Báo cáo một trường hợp u nguyên bào tạo men răng di căn phổi sau 15 năm phẫu thuật u nguyên phát

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP U NGUYÊN BÀO TẠO MEN RĂNG  
DI CĂN PHỔI SAU 15 NĂM PHẪU THUẬT U NGUYÊN PHÁT  
1
2
3
TRẦN THỊ TUẤN ANH , DƯƠNG THỊ BÌNH , LÊ TRUNG THỌ  
TÓM TẮT  
U nguyên bào tạo men răng là một u biểu mô của nang răng có độ ác tính thấp và hiếm gặp, u được  
xác định là ác tính khi có di căn mặc dù hình thái mô học là lành tính. Điều trị khối u nguyên phát hiệu  
quả nhất là phẫu thuật triệt căn, bổ trợ xạ trị tùy thuộc vào mức độ xâm lấn của khối u. Với trường hợp di  
căn, có thể cân nhắc hóa xạ trị bổ trợ. Báo cáo của chúng tôi là một người bệnh nữ 44 tuổi đã cắt khối u  
nang răng 15 năm. Hiện tại, người bệnh có các triệu chứng di căn phổi và sinh thiết tổn thương phổi làm  
mô bệnh học xác định là tổn thương di căn của U nguyên bào tạo men răng, đồng thời khảo sát lại u  
nguyên phát có biểu hiện xâm lấn trên vỏ nang cũ. Đây là một trường hợp rất hiếm gặp, mặc dù hình thái  
u trên mô bệnh học là rất đặc trưng, có bổ sung cả hóa mô miễn dịch, nhưng việc nắm bắt tiền sử bệnh lý  
và kiểm tra tổn thương nguyên phát là rất quan trọng đển chẩn đoán xác định bệnh  
Từ khóa: U nguyên bào tạo men răng, U nguyên bào tạo men răng di căn phổi.  
miễn dịch trong trường hợp u di căn phổi cần phân  
biệt với các u nguyên phát tại phổi. Đây là những  
đặc điểm quan trọng trong chẩn đoán bệnh.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
U nguyên bào tạo men răng nguyên phát  
thường xuất phát từ xương hàm dưới (khoảng 80%),  
còn lại là ở xương hàm trên. Về mô bệnh học cho  
thấy hình thái u khá lành tính, tuy nhiên, khi u có di  
căn thì được xác định là U nguyên bào tạo men răng  
ác tính (Malignant Ameloblastoma - MA)[1]. Mặc dù  
khả năng xâm lấn tại chỗ và tái phát cao, nhưng di  
căn rất hiếm gặp. Nếu có di căn thường ở các hạch  
lân cận, di căn xa hay gặp nhất là phổi, u vẫn giữ  
nguyên đặc điểm lành tính của u nguyên phát. Đặc  
điểm mô bệnh học không giúp dự bào khả năng di  
căn, nhưng khi đã có biểu hiện di căn thì u được  
xem là ung thư biểu mô nguyên bào tạo men răng,  
và được đánh giá điều trị nhưng các u ác tính khác.  
U nguyên phát được điều trị chính bằng phẫu thuật  
triệt căn, cân nhắc xạ trị bổ trợ đến giảm thiểu nguy  
cơ tái phát và di căn. Về mặc y văn, điều trị có cả  
hóa trị, tuy nhiên vẫn chưa được sử dụng rộng rãi để  
điều trị bệnh.  
GIỚI THIỆU CA BỆNH  
Bệnh nhân nữ, 44 tuổi, mã bệnh án 1903710.  
