Giáo trình Sở hữu trí tuệ (Phần 2)
PHẦN 2
MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
265
Chương 6
BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN TÁC GIẢ
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
6.1. Quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học
6.1.1. Tác giả của kết quả nghiên cứu khoa học
a. Tác giả giáo trình, bài giảng, sách tham khảo
Giáo trình, bài giảng, sách tham khảo là những tài liệu chuyển tải
kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên, là dạng sách đặc thù về thể
loại văn bản khoa học, về nội dung chuyển tải kiến thức của một môn
học, về hình thức giáo trình chia thành các chương, mục, tiểu mục...
Bài giảng/tập bài giảng của giảng viên được thể hiện bằng văn bản,
nhưng chưa được xuất bản. Theo nguyên tắc bảo hộ hình thức thể hiện
trong việc bảo hộ quyền tác giả, thì giảng viên được công nhận là tác giả
của bài giảng tại thời điểm bài giảng được định hình dưới một dạng vật
chất nhất định, trong trường hợp này bài giảng được định hình bởi chữ
viết/các ký tự khác chữ viết trên giấy.
Giáo trình (textbook/coursebook) hoặc sách tham khảo của giảng
viên được thể hiện bằng văn bản và được xuất bản trên giấy. Thông
thường, giáo trình/sách tham khảo khi được xuất bản có mang chỉ số
ISBN (là chữ viết tắt của International Standard Book Number - mã số
tiêu chuẩn quốc tế cho sách), là mã số tiêu chuẩn quốc tế có tính chất
thương mại duy nhất để xác định một quyển sách. Cùng với sự phát triển
của công nghệ số, thì ngoài việc xuất bản trên giấy, giáo trình còn được
xuất bản dưới dạng số electronic book hoặc viết tắt là e.book.
Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định: Tác giả là người trực
tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và
khoa học, đồng thời nghị định này không quy định tác giả là pháp nhân,
do đó có thể nói rằng, tác giả chỉ có thể là cá nhân. Trong trường hợp cụ
thể này, tác giả bài giảng, giáo trình, sách tham khảo là giảng viên/những
giảng viên.
266
Pháp luật SHTT Việt Nam không định nghĩa thuật ngữ “đồng tác
giả” mà mặc nhiên quan niệm trong trường hợp có từ hai tác giả trở lên
cùng sáng tạo nên một tác phẩm thì họ là các đồng tác giả của tác phẩm
đó. Quan niệm quá đơn giản này là không phổ quát, bởi lẽ nó không thể
điều chỉnh được quyền nhân thân đối với tác phẩm mà các ví dụ sau đây
là minh chứng:
Một bài thơ được công bố, sau đó một nhạc sĩ phổ nhạc cho bài thơ
thành bài hát, giả định rằng tác giả bài thơ chỉ biết đến bài hát khi nó
được công bố. Nếu coi bài hát (bao gồm phần nhạc và phần lời) là một
tác phẩm đồng tác giả thì pháp luật không thể điều chỉnh được khi xảy ra
tranh chấp về quyền nhân thân giữa các đồng tác giả, bởi lẽ ngoài việc
mỗi đồng tác giả có các quyền nhân thân đối với phần riêng biệt của
mình thì họ còn có quyền nhân thân chung đối với toàn bộ tác phẩm đồng
tác giả.
Tác giả của một bản nhạc không lời đã chết, một người viết thêm
lời vào bản nhạc thành bài hát có lời, nếu quan niệm như trên thì phải coi
bài hát là một tác phẩm đồng tác giả vì đã có hai tác giả cùng sáng tạo
nên một tác phẩm.
Trong khi đó, Luật Quyền tác giả của Hoa Kỳ quy định: Tác phẩm
đồng tác giả là tác phẩm được sáng tạo bởi hai hoặc nhiều tác giả với
chủ ý là sự đóng góp của họ được kết hợp thành các phần không thể tách
rời và phụ thuộc lẫn nhau trong một tổng thể hoàn chỉnh74, trong đó nhất
thiết các đồng tác giả phải chủ ý cùng sáng tạo nên một tác phẩm
chung75.
Đối với đồng tác giả bài giảng, giáo trình, sách tham khảo có thể
diễn ra các trường hợp:
- Đồng tác giả duy nhất: có từ hai người trở lên cùng sáng tạo nên
một giáo trình, trong đó không thể biết được tác giả nào sáng tạo phần
74
Xin tham khảo thêm United States Code Title 17—Copyrights, As amended through
December 13, 2003.
75
Trần Văn Hải (2010), Những bất cập trong quy định của pháp luật SHTT Việt Nam
hiện hành về quyền tác giả, quyền liên quan, Tạp chí Luật học số 07 (122) 7/2010, trang
13-18. ISSN: 0868 - 3522.
267
nào của giáo trình. Ví dụ các đồng tác giả Lê Đình Nghị, Vũ Thị Hải Yến
của Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2009.
- Đồng tác giả theo phần: có từ hai người trở lên cùng sáng tạo nên
một giáo trình, trong đó có thể biết được tác giả nào sáng tạo phần nào
của giáo trình. Ví dụ, các đồng tác giả Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên),
Bùi Xuân Đức, Bùi Ngọc Sơn, Đặng Minh Tuấn của Giáo trình Luật
Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006.
