Các yếu tố liên quan đến tái phát muộn sau đột quỵ thiếu máu não cấp tại Tiền Giang

vietnam medical journal n01 - june - 2021  
kích thước u không phải là yếu tố liên quan tới bệnh sau 3 năm, 4 năm và 5 năm ước tính  
sống thêm [6].  
tương ứng là 63,5%, 45,8% và 35,6%.  
Giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng quan trọng  
ảnh hưởng đến thời gian sống thêm sau mổ. Tuy  
nhiên chúng tôi chưa thấy mối liên quan giữa thời  
gian sống thêm và giai đoạn bệnh. Điều này có  
thể là do cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ.  
Bệnh nhân có bệnh tim mạch kèm theo có  
thời gian sống thêm trung bình là 37,45±3,5  
tháng thấp hơn so với thời gian sống thêm trung  
bình của nhóm không có bệnh tim mạch kèm  
theo (51,8±1,8 tháng). Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê với p<0,05. Do bệnh nhân bệnh lý tim  
mạch thường phục hồi sau mổ chậm hơn, ảnh  
hưởng đến liều và liệu trình điều trị hóa chất bổ  
trợ sau mổ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. World Health Organization (2018). Gastric  
Cancer. International Agency for Research on  
Cancer, GLOBOCAN 2018.  
2. Vũ Hải (2009), Nghiên cứu chỉ định các phương  
pháp phẫu thuật, hoá chất bổ trợ và đánh giá kết  
quả điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh viện K, Luận  
án Tiến sĩ y học, Học viện Quân y.  
3. Phan Cảnh Duy (2019), “Kết quả điều trị ung  
thư biểu mô tuyến dạ dày phần xa dạ dày giai  
đoạn tiến triển tại chỗ bằng phẫu thuật kết hợp xạ  
- hóa sau mổ”, Tạp chí Y học lâm sàng, Bệnh viện  
Trung Ương Huế, số 55, tr: 80 -88.  
4. Vũ Quang Toản, Đoàn Hữu Nghị, Đỗ Anh Tú  
(2015), Điều trị ung thư dạ dày tiến triển tại chỗ  
bằng phẫu thuật và hóa trị bổ trợ EOX, Tạp chí Y  
học lâm sàng, số 29/2015, 270-278.  
5. Bang Y.-J., Kim Y.-W., Yang H.-K. et al  
(2012). Adjuvant capecitabine and oxaliplatin for  
gastric cancer after D2 gastrectomy (CLASSIC): a  
phase 3 open-label, randomised controlled trial.  
The Lancet, 379(9813), 315-321.  
6. Fukuda N., Sugiyama Y., Wada J. (2011).  
Prognostic factors of T4 gastric cancer patients  
undergoing potentially curative resection. World  
journal of gastroenterology: WJG, 17(9), 1180.  
V. KẾT LUẬN  
Hóa trị bổ trợ phác đồ EOX đem lại lợi ích  
sống thêm trên bệnh nhân cao tuổi ung thư dạ  
dày đã phẫu thuật triệt căn có nguy cơ cao với tỷ  
lệ sống thêm toàn bộ ước tính theo Kaplan -  
Meier sau 3 năm, 4 năm và 5 năm tương ứng là  
85,6%, 59,7%, 46,7%, tỷ lệ sống thêm không  
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI PHÁT MUỘN  
SAU ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP TẠI TIỀN GIANG  
Nguyễn Văn Dũng*, Cao Phi Phong**  
Các yếu tố liên quan độc lập với đột quỵ tái phát bao  
gồm trình độ học vấn, tiền sử đột quỵ/TIA, tiền sử  
nhồi máu cơ tim, rung nhĩ, lấp mạch từ tim và dùng  
thuốc statin. Kết luận: Tỷ suất tái phát đột quỵ tích  
lũy tại thời điểm 1 năm là 21,2%. Các yếu tố liên quan  
độc lập với đột quỵ tái phát là trình độ học vấn, tiền  
sử đột quỵ/TIA, tiền sử nhồi máu cơ tim, rung nhĩ, lấp  
mạch từ tim và dùng thuốc statin.  
TÓM TẮT21  
Mở đầu: Nguy cơ tái phát muộn sau đột quỵ thiếu  
máu não cấp thì vẫn còn cao mặc dù đã có những cải  
thiện trong chiến lược phòng ngừa đột quỵ thứ phát.  
