
HPQ là bệnh lý hô hấp mạn tính thường gặp  
ở trẻ em. Tỷ lệ HPQ ở trẻ em nam cao hơn trẻ  
em nữ. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở  
trẻ HPQ là ho, khò khè, khó thở, tức nặng ngực,  
các triệu chứng tái diễn nhiều lần, có yếu tố khởi  
phát và thường ít phát hiện triệu chứng thực thể  
khi khám lâm sàng. Có sự phù hợp ở mức độ  
trung bình giữa chẩn đoán HPQ theo GINA và  
quyết định 4888 của Bộ Y tế (QĐ4888) với gợi ý  
chẩn đoán dựa vào nghiệm pháp hồi phục phế  
quản (test HPPQ) trong IOS (kappa = 0.432).  
Giá trị R5, AX trước nghiệm pháp HPPQ, sự thay  
đổi R5, Fres sau test HPPQ là các chỉ số có giá trị  
gợi ý chẩn đoán HPQ ở trẻ em. R5Pre có AUC =  
0,66 (p = 0,015), AXPre có AUC = 0,67 (p =  
0,009) và %ChangeR5 có AUC = 0,783 (p =  
0,000), %ChangeFres có AUC = 0,785 (p =  
5. Song T.W., Kim K.W. and Kim E.S. et al  
(2008), "Utility of impulse oscillometry in young  
children with asthma", Pediatr Allergy Immunol,  
19(8), 763–768.  
6. Choi B.S., Kim K.W. and Lee Y.J. et al (2011),  
"Exhaled Nitric Oxide is Associated with Allergic  
Inflammation in Children", J Korean Med Sci,  
26(10),1265–1269.  
7. Diệp Thắng, Đặng Huỳnh Anh Thư và Nguyễn  
Phúc Hậu (2013), "Giá trị dao động xung ký  
trong chẩn đoán hen phế quản", Y Học TP Hồ Chí  
Minh, 17(1), 256-259.  
8. Burke W., Fesinmeyer M. and Reed K (2003),  
"Family history as a predictor of asthma risk", Am J  
Prev Med, 24(2),160–169.  
THỰC TRẠNG SÂU CHÂN RĂNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI  
BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2020 - 2021  
Hà Lan Hương*, Trần Cao Bính**  
trên 60 tuổi đến khám tại khoa và đồng ý tham gia  
TÓM TẮT53  
vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ là những bệnh  
Mục tiêu: Mô tả thực trạng sâu chân răng ở người  
nhân mắc bệnh toàn thân và tại chỗ cấp tính, mất  
cao tuổi tại bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà  
răng toàn bộ và không đủ khả năng trả lời phỏng vấn.  
Nội năm 2020 - 2021. Đối tượng và phương pháp  
Kết quả: có 192 bệnh nhân người cao tuổi (87 nam,  
nghiên cứu: mô tả cắt ngang 192 bệnh nhân người  
105 nữ) đã được khám và đánh giá tình trạng sâu  
cao tuổi đến khám tại Khoa Điều trị răng miệng người  
chân răng. Số bệnh nhân có ít nhất một tổn thương  
cao tuổi. Tiêu chuẩn lựa chọn là những bệnh nhân  
sâu chân răng là 51 (26,6%), trong đó có số bệnh  
nhân nam là 21(41,2%), số bệnh nhân nữ là 30 (  
58,8%), sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê  
*Bệnh viện E Hà Nội  
(p= 0,155 > 0,05). Tỉ lệ răng tụt lợi là 75%. Chỉ số  
**Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW HN; Viện đào tạo  
RCI là 1,3 trong đó nhìn chung chỉ số RCI của các  
Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội  
răng thuộc cung răng hàm dưới cao hơn các răng  
Chịu trách nhiệm chính: Hà Lan Hương  
Ngày nhận bài: 15.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 7.5.2021  
Ngày duyệt bài: 13.5.2021  
thuộc cung răng hàm trên. Tổn thương sâu chân răng  
hay gặp nhất ở nhóm răng cửa và răng hàm lớn hàm  
dưới. Về sự phân bố tổn thương sâu chân theo các  
mặt cho thấy hay gặp nhất ở mặt bên và ít gặp nhất ở  
mặt trong chân răng. Kết luận: Tỉ lệ sâu chân răng  
226  
pdf 6 trang yennguyen 18600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị dao động xung ký trong chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_dao_dong_xung_ky_trong_chan_doan_hen_phe_quan_o_tre.pdf