Trong giáo trình này Nguyễn Đăng Dung viết các chương I, II (1, 2, 3),
III, IV, V, VI, VII, VIII, IX ( 1, 2 ...), Bùi Xuân Đức viết chương XIV…
b. Tác giả của khóa luận (đồ án), luận văn, luận án
Điều 38 Luật Giáo dục đại học quy định về khóa luận, luận văn,
luận án như sau:
- Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo cao đẳng, có đủ điều
kiện thì được dự thi tốt nghiệp hoặc bảo vệ chuyên đề, khóa luận tốt
nghiệp. Chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp cao đẳng chuyển tải kiến thức
chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác
động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có
khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo;
- Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo đại học, có đủ điều
kiện thì được dự thi tốt nghiệp hoặc bảo vệ đồ án, khóa luận tốt nghiệp.
Đồ án, khóa luận tốt nghiệp chuyển tải kiến thức chuyên môn toàn diện,
để chứng minh sinh viên nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội,
có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và
giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo;
- Học viên hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ, có đủ điều kiện
thì được bảo vệ luận văn. Luận văn thạc sĩ chuyển tải kiến thức khoa học
nền tảng, nhằm chứng minh học viên có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên
cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt động nghề nghiệp có hiệu quả,
có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải
quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo;
- Nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ, có đủ
điều kiện thì được bảo vệ luận án. Luận án tiến sĩ chuyển tải kiến thức ở
trình độ cao về lý thuyết và ứng dụng, chứng minh nghiên cứu sinh có
268
năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới, phát hiện
nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và giải quyết những vấn đề mới về
khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động
chuyên môn.
Như vậy, có thể khái quát khóa luận đại học/cao đẳng, luận văn
thạc sĩ, luận án tiến sĩ.
c. Tác giả khóa luận (đồ án), luận văn, luận án
Đối với khóa luận tác giả là sinh viên, luận văn tác giả là học viên
cao học và luận án tiến sĩ tác giả là nghiên cứu sinh.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, luận văn, luận án, tác giả của
chúng được sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học. Người hướng
dẫn khoa học có thể là giảng viên cơ hữu của cơ sở đào tạo hoặc cũng có
thể là người có trình độ chuyên môn ở ngoài cơ sở đào tạo được cơ sở
đào tạo mời hướng dẫn cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh thực
hiện khóa luận, luận văn, luận án.
Khoản 2 điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định: Tổ chức, cá
nhân làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người
khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả. Như vậy,
chỉ có sinh viên mới được công nhận là tác giả khóa luận đại học/cao
đẳng, học viên cao học là tác giả luận văn thạc sĩ, nghiên cứu sinh là tác
giả của luận án tiến sĩ, người hướng dẫn khoa học không được công nhận
là đồng tác giả của khóa luận, luận văn, luận án.
Hiện tại chưa ghi nhận trường hợp đồng tác giả đối với khóa luận,
luận văn, luận án ở Việt Nam.
Tuy nhiên, trên thế giới đã có trường hợp đồng tác giả đối với luận
văn thạc sĩ. Ví dụ, Luận văn Thạc sĩ với đề tài Design, Implementation
and Evaluation of a Mobile GIS Solution for a Land Registration Project
in Lesotho của đồng tác giả Axel Bronder và Erik Persson tại Thụy Điển
vào năm 201376.
76
Axel Bronder and Erik Persson (2013), Design, Implementation and Evaluation of a
Mobile GIS Solution for a Land Registration Project in Lesotho. Master of Science
Thesis in Geoinformatics. TRITA-GIT EX 13-005 School of Architecture and the Built
Environment. Royal Institute of Technology (KTH). Stockholm, Sweden June 2013.
269
d. Tác giả của đề tài nghiên cứu khoa học
Khoản 4 Điều 3 Luật KH&CN quy định: Nghiên cứu khoa học là
hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật,
hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng
vào thực tiễn.
Theo Vũ Cao Đàm77 thì nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu
nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật. Kết quả nghiên
cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình
thành một hệ thống lý thuyết mới.
Nội dung của kết quả nghiên cứu cơ bản không được bảo hộ theo
pháp luật về sáng chế, nhưng bản viết về nó lại là tác phẩm khoa học và
được bảo hộ theo quy định tại Điều 14.1.a. Luật SHTT và Điều 2.1. Công
ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật78.
Đề tài nghiên cứu khoa học được phân chia thành:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh, Thành;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (cấp cơ sở) của giảng viên;
- Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Riêng đề tài thuộc các chương trình KH và CN trọng điểm (có 10
chương trình) thì được phân chia thành:
Các loại chương trình, ví dụ:
- KC.01: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thông tin và
truyền thông.
- KC.02: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vật liệu mới.
- KC.03: Nghiên cứu khoa học và phát triển tự động hóa.
- KC.04: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sinh học.
77
Vũ Cao Đàm (2010), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội, 2010.
78Xin tham khảo thêm: Trần Văn Hải, Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”,
“sáng chế”. Tạp chí Hoạt động khoa học,số 6.2007 (577), tr. 26 - 28.
270
- KC.05: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chế tạo máy.
- KC.06: Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm
xuất khẩu và sản phẩm chủ lực.
- KC.07: KH và CN phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn.
- KC.08: Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai.
- KC.09: Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển.
- KC.10: KH và CN phục vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe.
Đề tài trọng điểm cấp Bộ được chia thành:
- Đề tài trọng điểm cấp Bộ nhằm giải quyết các vấn đề Khoa học,
Công nghệ phục vụ Giáo dục - Đào tạo, phục vụ phát triển kinh tế xã hội
vùng miền của đất nước.