Việc xác định tỉ suất tái phát đột quỵ muộn và các yếu  
tố liên quan đến nguy cơ tái phát đột quỵ muộn vẫn  
còn hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ suất  
tái phát đột quỵ tích lũy tại thời điểm 1 năm và các  
yếu tố liên quan độc lập đến tái phát muộn sau đột  
quỵ thiếu máu não cấp. Phương pháp nghiên cứu:  
Nghiên cứu đoàn hệ quan sát, tiền cứu. Sử dụng ước  
tính Kaplan-Meier và mô hình hồi quy Cox để xác định  
tỷ suất tái phát đột quỵ tích lũy và các yếu tố liên  
quan độc lập đến nguy cơ tái phát muộn sau đột quỵ  
thiếu máu não cục bộ cấp. Kết quả: Trong 2 năm,  
chúng tôi thu thập được 520 bệnh nhân đột quỵ thiếu  
máu não cục bộ cấp và theo dõi 1 năm. Tỷ suất tái  
phát đột quỵ tích lũy tại thời điểm 1 năm là 21,2%.  
Từ khóa: yếu tố, tái phát muộn, liên quan, đột  
quỵ thiếu máu não cấp.  
SUMMARY  
FACTORS ASSOCIATED WITH LATE  
RECURRENCE AFTER ACUTE ISCHEMIC  
STROKE IN TIEN GIANG  
Background: The risk of late recurrence after  
acute ischemic stroke remains high despite  
improvements in secondary stroke prevention  
strategies. The determination of late stroke recurrence  
rate and factors associated with to late stroke  
recurrence is still limited. Objectives: Determine the  
cumulative stroke recurrence rate at 1 year and  
factors independently associated with to the risk of  
late recurrence after acute ischemic stroke. Methods:  
Prospective, observational cohort study. Using Kaplan-  
Meier estimation and Cox regression model to  
determine the cumulative stroke recurrence rate and  
*Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang  
**Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh.  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Văn Dũng  
Ngày nhận bài: 12.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 11.5.2021  
Ngày duyệt bài: 17.5.2021  
82  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
factors associated with the risk of late recurrence after  
- Bệnh nhân có tiền sử đột quỵ nhưng lần  
này nhập viện điều trị vì bệnh khác.  
- Bệnh nhân không làm đầy đủ các cận lâm  
sàng cần thiết.  
acute ischemic stroke. Results: In 2 years, we  
collected 520 patients with acute ischemic stroke and  
followed up for  
recurrence rate at  
1 year. The cumulative stroke  
1
year was 21.2%. Factors  
- Bệnh nhân chấn thương hoặc phẫu thuật  
trong vòng 3 ngày trước khi đột quỵ khởi phát,  
bệnh gan mức độ nặng, bệnh nhiễm khuẩn cấp  
lúc nhập viện.  
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Phương pháp nghiên cứu:  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ  
quan sát, tiến cứu.  
Phương pháp chọn mẫu: Chọn liên tiếp  
những bệnh nhân được chẩn đoán là đột quỵ  
thiếu máu não cấp vào khoa Nội Thần Kinh bệnh  
viện ĐKTT Tiền Giang trong thời gian nghiên cứu  
và phải đảm bảo cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu.  
Cỡ mẫu: Được tính theo công thức dành cho  
nghiên cứu đoàn hệ, tiến cứu có sử dụng  
phương pháp phân tích sống còn. Cỡ mẫu tối  
thiểu là 330 bệnh nhân.  
independently associated with recurrent stroke include  
education level, history of stroke/TIA, history of  
myocardial infarction, atrial fibrillation, cardioembolism  
and use statin drug. Conclusions: The cumulative  
stroke recurrence rate at 1 year was 21.2%. Factors  
independently associated with recurrent stroke were  
education level, history of stroke/TIA, history of  
myocardial infarction, atrial fibrillation, cardioembolism  
and use statin drug.  
Keywords: factor, late recurrence, associated  
with, acute ischemic stroke.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đột quỵ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não  
cấp thường dẫn đến tỉ lệ tử vong cao hơn, mức  
độ tàn tật lớn hơn, chi phí điều trị tăng lên so với  
biến cố đột quỵ lần đầu. Mặc dù đã có những cải  
thiện trong chiến lược phòng ngừa đột quỵ tái  
phát nhưng tỉ lệ tái phát đột quỵ muộn vẫn còn  
cao. Thật vậy, theo Wang và cộng sự thì tỉ lệ đột  
quỵ tái phát tại thời điểm 1 năm là 17,7%. Mặt  
khác, theo Hankey và cộng sự thì tỉ suất đột quỵ  
tái phát tích lũy tại thời điểm 6 tháng và 5 năm  
lần lượt là 8,8% và 22,5%.  
Phương pháp thu thập số liệu:  
- Thu thập thông tin khi bệnh nhân nhập viện:  
Những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp  
được khám lâm sàng tỉ mỉ và cho làm đầy đủ các  
cận lâm sàng cần thiết để thu thập các thông tin  
cho nghiên cứu. Đồng thời, ghi nhận số điện thoại  
của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.  