Có biểu hiện ho khạc đờm hơn 1 tháng, khám ở BV  
tỉnh viêm phổi theo dõi lao phổi, trong thời gian diễn  
biến bệnh có sốt nhẹ thất thường, gầy sút 2kg, đau  
tức ngực, không khó thở, không ho ra máu. Tiền sử  
mổ u nang răng năm 2004 (Không còn lưu chẩn  
đoán), Mẹ đang điều trị lao phổi. Khám vào viện, BN  
có lâm sàng ổn định, xét nghiệm công thức máu có  
số lượng bạch cầu tăng, tăng bạch cầu trung tính,  
các chỉ số sinh hóa máu, đông máu trong giới hạn  
bình thường. Không có rối loạn thông khí. Xquang  
ngực có khối, nốt mờ hai phổi. Chụp CT ngực thấy  
hình ảnh nốt đặc đa hình thái và kích thước lan tỏa  
hai bên, ưu thế phần thấp (kiểu thả bóng), sau tiêm,  
ngấm thuốc mạnh; các vị trí khác trong giới hạn bình  
thường. Sinh thiết vào nốt tổn thương trên mô bệnh  
học (Mã số 2096 - B19) thấy vách phế nang và mô  
u, mô u có hai thành phần, 1 phần có cấu trúc nang  
tuyến, phần còn lại là các tế bào hình thoi, tạo cuộn  
Bài viết của chúng tôi sẽ làm rõ hơn về đặc  
điểm mô bệnh học và bộc lộ các dấu ấn hóa mô  
Ngày nhận bài: 01/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
Địa chỉ liên hệ: Trần Thị Tuấn Anh  
Email:drtrananhbv[email protected]  
1
ThS.BS. Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Phổi Trung ương  
2
BSCKI. Khoa Ung Bướu - Bệnh viện Phổi Trung ương  
3
PGS.TS.BSCKII. Giảng viên cao cấp Bộ môn Giải phẫu bệnh - Trường ĐH Y Hà Nội,  
Trưởng Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Phổi Trung ương  
154  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
xoáy, nhân kiềm tính. Nhuộm hóa mô miễn dịch, tế  
bào u dương tính với CK, CK7, CD56, Calretinin,  
đặc, kích thước 25 x 17 x 22mm, đường mờ rõ,  
ngấm thuốc mạnh sau tiêm, chèn ép một phần răng  
ở vị trí tương ứng Theo dõi u đặc tại vị trí BN đã  
phẫu thuật cắt nang chân răng hàm trên phải (ít nghĩ  
đến khả năng ác tính, nhiều khả năng là khối phát  
triển từ phần vỏ nang còn lại).  
Vimentine; âm tính với P63, P40, TTF1. Kết  
luận Hình ảnh mô bệnh học và sự bộc lộ hóa mô  
miễn dịch phù hợp với U nguyên bào tạo men răng  
(Ameloblastoma) di căn.  
Người bệnh được đánh giá toàn bộ tổn thương,  
xác định là U nguyên bào tại men răng di căn phổi và  
chuyển bệnh viện K Trung ương điều trị hóa xạ trị.  
Bổ sung xét nghiệm siêu âm vùng đầu mặc cổ  
không phát hiện bất thường.  
Cộng hưởng từ hàm mặt cho thấy vị trí bên phải  
tương ứng vị trí răng số 12, 13, 14 xuất hiện khối  
Hình ảnh của ca bệnh  
Hình ảnh CT ngực với nhiều nốt ở hai phổi  
Hình ảnh MRI xương hàm mặt, thấy khối u  
tái phát tại vị trí mũi tên  
Mô bệnh học và hóa mô miễn dịch  
CK  
P63  
Hình ảnh Mô bệnh học nhuộm HE x 200  
Hình ảnh HMMD nhuộm CK và P63, x 200  
khối u nguyên phát. U nguyên bào tạo men răng  
nguyên phát thường phân bố đồng đều ở hai giới,  
với tuổi trung bình là 39, độ tuổi mắc bệnh từ  
30 - 49. 80% các trường hợp ở xương hàm dưới,  
2/3 trong đó phát triển ở mặt sau, 20% còn lại tổn  
thương ở xương hàm dưới. Nguyên nhân sinh u còn  
đang tranh cãi, được nhắc đến nhiều nhất là do tàng  
dư của lớp đáy của răng và lớp niêm mạc miệng; chỉ  
có một phần nhỏ phát sinh từ u nang răng khác  
trước đó. Người bệnh thường không biểu hiện triệu  
chứng, hoặc chỉ có khối sưng đơn thuần mà các xét  
nghiệm chẩn đoán hình ảnh vùng hàm mặt chỉ cho  
hình ảnh u nang lành tính, có thể có dạng khối đặc,  
BÀN LUẬN  
U nguyên bào tạo men là một khối u biểu mô  
xâm lấn tại chỗ với tỷ lệ tái phát cao (50% - 72%)  
nhưng tỷ lệ di căn chỉ chiếm < 2%, với hơn 75% là di  
căn phổi, tiếp đến là di căn hạch cổ, thường sau  
nhiều năm từ khi phẫu thuật u nguyên phát. Di căn  
phổi thể hiện giai đoạn bệnh lý muộn, hiếm gặp, hầu  
như chưa có phác đồ cụ thể điều trị, chỉ thể hiện ở y  
văn qua các báo cáo ca bệnh[2].  
Về mặt mô bệnh học, u nguyên bào tạo men  
răng di căn không có gì khác biệt với đặc điểm của  
155  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ranh giới rõ, giai đoạn đầu hầu như không có xâm  
lấn. Theo dõi kích thước u thường tăng chậm[3].  
- Biến thể xơ dính: Mô đệm giàu collagen với  
các đảo tế bào hình đa diện của biểu mô tạo men  
răng.  