- Đề tài trọng điểm cấp Bộ được Bộ trưởng phê duyệt trên cơ sở ý
kiến tư vấn và tuyển chọn của Hội đồng KH và CN cấp Bộ hoặc được Bộ
giao nhiệm vụ trực tiếp và được ưu tiên đầu tư kinh phí.
Tác giả đề tài nghiên cứu khoa học:
Tác giả đề tài nghiên cứu khoa học có thể là cá nhân/những cá nhân
hay có thể nói cách khác có tác giả và đồng tác giả đề tài nghiên cứu
khoa học. Vai trò của tác giả trong đề tài nghiên cứu khoa học là khác
nhau:
- Chủ nhiệm đề tài: là người nghiên cứu cũng đồng thời là người
điều hành trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học.
- Thư ký đề tài: là người giúp cho chủ nhiệm đề tài trong các công
việc chuyên môn hoặc hành chính liên quan đến đề tài.
- Người tham gia thực hiện đề tài: Theo sự phân công của chủ
nhiệm đề tài, những người tham gia thực hiện đề tài thường là những
người có chuyên môn sâu trong lĩnh vực nghiên cứu.
Các thành viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học là đồng tác giả
đối với tác phẩm khoa học.
271
Đối với đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng có thể có tác
giả hoặc đồng tác giả.
6.1.2. Chủ sở hữu của kết quả nghiên cứu khoa học
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, việc xác định chủ sở hữu
kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa trong việc thương mại hóa kết
quả nghiên cứu mà còn có ý nghĩa đối với danh dự và uy tín của tác giả -
người sáng tạo ra kết quả nghiên cứu.
Luật KH và CN tại Điều 26 quy định: Tổ chức, cá nhân đầu tư cho
việc thực hiện nhiệm vụ KH và CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ; tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện
công trình KH và CN là tác giả của công trình đó, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng KH và CN.
Về nguyên tắc, tổ chức hoặc cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật
chất để cho các cá nhân tạo ra kết quả nghiên cứu khoa học thì là chủ sở
hữu quyền tác giả, chẳng hạn:
- Trường Đại học M cấp kinh phí cho ông A thực hiện đề tài nghiên
cứu khoa học thì trường Đại học M là chủ sở hữu quyền tác giả và ông A
tà tác giả.
- Trường Đại học M hợp đồng với ông B viết cuốn Giáo trình Toán
học cao cấp thì trường Đại học M là chủ sở hữu quyền tác giả và ông B
là tác giả.
Việc phân định giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc xác định các quyền nhân thân và quyền tài sản
theo pháp luật. Trên cơ sở đó xác định chủ thể nào có quyền đăng ký
(nếu bắt buộc) và khai thác tài sản trí tuệ đã được tạo ra. Thông thường,
chủ sở hữu quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học trong
những trường hợp sau:
- Chủ sở hữu quyền tác giả kết quả nghiên cứu khoa học là tổ chức:
Tổ chức này đã đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật (có thể dùng
ngân sách Nhà nước hoặc không dùng ngân sách nhà nước) cho cá nhân
khác thực hiện việc nghiên cứu theo đơn đặt hàng hoặc hợp đồng nghiên
cứu giữa các bên;
272
- Chủ sở hữu quyền tác giả kết quả nghiên cứu khoa học là cá nhân
(không đồng thời là tác giả): Cá nhân đã đầu tư tài chính, cơ sở vật chất -
kỹ thuật cho cá cá nhân khác thực hiện việc nghiên cứu theo đơn đặt
hàng hoặc hợp đồng nghiên cứu giữa các bên;
- Chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, đồng thời là tác giả của kết
quả nghiên cứu khoa học: Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở
vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm khoa học thì tác giả
là chủ sở hữu tác phẩm này.
Trường hợp giữa tổ chức hoặc cá nhân đầu tư một phần tài chính,
cơ sở vật chất và tác giả cũng đầu tư một phần tài chính thì xác định chủ
sở hữu quyền tác giả trên cơ sở thỏa thuận của các bên.
Chủ sở hữu có quyền công bố tác phẩm khoa học, đồng thời có
toàn bộ nhóm quyền tài sản được quy định tại Điều 20 của Luật SHTT79.
Tuy nhiên, quy định trên đây chưa giải quyết được các trường hợp,
cụ thể: kết quả nghiên cứu là sự sáng tạo của nhiều tác giả với các mức
độ đóng góp khác nhau; kết quả nghiên cứu do nhiều người đầu tư tài
chính để thực hiện ở các giai đoạn khác nhau; kết quả nghiên cứu vừa
được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả, vừa được bảo hộ theo pháp
luật về quyền SHCN; cũng chưa giải quyết được việc phân định quyền sở
hữu đối với kết quả nghiên cứu trong trường hợp “sáng chế công vụ”
(Employee Invention)…
6.1.3. Mối quan hệ giữa tác giả và chủ sở hữu của kết quả nghiên cứu
khoa học
Mối quan hệ giữa tác giả và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu được
phân định trong nhiều trường hợp. Nếu nhiều người cùng đầu tư tài
chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nghiên cứu thì họ đồng sở hữu kết
quả nghiên cứu, có thể chia ra hai trường hợp:
- Trường hợp 1: Đồng sở hữu chung duy nhất, kết quả nghiên cứu
không thể phân chia, dẫn đến bất kỳ một người nào trong số đồng sở hữu
79 Trần Văn Hải (2009), Xác định chủ sở hữu của kết quả nghiên cứu khoa học, Tạp chí
Hoạt động khoa học, Bộ KH và CN, số 598 tháng 3/2009, trang 33-36. ISSN 1859-
4794.