- Chúng tôi tiến hành theo dõi tái phát đột  
quỵ ngay lúc bệnh nhân còn nằm viện.  
- Sau khi ra viện: chúng tôi tiếp tục theo dõi  
bệnh nhân thông qua khám trực tiếp hoặc gọi  
điện thoại cho đến khi kết thúc nghiên cứu. Thời  
gian theo dõi sau ra viện là 1 năm.  
- Tất cả những thông tin thu thập đều được ghi  
nhận cẩn thận vào bảng thu thập số liệu có sẵn.  
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được  
nhập, mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê  
SPSS 20.0. Ước tính Kaplan-Meier và mô hình hồi  
quy Cox được sử dụng để tính tỷ suất tái phát  
tích lũy tại thời điểm 1 năm và xác định các yếu  
tố liên quan độc lập với đột quỵ tái phát.  
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu về đột quỵ  
tái phát với thời gian theo dõi là 1 năm. Tuy  
nhiên, ở Việt Nam nói chung và miền Tây Nam  
Bộ nói riêng, số lượng nghiên cứu về vấn đề này  
với thời gian theo dõi 1 năm còn hạn chế. Vì vậy,  
chúng tôi tiến hình nghiên cứu đề tài “ Các yếu  
tố liên quan đến tái phát muộn sau đột quỵ thiếu  
máu não cấp tại Tiền Giang” với các mục tiêu  
sau đây:  
- Xác định tỷ suất tái phát đột quỵ tích lũy tại  
thời điểm 1 năm.  
- Xác định các yếu tố liên quan độc lập đến  
tái phát muộn sau đột quỵ thiếu máu não cấp.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu: Đó là những bệnh  
nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp nhập  
vào khoa Nội Thần Kinh, bệnh viện ĐKTT Tiền  
Giang từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 7 năm  
2017 có đủ tiêu chuẩn chọn mẫu.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu  
Các yếu tố về dân số học. Thực tế chúng  
tôi thu thập được 520 bệnh nhân. Trong đó, tỉ lệ  
nam giới và nữ giới gần bằng nhau. Tuổi trung  
bình của các bệnh nhân là 69 ± 12,5 với tuổi  
nhỏ nhất là 26 và tuổi lớn nhất là 96, trong đó  
gần 2/3 bệnh nhân thuộc nhóm tuổi ≥ 65. Gần  
3/4 số bệnh nhân trong nghiên cứu sống ở khu  
vực nông thôn và chỉ có 1/4 số bệnh nhân trong  
nghiên cứu của chúng tôi có trình độ trên tiểu học.  
Tiêu chuẩn chọn mẫu:  
Tiêu chuẩn chọn vào: Bệnh nhân được  
chẩn đoán xác định là đột quỵ thiếu máu não  
cục bộ cấp theo tiêu chuẩn lâm sàng của Tổ  
chức Y tế Thế giới và hình ảnh chụp cắt lớp vi  
tính/cộng hưởng từ sọ não, đồng thời có địa chỉ  
rõ ràng và/hoặc số điện thoại.  
Tiêu chuẩn loꢀi ra:  
83  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Một số đặc điểm liên quan đến quá trình  
Số bệnh nhân tái phát  
Số bệnh nhân mất theo dõi  
Thời gian theo dõi (năm)  
110  
5
1
theo dõi  
Bảng 1: Một số đặc điểm liên quan đến  
quá trình theo dõi  
Tỉ suất tái phát đột quỵ tích lũy tại tời điểm 1  
năm sau đột quỵ thiếu máu não cấp là 21,2%  
Kết quả phân tích đơn biến  
Tần số  
(n=520)  
Một số đặc điểm  
Tổng số bệnh nhân được theo dõi  
520  
Bảng 2: Các yếu tố dân số học và tiền sử  
Yếu tố nguy cơ  
HR  
KTC 95%  
1,26 – 2,97  
0,92 – 1,94  
1,63 – 5,16  
0,75 – 1,60  
0,70 – 1,55  
0,71 – 1,94  
1,24 – 2,68  
0,41 – 1,15  
2,88 – 8,36  
Giá trị p  
0,003  
0,128  
<0,001  
0,627  
0,842  
0,537  
0,002  
0,153  
< 0,001  
Tuổi ≥ 65  
Giới nữ  
1,93  
1,34  
2,90  
1,10  
1,04  
1,17  
1,83  
0,69  
4,91  
Trình độ học vấn (tiểu học trở xuống)  
Tình trạng hôn nhân (sống 1 mình)  
Tiền sử tăng huyết áp  
Tiền sử đái tháo đường  
Tiền sử đột quỵ/TIA  
Tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ  
Tiền sử nhồi máu cơ tim  
Bảng 3: Các yếu tố nguy cơ mꢀch máu  
Yếu tố nguy cơ  
HR  
KTC 95%  
0,75 – 1,97  
0,66 – 1,72  
0,71 – 1,60  
1,36 – 3,46  
0,23 – 0,88  
0,58 – 1,36  
0,58 – 1,40  
0,23 – 3,73  
0,73 – 2,85  
Giá trị p  
0,435  
0,788  
0,754  
0,001  
0,020  
0,594  
0,649  
0.909  
0,294  
Tăng huyết áp  
Đái tháo đường  
Rối loạn lipid máu  
1,21  
1,07  
1,07  
2,17  
0,45  
0.89  
0.90  
0,92  
1,44  
Rung nhĩ  
Tập thể dục  
Hút thuốc lá  
Uống rượu  
Hẹp van hai lá  
Hẹp van động mạch chủ ≥ 70%  
Bảng 4: Các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân theo phân loꢀi TOAST và  
điều trị sau ra viện  
Yếu tố nguy cơ  
HA tâm thu lúc nhập viện ≥ 140 mmHg  
HA tâm trương lúc nhập viện ≥ 90 mmHg  
Điểm Glasgow lúc nhập viện ≤ 8  
Điểm NIHSS lúc nhập viện: 5 đến 24  
≥ 25  
Điểm Rankin hiệu chỉnh lúc ra viện >2  
Nồng độ cholesterol toàn phần cao  
Nồng độ triglyceric cao  
HR  
KTC 95%  
0,94 – 2,15  
0,83 – 1,77  
0,27 – 1,13  
1,05 – 2,62  
1,29 – 3,78  
1,25 – 2,99  
0,48 – 1,21  
0,67 – 1,43  
0,65 – 1,56  
0,82 – 1,81  
1,09 – 2,37  
1,32 – 3,72  
0,32 – 0,86  
0,38 – 0,81  
0,70 – 1,70  
Giá trị p  
0,099  
0,329  
0,105  
0,031  
0,004  
0,003  
0,245  
0,896  
0,977  
0,320  
0,018  
0,003  
0,009  
0,002  
0,708  
1,42  
1,21  
0,55  
1,66  
2,21  
1,94  
0,76  
0,98  
1,01  
1,22  
1,61  
2,21  
0,53  
0,56  
1,09  
Nồng độ LDL-C cao  
Nồng độ HDL-C thấp  
Nồng độ hs-CRP cao trên >3mg/L  
Lấp mạch từ tim (TOAST)  
Thuốc chống kết tập tiểu cầu  
Thuốc statin  
Thuốc hạ huyết áp  
Qua phân tích hồi quy Cox đơn biến, có 12 biến số có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và 1 biến số  
gần có ý nghĩa thống kê (P < 0,1). Các biến số này được đưa vào phân tích hồi quy Cox đa biến.  
Kết quả phân tích đa biến  
Yếu tố nguy cơ  
Tuổi  
Trình độ học vấn  
HR  
1,22  
1,97  
KTC 95%  
0,76 – 1,96  
1,07 – 3,64  
Giá trị p  
0,401  
0,030  
84  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Tiền sử đột quỵ/TIA  
Tiền sử nhồi máu cơ tim  
Rung nhĩ  
Tập thể dục  
Điểm Rankin lúc ra viện  
hs-CRP >3mg/L  
1,88  
3,30  
1,74  
0,57  
1,32  
1,16  
1,40  
1,08  
1,03  
0,62  
1,85  
1,27 – 2,78  
1,88 – 5,79  
1,05 – 2,87  
0,28 – 1,16  
0,57 – 3,06  
0,77 – 1,75  
0,92 – 2,15  
0,43 – 2,75  
0,60 – 1,76  
0,42 – 0,92  
1,05 – 3,24  
0,002  
<0,001  
0,031  
0,122  
0,523  
0,484  
0,121  
0,868  
0,912  
0.016  
0,032  
HATT lúc nhập viện.  
Điểm NIHSS lúc nhập viện ≥ 15  
Dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu  
Dùng thuốc statin  
Lấp mạch từ tim (TOAST)  
Trình độ học vấn: Trong nghiên cứu này,  
trình độ học vấn thấp < 6 năm (tiểu học trở  
xuống) là yếu tố liên quan độc lập với sự gia  
tăng nguy cơ tái phát đột quỵ với HR= 1,97; p =  
0,030. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của  
Melkas và cộng sự. Kết quả từ nghiên cứu của  
tác giả này cho thấy trình độ học vấn thấp làm  
tăng nguy cơ đột quỵ tái phát với HR = 1,42; p  
= 0,070 [5]. Thêm vào đó, nghiên cứu của Che  
và cộng sự thấy rằng trình độ học vấn < 6 năm  
làm tăng nguy cơ đột quỵ tái phát với HR =  
1,73. Thật vậy, trình độ học vấn thấp có ảnh  
hưởng đến đột quỵ từ nhiều mặt, chẳng hạn như  
khả năng tìm hiểu về đột quỵ, nhận biết yếu tố  
nguy cơ và triệu chứng đột quỵ, sự tuân thủ  
trong điều trị đột quỵ.  