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm  
2005 thì các u này phân thành 4 biến thể: Đặc/ đa  
nang; ngoài xương hoặc ngoại vi; xơ dính; nang đơn  
độc. U được xếp vào loại lành tính (Không ác tính).  
Trường hợp u di căn thì được gọi là U nguyên bào  
tạo men răng ác tính (MA). Chẩn đoán xác định dựa  
trên sự tương quan của lâm sàng, chẩn đoán hình  
ảnh và giải phẫu bệnh. Khả năng tái phát là  
25 - 55%, có thể phụ thuộc vào phương án điều trị,  
với biến thể nang đơn độc thì tỷ lệ tái phát chỉ chiếm  
từ 5 - 10%[4].  
Nhuộm hóa mô miễn dịch dương tính với CK5,  
CK6, CK13, CK14, CK19, Calretinin, CD56. CK13 và  
CD56 ưu thế dương tính ở tế bào dạng lưới hình  
sao. CK19 thường dương tính ở tất cả tế bào, CK14  
và CD56 thường dương tính ở các tế bào ngoại vi[1].  
Về mặt sinh học phân tử: Các đột biến soma  
theo đường Hedgehog và MAPK đã được xác định.  
Theo các nghiên cứu cho thấy khoảng 40% có đột  
biến SMO, khoảng 45% có đột biến BRAF. Hầu hết  
thể mắt sàng có đột biến SMO, phần lớn thể nang và  
xơ dính đều có đột biến SMO hoặc BRAF. Các đột  
biến KRAS và FGFR2 cũng được tìm thấy. Kết quả  
đột biến BRAF thì phù hợp hoàn toàn giữa sinh học  
phân tử và hóa mô miễn dịch.  
Theo đặc điểm chẩn đoán hình ảnh, u phân  
thành thể thông thường và thể xơ dính.  
Về đại thể thường có ranh giới rõ, xen lẫn cấu  
trúc đặc và nang, có thể là đa nang, trong xoang  
mạch hoặc ngoài xương[1].  
Các chẩn đoán phân biệt là cần thiết đưa ra, với  
khối u nguyên phát thì cần phân biệt với hầu hết các  
u xuất phát từ men răng, mầm răng lành tính và  
hiếm gặp: Các đặc điểm để phân biệt dựa vào tính  
chất lành tính của tế bào, mô đệm xơ collagen và  
các tế bào dạng lưới hình sao[5].  
Về vi thể:  
- Các đám tế bào biểu mô bao gồm:  
+ Các tế bào trụ ở ngoại vi tạo lớp hàng rào,  
nhân tăng sắc.  
Khi u di căn thì được gọi là u nguyên bào tạo  
men răng ác tính, về mô học thì không có sự khác  
biệt giữa khối u di căn và khối u nguyên phát. Vị trí di  
căn hay gặp nhất là phổi, theo y văn thì tỷ lệ di căn ở  
đây khá cao, ước tính 75 - 88%. Thời gian tiến triển  
không bệnh sau phẫu thuật khối u nguyên phát từ 2  
tháng đến 45 năm, trung bình từ 14 - 18 năm.  
Trường hợp của chúng tôi là sau 15 năm. U di căn  
theo các đường máu, bạch huyết hoặc thông qua  
chọc hút. U có thể phát triển ở phế quản, tiểu phế  
quản, ở một phổi hoặc cả hai phổi. Nhuộm hóa mô  
miễn dịch, u dương tính với các dấu ấn của u  
nguyên bào tạo men răng nêu trên. Âm tính với các  
dấu ấn của phổi TTF1 hoặc NapsinA, loại trừ được  
+ Các tế bào có sự phân cực ngược ra khỏi  
màng đáy (Biến đổi Vickers = Gorlin).  
+ Các tế bào dạng lưới hình sao, các tế bào cận  
đáy gồm các tế bào góc sắp xếp lỏng lẻo.  
+ Không có sự hình thành ngà răng.  
- Có nhiều dưới típ được phân loại cho u  
nguyên bào tạo men răng thông thường (không  
mang ý nghĩa tiên lượng).  
+ Nang: Là dưới típ hay gặp nhất, các đám tế  
bào biểu mô tạo men răng trong mô liên kết xơ, hay  
gặp nang hóa.  
tổn thương ác tính nguyên phát phổi[1],[6]  
.
+ U gai: Hình ảnh dị sản vảy và sừng hóa của  
các tế bào dạng lưới hình sao.  