273
cũng không có quyền thực hiện một quyền tài sản nào đối với kết quả
nghiên cứu nếu không có sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu còn lại.
- Trường hợp 2: Đồng sở hữu theo phần, kết quả nghiên cứu có thể
phân chia, dẫn đến mỗi người là chủ sở hữu một phần kết quả nghiên cứu
căn cứ theo phần đóng góp tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình
cho nghiên cứu.
Giả sử tác giả kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước
(hoặc do người khác đầu tư tài chính) đã ký hợp đồng cho phép một nhà
xuất bản phát hành tác phẩm khoa học do mình sáng tạo nên, cho phép
người nào đó dịch tác phẩm khoa học ra tiếng nước ngoài,… các hành vi
vừa nêu của tác giả thực chất là đã cho phép người khác công bố tác
phẩm, làm bản sao tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, như vậy tác giả đã
vi phạm các quyền mà chỉ chủ sở hữu kết quả nghiên cứu mới có.
Một nhà xuất bản đã viết dòng chữ Nhà xuất bản X giữ bản quyền
trên bìa tác phẩm khoa học, trường hợp này chỉ đúng khi chủ sở hữu tác
phẩm khoa học chuyển nhượng toàn bộ quyền sở hữu tác phẩm cho nhà
xuất bản X, còn nếu chủ sở hữu tác phẩm chỉ ký hợp đồng cho phép nhà
xuất bản X phát hành một số lượng hạn chế bản sao tác phẩm thì cách
viết trên lại không đúng.
Trường hợp sinh viên của các trường đại học thực hiện đề tài
nghiên cứu khoa học sinh viên và được nhà trường (dùng ngân sách Nhà
nước) hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, có ý kiến cho rằng trong trường hợp
này Nhà nước (mà đại diện là hiệu trưởng trường đại học) là chủ sở hữu
kết quả nghiên cứu. Quy định này đang gặp nhiều tranh luận, bởi lẽ
không thể coi việc hỗ trợ kinh phí như là sự đầu tư tài chính để tác giả
thực hiện nghiên cứu khoa học. Do đó, có thể nói tác giả (sinh viên) mới
là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu.
6.1.4. Quyền của tác giả và quyền của chủ sở hữu quyền tác giả
Thứ nhất, quyền của tác giả.
Quyền của tác giả chỉ là một bộ phận của quyền tác giả. Nội dung
của quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản được quy
định tại Điều 19 và Điều 20 Luật SHTT. Nhưng quyền của tác giả chắc
274
chắn chỉ có quyền nhân thân được quy định tại Khoản 1, 2, 4 Điều 19
Luật SHTT.
Tác giả của tác phẩm khoa học (giáo trình, bài giảng, sách tham
khảo, khóa luận, luận văn, luận án) có các quyền nhân thân không thể
chuyển giao, đó là quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên đối với
tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người
khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức
nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Các quyền nhân
thân này vĩnh viễn thuộc về tác giả, kể cả trường hợp tác giả không là
chủ sở hữu tác phẩm khoa học.
Tác giả của kết quả nghiên cứu (như khóa luận, luận văn, luận án)
đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có các quyền nhân thân và quyền
tài sản theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật SHTT. Đa số các
trường hợp tác giả của khóa luận, luận văn, luận án đồng thời là chủ sở
hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp tổ chức hoặc cá
nhân đầu tư cơ sở vật chất, tài chính để thực hiện đề tài thì tùy theo sự
thỏa thuận giữa hai bên (chẳng hạn như giáo sư M đang thực hiện dự án
bằng vốn tự cân đối đã đầu tư cho học viên B toàn bộ tài chính để thực
hiện luận văn thạc sĩ và sử dụng kết quả nghiên cứu đó), một số trường
hợp nhà trường hỗ trợ phòng thí nghiệm, tiền in ấn thì không trở thành
chủ sở hữu quyền tác giả đối với khóa luận, luận văn, luận án.
Trong một số trường hợp người hướng dẫn khoa học khóa luận,
luận văn, luận án hoặc đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên đã lấy các
kết quả nghiên cứu này và xuất bản (đương nhiên xem là thuộc quyền sở
hữu của mình) hoặc đưa vào nội dung đề tài nghiên cứu khoa học (không
trích dẫn nguồn) là xâm phạm quyền tác giả. Đây là tình trạng xảy ra khá
hổ biến hiện nay.
Ví dụ: Giảng viên A hướng dẫn luận văn thạc sĩ cho học viên B.
Luận văn được bảo vệ ngày 1/7/2013. Cũng trong thời gian này, giảng
viên A làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đã lấy trên 80% nội
dung trong luận văn đưa vào báo cáo tổng kết đề tài. Đề tài được nghiệm
thu chính thức vào ngày 15/9/2013. Sau khi nghiệm thu và xuất bản
thành sách mới bị phát hiện giống kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc
sĩ của học viên B.
275
Thứ hai, chủ sở hữu quyền tác giả khóa luận, luận văn, luận án
hoặc kết quả nghiên cứu khoa học.
Cá nhân tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả: Tác giả tự
mình sáng tạo và tự đầu tư tài chính, cơ sở vật chất tạo nên khóa luận,
luận văn, luận án và kết quả nghiên cứu khoa học là chủ sở hữu quyền tác
giả.