Tiền sử đột quỵ/TIA: Kết quả từ nghiên cứu  
của chúng tôi cho thấy tiền sử đột quỵ hoặc TIA  
là yếu tố liên quan độc lập với sự gia tăng nguy  
cơ tái phát đột quỵ với HR = 1,88; p = 0,002. Kết  
quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác. Điển  
hình, trong nghiên cứu của Alter và cộng sự, tiền  
sử ít nhất 1 lần bị TIA sẽ làm tăng nguy cơ tái  
phát đột quỵ lên đến 41,4 lần [2].  
Tiền sử nhồi máu cơ tim: Trong nghiên  
cứu của chúng tôi, tiền sử nhồi máu cơ tim có  
liên quan độc lập làm tăng nguy cơ tái phát đột  
quỵ với HR = 3,30; p= <0,001. Kết quả này  
tương tự với những nghiên cứu khác. Điển hình  
trong số đó là nghiên cứu của tác giả Prencipe  
và cộng sự tại Ý, tiền sử nhồi máu cơ tim làm  
tăng nguy cơ đột quỵ tái phát với HR = 2,9. Mặt  
khác, theo tác giả Alter và cộng sự thì tiền sử  
nhồi máu cơ tim làm tăng nguy cơ đột quỵ tái  
phát với RR = 8.0 [2]. Có thể giải thích tiền sử  
nhồi máu cơ tim làm tăng nguy cơ đột quỵ tái  
phát vì hai bệnh này có chung nền tảng xơ vữa  
mạch máu.  
IV. BÀN LUẬN  
Tỉ suất tái phát tích lũy tꢀi thời điểm 1  
năm sau đột quỵ thiếu máu não cấp  
Qua quan sát các nghiên cứu, chúng tôi nhận  
thấy đột quỵ tái phát xảy ra nhiều nhất trong  
năm đầu tiên. Những năm sau đó, nguy cơ tái  
phát đột quỵ trung bình hàng năm sẽ giảm dần.  
Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ  
suất tái phát đột quỵ tích lũy tại thời điểm 1 năm  
sau đột quỵ thiếu máu não là 21,2%. Kết quả  
này cao hơn hầu hết các nghiên cứu khác. Điển  
hình, nghiên cứu của Xu và cộng sự thì tỷ suất  
tái phát sau 1 năm là 11,2% [8], nghiên cứu của  
Mohan và cộng sự thì tỷ suất này là 11,1% [6]  
và vài nghiên cứu khác cũng có tỷ suất thấp hơn  
của chúng tôi. Tuy nhiên, vẫn có một số nghiên  
cứu có tỷ suất tái phát đột quỵ tích lũy tại thời  
điểm 1 năm ở mức gần bằng với kết quả của  
chúng tôi. Chẳng hạn, theo kết quả nghiên cứu  
của Hardie và cộng sự là 16%. Bên cạnh, nghiên  
cứu Wang và cộng sự ở Trung Quốc thì tỷ suất  
này là 17,7%. Ngoài ra, theo Viitanen và cộng sự  
đã cho thấy kết quả lên đến 18%.  
Tỷ suất đột quỵ tái phát tùy thuộc vào nhiều  
yếu tố, chẳng hạn như nghiên cứu đó dựa vào  
bệnh viện hay cộng đồng, đối tượng nghiên cứu,  
định nghĩa đột quỵ tái phát, thiết kế nghiên cứu  
và chiến lược phòng ngừa đột quỵ thứ  
phát…Nhìn chung, tỷ suất tái phát tại thời điểm  
1 năm sau đột quỵ thiếu máu não còn cao. Điều  
này nhắc nhở chúng ta cần đưa ra chiến lược  
phòng ngừa đột quỵ thứ phát một cách hợp lý,  
kịp thời và hiệu quả.  
Một số yếu tố liên quan đến đột quỵ tái phát  
Tuổi: Tuổi là yếu tố nền tảng, được các tác  
giả đề cập trong hầu hết các nghiên cứu. Trong  
nghiên cứu của chúng tôi, tuổi không có liên quan  
độc lập với nguy cơ tái phát đột quỵ. Kết quả này  
tương tự với vài nghiên cứu khác. Thật vậy, theo  
Burn và cộng sự thì tuổi không có liên quan đến  
nguy cơ tái phát đột quỵ. Bên cạnh, một số  
nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự [8].  