Về ca bệnh chúng tôi đưa ra, chẩn đoán đều  
phù hợp từ thời gian tái phát và di căn của bệnh đến  
đặc điểm tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh và mô  
bệnh học. Với kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch thì  
loại trừ được khối u nguyên phát phổi, hình thái tế  
bào và cấu trúc mô giúp khẳng định là u nguyên bào  
tạo men răng di căn phổi. Với trường hợp bệnh biến  
chuyển ác tính ở giai đoạn muộn, nên các biện pháp  
điều trị toàn thân được sử dụng để điều trị, bao gồm  
cả xạ trị và hóa trị. Đây là một trường hợp hiếm gặp,  
nếu không kết hợp cả tiền sử bệnh và tầm soát cả  
tổn thương nguyên phát thì có thể không định  
hướng được chẩn đoán cho người bệnh.  
+ Mắt sàng: Hình thành dây và tấm của các tế  
bào biểu mô tạo men răng chuyển tiếp.  
+ Tế bào hạt: Tế bào hạt với bào tương ưa  
toan nằm cùng với tế bào dạng lưới hình sao.  
+ Dạng đáy: Biến thể ít gặp nhất, các đảo tế  
bào đáy tăng sắc không có dạng lới hình sao.  
- Thoái hóa tạo các nang lớn của các đám tế  
bào u có thể gặp nên khi sinh thiết nhỏ có thể chỉ  
chẩn đoán là u nang, hoặc u khác không phải u  
nguyên bào tạo men. Do vậy cần đưa ra nhiều chẩn  
đoán phân biệt.  
156  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
KẾT LUẬN  
U nguyên bào tạo men rang di căn là một bệnh  
hiếm gặp. Đây là diễn biến ác tính của 1 u có tính  
chất lành tính, với tỷ lệ di căn dưới 2%.  
carboplatin and paclitaxel: long survival and  
prolonged stable disease". ecancer (7:323 DOI:  
10.3332/ecancer.2013.323).  
3. Ivan Valkadinov N C, Dian Dzhenkov, Ivan  
Donev (2017). "Rare case of ameloblastoma  
with pulmonary metastases". Intractable & Rare  
Diseases Research, 6(3) 211-214.  
Đặc điểm mô bệnh học và bộc lộ hóa mô miễn  
dịch của u thứ phát và nguyên phát là giống nhau,  
dựa vào đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh,  
mô bệnh học, hóa mô miễn dịch sẽ chẩn đoán được  
bệnh.  
4. Justin Iohanne Siy Rabo A B C, Eutrapio S.  
Guevara Jr., Joel A. Romualdez, Mandibular  
(2016). "Ameloblastoma with Lung Metastasis 10  
Years after Resection". PhiliPPine Journal of  
otolaryngology-head and neck Surgery, Vol. 31  
no. 1.  
Điều trị phẫu thuật triệt căn khối u ban đầu kết  
hợp với xạ trị bổ trợ là liệu pháp hữu hiệu để hạn  
chế u di căn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
5. G. H. J. Jephcote B D s (1981). "Ameloblastoma  
with pulmonary metastases: A case report".  
British Journal of Oral Surgery 19 38-42.  
1. Al  
B
e (2015). "Malignant ameloblastoma  
(metastatic ameloblastoma) in the lung: 3 cases  
of misdiagnosis as primary lung tumor with a  
unique growth pattern". Diagnostic Pathology  
(10:123, DOI 10.1186/s13000-015-0367-0).  
6. Kelly Magliocca  
D D S, M.P.H., Anthony  
Martinez, M.D. (2016). "Malignant tumors:  
Malignant  
ameloblastoma".  
Pathology  
Outlinescom, Inc.  
2. AF Ghiam A A Z a R F (2013). "A case of  
recurrent  
metastatic  
ameloblastoma  
and  
hypercalcaemia successfully treated with  
157  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ABSTRACT  
Case report: Lung metastasis of ameloblastoma after 15 years surgery primary tumor  
Ameloblastoma is a epithelial tumor of rare low - grade odontogenic tumor, has defined malignant  
ameloblastoma (MA) in spite of benign histological characteristic. Treatment of the primary ameloblastoma  
consists of radical excision of the tumor, adjuvant radiotherapy depends on the invasion of tumor. With  
metastasis cases, we can adjuvant chemical therapy. Our case is a 44 years old female, she has dissected her  
ondogenic cyst for 15 years. Now, she has lung metastasis and the biopsy of the lung lesion showed the  
Ameloblastoma metastasis in Histology. We also check the primary tumor and see the location invasion. This is  
a rare case, has the specific histology and immunohistochemistry, but we need ask the medical history of the  
patient, exam the primay lesion, it is very important for making a diagnosing.  
Keywords: Ameloblastoma, Lung metastasis ameloblastoma.  
158  
pdf 5 trang yennguyen 18361 Free
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo một trường hợp u nguyên bào tạo men răng di căn phổi sau 15 năm phẫu thuật u nguyên phát", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_mot_truong_hop_u_nguyen_bao_tao_men_rang_di_can_phoi.pdf