Tổ chức đã đầu tư tài chính, cơ sở vật chất để cá nhân tạo ra kết
quả nghiên cứu (chủ yếu là đề tài nghiên cứu) là chủ sở hữu quyền tác
giả.
Tổ chức và cá nhân cùng đầu tài chính, cơ sở vật chất tạo ra kết quả
nghiên cứu (chủ yếu là kết quả nghiên cứu khoa học) trên cơ sở thỏa
thuận là đồng chủ sở hữu quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả đối với khóa luận, luận văn, luận án, kết
quả nghiên cứu khoa học có quyền công bố tác phẩm, cho người khác
công bố tác phẩm theo Điều 19 và các quyền tài sản theo Điều 20 Luật
SHTT.
6.2. Một số kết quả nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực khoa học
giáo dục
6.2.1. Tác phẩm phái sinh
Việc kế thừa các tác phẩm đã tồn tại, các nghiên cứu đi trước trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học là một trong số các yếu tố thúc
đẩy sự phát triển của tài sản trí tuệ. Tác phẩm phái sinh là một trong các
dạng tác phẩm thực hiện việc kế thừa vừa nêu, đồng thời tác phẩm phái
sinh cũng là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Khoản 3 Điều 2 Công
ước Berne đã quy định về tác phẩm phái sinh: “Các tác phẩm dịch, mô
phỏng, chuyển nhạc và các chuyển thể khác từ một tác phẩm văn học
hoặc nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc, miễn không
phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc”.
Trước hết, tác phẩm phái sinh chỉ được hình thành trên cơ sở
một/các tác phẩm đã tồn tại. Tác phẩm đã tồn tại có thể còn thời hạn hoặc
hết thời hạn bảo hộ quyền công bố và quyền tài sản. Quyền cho làm tác
phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tác phẩm, quyền này
276
được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 20 Luật SHTT. Do đó, có thể
tồn tại hai tình huống:
- Tình huống 1: Sáng tạo tác phẩm phái sinh mà không cần phải
được phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc/các tác phẩm gốc;
- Tình huống 2: Sáng tạo tác phẩm phái sinh, nhưng nhất thiết phải
được phép của chủ sở hữu tác phẩm gốc/các tác phẩm gốc.
Trong cả hai tình huống trên thì các quyền nhân thân được quy
định tại Khoản 1, 2, 4 Điều 19 Luật SHTT (sau đây gọi tắt là quyền nhân
thân không thể chuyển giao) luôn luôn tồn tại, do đó ngay cả trong tình
huống một thì người sáng tạo tác phẩm phái sinh vẫn phải tôn trọng
quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả tác phẩm gốc.
Thuật ngữ tác phẩm gốc vừa nêu phải là tác phẩm mà người sáng
tạo tác phẩm phái sinh dựa trên nền của nó để sáng tạo của mình, do đó
tác phẩm hỗ trợ tác giả tác phẩm phái sinh trong quá trình sáng tạo thì
không được coi là tác phẩm gốc.
Về hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh. Pháp luật quyền tác
giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của
ý tưởng. Do đó, trong nhiều trường hợp hình thức thể hiện của tác phẩm
phái sinh phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình
thức thể hiện của tác phẩm gốc.
Tác phẩm phái sinh phải đảm bảo tính nguyên gốc. Nguyên tắc này
được thể hiện nếu tác giả phải tự mình sáng tạo nên tác phẩm mà không
sao chép từ tác phẩm/các tác phẩm khác. Thuật ngữ “tác phẩm khác”
được hiểu là kể cả tác phẩm của chính tác giả đó. Tác phẩm phái sinh
không phải là đối tượng loại trừ của nguyên tắc này, do đó để một tác
phẩm phái sinh được bảo hộ thì nó phải mang dấu ấn sáng tạo của tác
giả. Ranh giới giữa sáng tạo từng phần và sáng tạo hoàn toàn là dễ nhận
biết, nhưng ranh giới giữa sáng tạo và sao chép, giữa sáng tạo tác phẩm
phái sinh và xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc là khó nhận biết.
Sự xâm phạm này thường thể hiện ở việc xâm phạm quyền nhân thân
không thể chuyển giao trong quyền tác giả.
Dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh. Mặc dù tác
phẩm phái sinh phải đảm bảo tính nguyên gốc như vừa phân tích, nhưng
277
dấu ấn của tác phẩm gốc phải được thể hiện trong tác phẩm phái sinh, có
nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng
đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện chủ yếu qua nội dung
của tác phẩm gốc.
Các loại hình tác phẩm phái sinh vừa nêu có thể chia thành các
nhóm:
- Có tác động đến cấu trúc của tác phẩm gốc: Tác phẩm dịch, tác
phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể…
- Không tác động đến cấu trúc của tác phẩm gốc: Tác phẩm tuyển
chọn, tác phẩm biên soạn, chú giải…
Qua các đặc điểm của tác phẩm phái sinh vừa được phân tích ở
trên, tạm thời đưa ra định nghĩa về tác phẩm phái sinh: Tác phẩm phái
sinh là sản phẩm trí tuệ do cá nhân/những cá nhân trực tiếp sáng tạo,
được hình thành trên cơ sở một/những tác phẩm đã tồn tại (tác phẩm
gốc) trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được thể hiện bằng
bất kỳ phương thức hay hình thức nào khác biệt với phương thức hay
hình thức thể hiện của tác phẩm gốc, thông qua một dạng vật chất nhất
định80.