Tăng huyết áp: Trong nghiên cứu của  
chúng tôi, tăng huyết áp không có liên quan với  
nguy cơ tái phát đột quỵ. Tăng huyết áp là yếu  
tố không có sự đồng nhất giữa các nghiên cứu.  
85  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Kết quả này phù hợp với vài nghiên cứu cho không dùng kháng đông sẽ bị đột quỵ tái phát  
rằng tăng hyết áp không làm tăng nguy cơ đột cao hơn nhóm có dùng kháng đông (27% so với  
quỵ tái phát. Chẳng hạn, theo Wang và cộng sự 18%) [7]. Từ kết quả này chúng ta thấy rõ được  
thì không có sự khác nhau giữa nhóm có và tầm quan trọng của việc dùng kháng đông trên  
không có tăng huyết áp đối với nguy cơ đột quỵ đối tượng đột quỵ thiếu máu não có rung nhĩ  
tái phát tại thời điểm 1 năm (18% so với 17%, p trong việc phòng ngừa đột quỵ thứ phát.  
= 0,21). Trái lại, có những nghiên cứu cho rằng  
tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đột quỵ tái  
phát. Điển hình, nghiên cứu của Xu và cộng sự  
cho rằng tăng huyết áp không kiểm soát sẽ làm  
tăng nguy cơ đột quỵ tái phát với HR = 3,15, p  
< 0,001. Việc không xác định tăng huyết áp như  
một yếu tố dự báo tái phát đột quỵ có thể phản  
ánh rằng nguy cơ cao ở những bệnh nhân đã  
mắc bệnh nào đó sẽ lấn át bất kỳ ảnh hưởng  
nào của một yếu tố nguy cơ cụ thể.  
Đái tháo đường: Trong nghiên cứu của  
chúng tôi, đái tháo đường không phải là yếu tố  
có liên quan độc lập với nguy cơ tái phát đột  
quỵ. Đái tháo đường cũng là yếu tố được nhiều  
tác giả tranh luận đối với nguy cơ tái phát đột  
quỵ. Nhìn chung những nghiên cứu có thời gian  
theo dõi không quá 2 năm thì đái tháo đường sẽ  
không có liên quan độc lập với tăng nguy cơ đột  
quỵ tái phát. Điển hình là nghiên cứu của Alter  
và cộng sự [1], nghiên của của Xu và cộng sự  
[8] đều cho kết quả tương tự như nghiên cứu  
của chúng tôi. Tuy nhiên, những nghiên cứu có  
thời gian theo dõi từ 3 đến 5 năm thì thấy rằng  
đái tháo đường có liên quan độc lập với tăng  
nguy cơ đột quỵ tái phát. Chẳng hạn, nghiên cứu  
của Petty và cộng sự, nghiên cứu của Putaala và  
cộng sự đều thấy rằng đái tháo đường có liên  
quan độc lập với nguy cơ tái phát đột quỵ.  
Rối loꢀn lipid máu: Kết quả nghiên cứu cho  
thấy rối loạn lipid máu không có liên quan độc  
lập với nguy cơ tái phát đột quỵ. Kết quả của  
chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Prencipe  
và cộng sự, nghiên cứu của Patel và cộng sự.  
Bên cạnh, nghiên cứu của Arboix và cộng sự  
thấy rằng nhóm có tăng lipid máu làm giảm  
nguy cơ đột quỵ với OR = 0,52. Như vậy, mối  
liên quan giữa rối loạn lipid máu với đột quỵ tái  
phát chưa thật sự rõ ràng, cần có những nghiên  
cứu sâu hơn nữa trong tương lai.  
Rung nhĩ: Trong nghiên cứu này, rung nhĩ là  
một trong những yếu tố liên quan độc lập với sự  
gia tăng nguy cơ tái phát đột quỵ với HR = 1,74;  
p = 0,031. Kết quả này tương đồng với nhiều  
nghiên cứu khác. Cụ thể, nghiên cứu của Xu và  
cộng sự thấy rằng rung nhĩ không kiểm soát làm  
tăng nguy cơ đột quỵ tái phát với HR = 4,70; p  
< 0,001 [8]. Hơn nữa, tác giả Penado và cộng  
sự thấy rằng trong số những bệnh nhân rung nhĩ  
Phân nhóm nguyên nhân đột quỵ thiếu  
máu não theo phân loꢀi TOAST: Trong  
nghiên cứu của chúng tôi, phân nhóm nguyên  
nhân lấp mạch từ tim có liên quan độc lập làm  
tăng nguy cơ đột quỵ tái phát với HR = 1,85; p  
= 0,032. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên  
cứu khác. Trước hết, nghiên cứu của Xu và cộng  
sự với HR = 2.55 cho thấy lấp mạch từ tim làm  
tăng nguy cơ tái phát đột quỵ[8]. Kế đến là  
nghiên cứu của Soda và cộng sự thấy rằng trong  
số những bệnh nhân đột quỵ tái phát thì lấp  
mạch từ tim chiếm tỉ lệ cao nhất so với các phân  
nhóm còn lại (14,4%) và sự khác biệt này có ý  
nghĩa thống kê.  