6.2.2. Chương trình máy tính
Như đã phân tích, các đối tượng của quyền SHTT được phát sinh
thuộc nhóm ngành khoa học giáo dục hiểu theo nghĩa rộng, trong đó có
Khoa học tự nhiên, Khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Chương trình máy tính là sản phẩm trí tuệ có thể được phát sinh từ
hai lĩnh vực khoa học vừa nêu.
Khoản 1 Điều 22 Luật SHTT quy định: “Chương trình máy tính là
tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ
hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính
đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc
hoặc đạt được một kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ
như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã
80 Trần Văn Hải (2012), Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh, Tạp chí Khoa
học pháp lý, số 04 (71)/2012, tr.18-23 và tr.27 ISSN 1859-3879.
278
máy”, đồng thời khoản 2 điều 59 Luật SHTT quy định việc không cấp
bằng độc quyền sáng chế (patent) cho chương trình máy tính, như vậy
pháp luật Việt Nam quy định chỉ bảo hộ quyền tác giả đối với chương
trình máy tính.
Trong thực tế thì nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) đã cấp
patent cho chương trình máy tính. Ví dụ, Đạo luật sáng chế 1970 (Patents
Act, 1970) của Ấn Độ quy định có thể cấp patent cho chương trình máy
tínhkhi nó được kết hợp với một cấu trúc vật lý. Án lệ số 450 U.S. 175
(1981) của Hoa Kỳ công nhận phần mềm được liên kết với một cấu trúc
vật lý thì có thể được cấp patent.
Nhưng trong thực tế, cơ quan Sáng chế Hoa Kỳ đã cấp patent cho
chương trình máy tính khi nó không liên kết với một cấu trúc vật lý. Có
thể đưa ra dẫn chứng, ngày 5/6/2012 cơ quan Sáng chế Hoa Kỳ đã cấp:
- Patent số US8195953 (B1) cho sáng chế “Chương trình máy tính
được xây dựng trong phần mềm bảo vệ độc hại”81.
- Patent số US8196206 (B1) cho sáng chế “Trình duyệt hệ thống
mạng, phương pháp, sản phẩm chương trình máy tính để quét dữ liệu cho
nội dung không mong muốn và các trang web liên quan không mong
muốn”82.
Tại Việt Nam, mặc dù Khoản 1 Điều 22 Luật SHTT quy định như
đã nêu, nhưng Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế do Cục SHTT
ban hành cũng vận dụng việc cấp patent cho chương trình máy tính được
gắn với một cấu trúc vật lý, có thể dẫn chứng:
- Patent số 4341 cấp ngày 26/7/2004 (số đơn 1-2000-01144 nộp
ngày 14/4/1999, số đơn quốc tế là PCT/JP00/02229) có tên: “Thiết bị
quản lý dữ liệu, phương pháp quản lý dữ liệu và vật ghi chương trình
quản lý dữ liệu”.
81
United States Patent US8195953 (B1): “Computer program with built-in malware
protection”.
82
United States Patent US8196206 (B1):“Network browser system, method, and
computer program product for scanning data for unwanted content and associated
unwanted sites”.
279
- Patent số 9570 cấp ngày 27/9/2011 (số đơn 1-2008-1027 nộp
ngày 28/9/2006, số đơn quốc tế là PCT/IB06/002693) có tên: “Thiết bị,
phương pháp và vật ghi chương trình máy tính để yêu cầu tăng tốc độ dữ
liệu dựa vào khả năng truyền thêm ít nhất một khối dữ liệu được chọn”.
Cũng cần nói thêm là cho đến thời điểm này, tại Việt Nam nếu
chương trình máy tính không “gắn” với “sản phẩm” thì không thể được
cấp patent, như quy định của Cục SHTT đã chỉ rõ: “Trong trường hợp
chương trình máy tính có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
như nêu trên, thì trong yêu cầu bảo hộ, các đối tượng có tên được thể
hiện bằng cụm từ như “chương trình máy tính”, “phần mềm máy tính”,
“sản phẩm chương trình/phần mềm máy tính”, hoặc “tín hiệu mang
chương trình”, và các cụm từ tương đương khác là không được chấp
nhận”83.
Để có thể được cấp patent thì trước hết chương trình máy tính phải
là một giải pháp kỹ thuật. Lý thuyết về sáng chế coi giải pháp kỹ thuật
tồn tại ở 3 dạng: vật thể, chất thể, quy trình. Như vậy, giải pháp kỹ thuật
có thể tồn tại ở dạng hữu hình hoặc dạng vô hình84.
Qua kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Ấn Độ và thực tế ở Việt Nam đã
xem chương trình máy tính là giải pháp kỹ thuật ở dạng vật thể, khi nó
liên kết với một cấu trúc vật lý. Đặc biệt, Hoa Kỳ đã cấp patent cho
chương trình máy tính khi nó không liên kết với bất kỳ một cấu trúc vật
lý nào, hay nói cách khác patent có thể cấp cho chương trình máy tính
ngay cả khi nó tồn tại ở dạng vô hình.
Bởi vậy, có thể ban hành quy định bảo hộ sáng chế đối với ba loại
chương trình máy tính sau:
1. Hệ điều hành (Operating System), bởi vì nó là một phần mềm
cần thiết để người dùng quản lý hệ thống và chạy các phần mềm ứng
dụng khác trên hệ thống. Nó không chỉ có nghĩa là “phần lõi” tương tác
trực tiếp với phần cứng mà còn cả các thư viện cần thiết để các chương
trình quản lý và điều hành hệ thống.