Dùng thuốc statin sau ra viện: Kết quả từ  
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy liệu pháp  
statin là yếu tố làm giảm nguy cơ tái phát đột  
quỵ với HR = 0,62; p = 0,016. Kết quả này  
giống với kết quả của nghiên cứu SPARCL.  
Nghiên cứu này đã chứng minh hiệu quả trong  
việc giảm nguy cơ đột quỵ tái phát mà không có  
bất kỳ rủi ro đáng kể nào về xuất huyết nội sọ.  
Bên cạnh, tác giả Lee và cộng sự thấy rằng việc  
ngưng dùng statin sau ra viện sẽ làm tăng nguy  
cơ đột quỵ tái phát với HR = 1,42 [4].Ngoài ra,  
tác giả Laloux và cộng sự cũng thấy statin làm  
giảm được nguy cơ tái phát đột quỵ. Statin rất  
cần thiết trong phòng ngừa đột quỵ tái phát bởi  
lẽ ngoài việc điều chỉnh rối loạn lipid máu, statin  
còn ổn định mảng xơ vữa, cải thiện chức năng tế  
bào nội mạc, chống viêm, chống kết tập tiểu  
cầu, giảm nguy cơ lấp mạch từ tim [3].  
V. KẾT LUẬN  
Tại thời điểm 1 năm sau đột quỵ thiếu máu  
não cấp, tỷ suất tái phát đột quỵ tích lũy là  
21,2%. Các yếu tố liên quan độc lập làm tăng  
nguy cơ đột quỵ tái phát là trình độ học vấn < 6  
năm (tiểu học trở xuống), tiền sử đột quỵ/TIA,  
tiền sử nhồi máu cơ tim, rung nhĩ và lấp mạch từ  
tim. Yếu tố liên quan độc lập làm giảm nguy cơ  
tái phát đột quỵ là dùng thuốc statin.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1
2
M. Alter, S. M. Lai, G. Friday, et al.(1997),  
"Stroke recurrence in diabetics. Does control of blood  
glucose reduce risk?", Stroke. 28(6), pp. 1153-7.  
M. Alter, E. Sobel, R. L. McCoy, et al.(1987),  
"Stroke in the Lehigh Valley: risk factors for  
recurrent stroke", Neurology. 37(3), pp. 503-7.  
86  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
3
4
P. Laloux.(2013), "Risk and benefit of statins in  
stroke secondary prevention", Curr Vasc  
Pharmacol. 11(6), pp. 812-6.  
M. Lee, J. L. Saver, Y. L. Wu, et al.(2017),  
"Utilization of Statins Beyond the Initial Period  
After Stroke and 1-Year Risk of Recurrent Stroke",  
J Am Heart Assoc. 6(8), pp.  
S. Melkas, G. Sibolt, N. K. Oksala, et  
al.(2012),"Extensive white matter changes predict  
stroke recurrence up to 5 years after a first-ever  
ischemic stroke", Cerebrovasc Dis. 34(3), pp. 191-8.  
6
K. M. Mohan, C. D. Wolfe, A. G. Rudd, et  
al.(2011),"Risk and cumulative risk of stroke  
recurrence:  
a
systematic review and meta-  
analysis", Stroke. 42(5), pp. 1489-94.  
7
8
S. Penado, M. Cano, O. Acha, et  
al.(2003),"Atrial fibrillation as a risk factor for  
stroke recurrence", Am J Med. 114(3), pp. 206-10.  
G. Xu, X. Liu, W. Wu, et al.(2007),"Recurrence  
after ischemic stroke in chinese patients: impact of  
uncontrolled modifiable risk factors", Cerebrovasc  
Dis. 23(2-3), pp. 117-20.  
5
ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG Ở BỆNH NHÂN  
TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT  
Đỗ Duy Tùng*, Trần Đức Quý*  
surgery in Department of Urology in Thainguyên  
TÓM TẮT22  
Mục tiêu nghiên cứu:mô tả đặc điểm rối loạn  
General Hospital. Result: The average age range of  
the patients was from66,4 to 7,3; 85,5% of  
patients accompanied with cardiovascular diseases;  
23,6%, patients with hypertension; 29,1%, patients  
with diabetes; 37,3%; 69,1% patients were admitted  
to hospital with dysuria;39,1%, with frequent  
urination; 5,5% with urinary retention, 3,6% with  
hematuria. The average IIEF score was 17,8 ± 5,8;  
the average IPSS score was 22,5 ± 3,9. There isa  
correlation between old age, comorbidities and LUTS  
with erectile dysfuntion ( p<0,05, p<0,05 and p<  
0,01). Conclusion: Erectile dysfuntion is a common  
condition in patients with benign prostatic hyperplasia.  