83 Trích Điều 5.8.2.5 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế, đd.
84
Phạm Phi Anh, Trần Văn Hải (2011), Sáng chế và mẫu hữu ích, Trường Đại học
KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.19-21.
280
2. Hệ thống nhúng (Embedded System), bởi vì nó là một hệ thống
có khả năng tự trị được nhúng vào trong một môi trường hay một hệ
thống mẹ. Đó là các hệ thống tích hợp cả phần cứng và phần mềm phục
vụ các bài toán chuyên dụng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, tự
động hóa điều khiển, quan trắc và truyền tin.
3. Phần mềm hệ thống (System Software), bởi vì đây là phần
mềm giúp hệ thống máy tính hoạt động, nhiệm vụ của nó là tích hợp,
điều khiển và quản lý các phần cứng riêng biệt của hệ thống máy tính.
Phần mềm hệ thống thực hiện các chức năng như chuyển dữ liệu từ bộ
nhớ vào đĩa, xuất văn bản ra màn hình.
Đồng thời, nên ban hành quy định bảo hộ quyền tác giả đối với
Phần mềm ứng dụng (Application Software), bởi vì đây là một loại
chương trình có khả năng làm cho máy tính thực hiện trực tiếp một công
việc nào đó theo yêu cầu của người dùng. Phần mềm ứng dụng không
liên kết với phần cứng của máy tính.
Về lâu dài, nên coi chương trình máy tính là đối tượng độc lập của
quyền SHTT, bởi vì bảo hộ quyền tác giả cho chương trình máy tính hay
cấp patent cho nó đều bộc lộ những bất cập như đã phân tích. Khi coi
chương trình máy tính là đối tượng độc lập của quyền SHTT thì phải có
quy định riêng để bảo hộ nó, quy định này không phải là bản sao các quy
định của pháp luật quyền tác giả và pháp luật về sáng chế, nhưng nó phải
loại bỏ được những bất hợp lý trong các mục như đã phân tích ở trên,
trong đó nên có những quy định đáp ứng các điểm sau:
Một là, tách chương trình máy tính như một đối tượng độc lập được
bảo hộ quyền SHTT. Thực tế cho thấy, do sự phát triển của KH&CN,
nên những năm gần đây mới xuất hiện thêm các đối tượng mới của quyền
SHTT như chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn... Bởi
vậy, chương trình máy tính được xuất hiện như một đối tượng mới của
quyền SHTT cũng là điều bình thường.
Hai là, không kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với CTMT
là suốt cuộc đời tác giả và được chấm dứt vào năm thứ 50 khi tác giả
(hoặc đồng tác giả cuối cùng qua đời) như quy định hiện hành. Quy định
này có thể kéo lùi sự phát triển của công nghiệp phần mềm, thực tiễn cho
281
thấy hiện nay ít thấy người còn dùng hệ điều hành Window 95. Bởi vậy,
rất cần sự phân loại chương trình máy tính để quy định thời hạn bảo hộ
quyền tài sản đối với mỗi loại chương trình máy tính cho thích hợp. Tác
giả đề xuất, thời hạn bảo hộ đối với chương trình máy tính lớn, các hệ
điều hành là 10 năm (có thể gia hạn bảo hộ 1 lần), thời hạn bảo hộ đối
với các chương trình máy tính còn lại là 5 năm (có thể gia hạn bảo hộ 1
lần). Việc quy định gia hạn bảo hộ là cần thiết, vì trong thực tế vòng đời
công nghệ của các chương trình máy tính có thể khác nhau, tác giả/chủ
sở hữu chương trình máy tính chỉ yêu cầu gia hạn bảo hộ nếu chương
trình máy tính đó còn có ý nghĩa. Sau thời hạn trên, chương trình máy
tính thuộc tài sản chung của nhân loại, mọi người có thể sử dụng và nâng
cấp chương trình máy tính đó. Rất có thể vòng đời của một chương trình
máy tính nào đó kết thúc sớm hơn thời hạn được bảo hộ, nhưng pháp luật
cũng khó có thể điều chỉnh chi tiết đến từng đối tượng cụ thể được, cũng
như thời hạn bảo hộ cho sáng chế là 20 năm, nhưng có nhiều công nghệ
được bảo hộ là sáng chế đã bị tiêu vong sớm hơn 20 năm.
- Tham khảo Điều 117 Luật Quyền tác giả của Hoa Kỳ để sửa đổi
khoản 10 điều 4 Luật SHTTquy định về sao chép, pháp luật phải cho
phép người sử dụng chương trình máy tính được quyền lưu giữ bản sao
chương trình máy tính đề phòng sự cố kỹ thuật của máy tính. Đề xuất này
nên được coi là hiển nhiên, vì trên thế giới có nhiều nước đã ban hành
quy định này, ví dụ Điều 26g Luật Quyền tác giả của Thụy Điển quy
định: “Bất kỳ người nào có quyền sử dụng chương trình máy tính thì
được quyền làm bản sao dự phòng của chương trình đó, nếu điều này là
cần thiết cho mục đích sử dụng chương trình”.
- Cho phép chủ sở hữu hoặc người sử dụng chương trình máy tính
được quyền cải tiến, nâng cấp chương trình máy tính (mà không bị coi là
xâm phạm quyền nhân thân của những người lập trình trước) và được
công nhận là chủ sở hữu của phần nâng cấp đó. Nếu trong trường hợp
phần nâng cấp chỉ có thể hoạt động được khi phải sử dụng chương trình
máy tính gốc thì cần quy định thêm chủ sở hữu CTMT gốc phải cho phép
người nâng cấp sử dụng chương trình máy tính gốc (có thu phí). Khi
tham khảo Luật Quyền tác giả của Thụy Điển, ta thấy quy định tại điều
26g: “Bất kỳ người nào có được quyền sử dụng chương trình máy tính
282
thì được quyền làm bản sao chương trình và tiến hành các cải biên
chuyển thể cần thiết phục vụ cho mục đích sử dụng của bản thân người
đó. Điều này cũng áp dụng đối với các chỉnh sửa lỗi”85 đã chuyển tải ý
tưởng này86.
6.2.3. Quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Trước hết, môi trường kỹ thuật số được hiểu là mạng máy tính và
mạng Internet; song đó là một cách hiểu chưa đầy đủ, máy tính và
Internet chỉ là hai trong nhiều đối tượng của môi trường kỹ thuật số.
Các thiết bị Kỹ thuật số dùng để lưu trữ dữ liệu (như máy nghe
nhạc MP3, Ipod, Network Walkman, các loại thẻ nhớ XD, SD, MMC,
các loại ổ cứng di động “Flashdisk”, máy chụp ảnh không dùng phim,
máy ghi âm không dùng băng…); một chiếc điện thoại di động khi gửi
một bản nhạc chuông cho một máy khác (bằng kết nối không dây
“wireless” qua cổng hồng ngoại, bluetooth, hoặc qua dịch vụ mạng viễn
thông) cũng là các đối tượng thuộc môi trường kỹ thuật số, hoặc là khi
chép một truyện ngắn từ một trang web vào ổ cứng di động, lúc đó vấn
đề quyền tác giả sẽ được đặt ra.
Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, giáo trình/bài giảng, sách tham
khảo, luận văn, luận án,… có thể tồn tại ở dạng số hóa ở file doc. (có thể
dễ dàng sao chép) hoặc file pdf. (có thể sao chép không dễ dàng hoặc
không thể sao chép). Do đó, việc nghiên cứu bảo hộ quyền tác giả trong
môi trường kỹ thuật số là quan trọng đối với lĩnh vực khoa học giáo dục.
Giáo trình/bài giảng, sách tham khảo, luận văn, luận án, đề tài
nghiên cứu khoa học,... khi được số hóa, lưu trên mạng Internet có những
đặc điểm sau:
85
Act on Copyright in literary and artistic Works (Act 1960: 729, of December 30,
1960, as amended up to April 1, 2009). Article 26g. “Anyone who has acquired the
right to use a computer program is entitled to make such copies of the program and to
make such adaptations of the program which are necessary in order for him to use the
program for its intended purpose. This also applies to corrections of errors”.
86 Trần Văn Hải (2012), Bảo hộ chương trình máy tính như đối tượng độc lập của quyền
sở hữu trí tuệ, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2012 (294), tr 33-42 ISSN 0866-
7446.
283
- Dễ sao chép: Một tác phẩm khi đã được số hóa có thể sao chép
một cách dễ dàng, nhanh chóng, chi phí thấp mà chất lượng vẫn đảm bảo.
Mỗi bản copy lại tiếp tục được sao thành nhiều bản khác mà vẫn giữ
nguyên chất lượng ban đầu. Như vậy, chỉ cần một bản copy thôi cũng có
thể đáp ứng được nhu cầu của hàng triệu người.
- Dễ phổ biến: Mạng số hóa toàn cầu cho phép phổ biến tác phẩm
dưới dạng số một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Giống như phát
thanh truyền hình, mạng kỹ thuật số cho phép từ một trung tâm có thể
truyền phát tới hàng triệu cá nhân (mặc dù có điểm khác biệt ở đây là các
tác phẩm số hóa không nhất thiết phải đến tay người nhận cùng một lúc).
Tuy nhiên, mạng số hóa còn cho phép mỗi cá nhân có thể trở thành chủ
thể truyền phát, khiến cho số luợng phân phối tăng theo theo cấp số nhân,
đôi khi gọi là hiệu ứng virus.
- Dễ lưu trữ: Có thể lưu trữ một dung lượng lớn các thông tin số
hóa, và mỗi năm giới hạn dung lượng đó lại được mở rộng ra rất nhiều.
Về bảo hộ giáo trình/bài giảng, sách tham khảo, luận văn, luận án,
đề tài nghiên cứu khoa học,… khi được số hóa, có những đặc điểm sau:
- Quyền nhân thân không thể chuyển giao được quy định tại khoản
1,2,4 điều 19 Luật SHTT luôn luôn tồn tại, kể cả đối với các tác phẩm mà
tác giả của chúng đã chết trên 50 năm. Hệ quả phát sinh là: người sao
chép tác phẩm/một phần tác phẩm (dù chỉ là 1 câu) buộc phải dẫn nguồn
tác phẩm, trong đó bắt buộc phải có tên tác giả, tên tác phẩm, nơi công
bố tác phẩm, năm công bố tác phẩm;
- Người sao chép tác phẩm không được phép xuyên tạc tác phẩm
dưới bất kỳ hình thức nào theo quy định tại khoản 4 điều 19 Luật SHTT;
- Đối với những tác phẩm số hóa có cài phần mềm chống sao chép:
người sử dụng internet chỉ được phép đọc tác phẩm mà không được phép
sao chép. Điều 28 Luật SHTT đã quy định hành vi xâm phạm quyền tác
giả bao gồm:
+ Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở
hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của
mình;
284
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Sở hữu trí tuệ (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_so_huu_tri_tue_phan_2.pdf