The factors such as old age, comorbidities, and LUTS  
have an effect on increasing the frequency and  
severity of erectile dysfuntion.  
cương dươngở bệnh nhân tăng sinh lành tính tuyến  
tiền liệt có chỉ định phẫu thuật và xác định một số yếu  
tố ảnh hưởng. Đối tượng và phương pháp nghiên  
cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 110 nam bệnh  
nhân được chẩn đoán xác định tăng sinh lành tính  
tuyến tiền liệt có chỉ định can thiệp phẫu thuật tại  
khoa Ngoại tiết niệu bệnh viện Trung ương Thái  
Nguyên. Kết quả: Tuổi trung bình 66,4 7,3;  
85,5%;Bệnh kèm theo: bệnh tim mạch 23,6%, tăng  
huyết áp 29,1%, đái tháo đường 37,3%; lí do vào  
viện vì đái khó 69,1%, đái nhiều lần 39,1%, bí đái  
5,5%, đái máu 3,6%; điểm IIEF trung bình 17,8 ±  
5,8; điểm IPSS trung bình 22,5 ± 3,9. Có ảnh hưởng  
giữa tuổi cao, bệnh lí kèm theo và tình trạng rối loạn  
tiểu tiện với RLCD (p<0,05, p< 0,05 và p< 0,001).  
Kết luận: RLCD là tình trạng phổ biến ở những bệnh  
nhân TSLTTTL. Những yếu tố như tuổi cao, bệnh kèm  
theo, tình trạng rối loạn tiểu tiện có ảnh hưởng làm  
gia tăng tần suất và mức độ RLCD.  
Keyword: Erectile dysfuntion, benign prostatic  
hyperplasia, IPSS questionnaire, IIEF questionnaire.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Rối loạn cương dương (RLCD) được định  
nghĩa là sự không đạt được hoặc duy trì sự  
cương cứng của dương vật để đạt được sự thỏa  
mãn khi giao hợp. Tăng sinh lành tính tuyến tiền  
liệt (TSLTTTL) là sự phát triển hoặc tăng sinh  
không ác tính của biểu mô tuyến tiền liệt và là  
nguyên nhân phổ biến của các triệu chứng  
đường tiểu dưới ở nam giới (LUTS)[7]. Rối loạn  
cương dươngvà tăng sinh lành tính tuyến tiền  
liệt (TSLTTTL) là những bệnh lí thường gặp ở  
nam giới trên 40 tuổi. Theo một nghiên cứu tổng  
hợp, tỉ lệ mắc RLCD là khoảng 50% ở tuổi 50,  
tăng lên 70% ở tuổi 70; trong khi đó RLCD hoàn  
toàn hoặc trung bình là 9% ở nam giới từ 40-44  
tuổi; 50% ở những người từ 65-70 tuổi[4]. Tỉ lệ  
bệnh nhân TSLTTTL cũng tăng dần theo tuổi,  
50-60% ở tuổi 60, tăng lên 80-90% ở những  
người trên 70 tuổi[7]. RLCD trên những bệnh  
nhân TSLTTTL đang được quan tâm nhiều trong  
những năm gần đây. Câu hỏi đặt ra là tình trạng  
Từ khóa: rối loạn cương dương, tăng sinh lành  
tính tuyến tiền liệt, thang điểm IPSS, thang điểm IIEF.  
SUMMARY  
CHARACTERISTICS OF ERECTILE  
DYSFUNCTION IN PATIENTS WITH  
BENIGN PROSTATIC HYPERPLASIA WHO  
ARE INDICATED TO SURGERY  
Objectives: The aims of the study is to describe  
the characteristics of erectile dysfunction in patients  
with benign prostatic hyperplasia who are indicated to  
surgery and indentify some influential factors. Study  
method: Across- sectional descriptive method was  
carried out on 110 male patients diagnosed with  
benign prostatic hyperplasia who are indicated to  
*Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên  
Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Duy Tùng  
Ngày nhận bài: 11.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 18.5.2021  
87  
pdf 6 trang yennguyen 15100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố liên quan đến tái phát muộn sau đột quỵ thiếu máu não cấp tại Tiền Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_lien_quan_den_tai_phat_muon_sau_dot_quy_thieu_mau.pdf