Thực trạng và một số biện pháp quản lí hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ ở các trường Mầm non Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 14-18  
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ  
HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO AN TOÀN CHO TRẺ  
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Tô Ngọc Dung - Trường Mầm non Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 09/5/2019; ngày chỉnh sửa: 20/5/2019; ngày duyệt đăng: 27/5/2019.  
Abstract: Ensuring safety, avoiding injury for preschool children is an important task. Therefore,  
education management levels and pre-schools must always pay attention to direct the  
implementation of the absolute physical and mental safety for preschool children. The article  
presents the current situation and proposes some measures to manage child safety activities in  
preschools in District 7, Ho Chi Minh City.  
Keywords: Current situation, measures, management, safety, preschool children.  
1. Mở đầu  
2. Nội dung nghiên cứu  
Trẻ em lứa tuổi mầm non (MN) thường phát triển 2.1. Thực trạng hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ ở  
các trường mầm non Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh  
2.1.1. Thực trạngđội ngũcánbộ quảnlí, giáoviênthamgia  
hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ ở các trường mầm non  
Các số liệu thống kê phục vụ cho khảo sát thực trạng  
được thu thập trong 2 năm học: 2016-2017 và 2017-2018.  
Nghiên cứu được thực hiện với 30 cán bộ quản lí (CBQL),  
90 giáo viên (GV) của 17 trường MN trong Quận 7.  
nhanh về thể chất, trí tuệ và tâm, sinh lí. Ở giai đoạn này,  
trẻ rất hiếu động, tò mò, thích tự khám phá, tìm hiểu thế  
giới xung quanh, trong khi khả năng ứng phó để tự bảo  
vệ bản thân còn hạn chế. Do vậy, tai nạn thương tích có  
thể xảy ra bất cứ lúc nào, gây nguy hiểm cho trẻ. Trong  
việc chăm sóc, giáo dục (GD) trẻ, nếu thiếu kiến thức, sai  
phương pháp, không quan tâm đầy đủ cũng dễ dẫn đến  
những tổn thương, sang chấn về thể chất, tâm lí có thể  
ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của trẻ.  
Trong các hoạt động nói chung và hoạt động đảm bảo  
an toàn cho trẻ ở trường MN nói riêng, tuổi đời, tuổi  
nghề, trình độ chuyên môn,… của CBQL và GV có ảnh  
hưởng rất lớn đến chất lượng của hoạt động. Tuổi đời và  
thâm niên công tác của GV và CBQL tại các trường MN  
trên địa bàn Quận 7, TP. Hồ Chí Minh được thể hiện qua  
bảng 1 và bảng 2 như sau:  
Hoạt động đảm bảo an toàn, tránh thương tích cho trẻ  
MN được xác định là một nhiệm vụ rất quan trọng của  
các trường MN, bởi đây là lứa tuổi cần được giám sát,  
bảo vệ khi ý thức tự bảo vệ bản thân của trẻ chưa được  
hình thành đầy đủ. Chính vì thế, các cấp quản lí GD, các  
trường MN đã luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện việc bảo  
đảm an toàn tuyệt đối về thể chất cũng như tinh thần cho  
trẻ MN.  
Bảng 1. Thâm niên công tác của CBQL và GV  
Tổng  
SL  
Tỉ lệ  
(%)  
Thâm niên  
GV CBQL  
Phần lớn các trường hợp tai nạn thương tích xảy ra  
ở trẻ em là do sự bất cꢀn của người lớn. Qua báo cáo  
thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em, tổ chức  
Y tế Thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và nhiều  
đối tác khác đã quyết định phải đưa vấn đề thương tích  
trẻ em thành một ưu tiên cho y tế công cộng toàn cầu  
và phát triển các cộng đồng. Kiến thức và kinh nghiệm  
của gần hai trăm chuyên gia từ tất cả các lục địa và các  
ngành nghề khác nhau là vô giá trong việc đặt nền móng  
cho báo cáo trong thực tế cần sự chú ý ở rất nhiều quốc  
gia [1]. Tại Việt Nam, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT yêu cầu:  
Các cơ sở GD phải tăng cường công tác phòng, chống  
tai nạn thương tích cho trẻ em [2]. Bài viết trình bày  
thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động  
đảm bảo an toàn cho trẻ ở các trường MN Quận 7, TP.  
Hồ Chí Minh.  
Từ 1 đến  
dưới 5 năm  
44  
67  
24  
6
10  
15  
2
54  
82  
26  
7
32,0  
48,5  
15,4  
4,1  
Từ 5 đến  
dưới 10 năm  
Từ 10 đến  
dưới 20 năm  
Từ trên  
20 năm  
1
Độ tuổi  
Dưới 30  
0
0
12  
7
12  
7
42,9  
25,0  
Từ  
30-40 tuổi  
Từ  
40-50 tuổi  
0
9
9
32,1  
14  
Email: todungmn@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 14-18  
Bảng 1 cho thấy, với thâm niên từ 5 đến 10 năm trong hoạch phòng tránh tai nạn thường gặp ở trẻ; Phổ biến  
nghề chiếm đa số tại các trường MN trên địa bàn quận, thông tin cho đội ngũ GV kế hoạch an toàn vệ sinh thực  
các GV và CBQL đã có nhiều thời gian để tích luỹ kinh phẩm, phòng tránh ngộ độc thực phẩm, an toàn chăm  
nghiệm trong quá trình chăm sóc và nuôi dạy trẻ. Mặt sóc sức khoẻ phòng chống dịch bệnh, tai nạn thường gặp  
khác, đội ngũ GV, CBQL ở tuổi dưới 30 chiếm tỉ lệ cao ở trẻ; Phân công nhiệm vụ cho cá nhân phụ trách trong  
nhất (chiếm 42,9%). Đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp việc kiểm soát nguồn nguyên liệu thực phẩm đảm bảo an  
các trường triển khai các hoạt động GD mang lại hiệu toàn tươi sạch; Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ  
quả cao, đặc biệt là hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ GV nâng cao khả năng phát hiện, xử lí và phòng chống  
trong nhà trường.  
những tai nạn thương tích ở trẻ” được GV và CBQL tại  
các trường MN trên địa bàn tham gia khảo sát đánh giá  
cao với điểm trung bình dao động từ 3,82 đến 4,43, đạt  
mức 4, và 5 trong các trường hợp đánh giá thường xuyên  
và hiệu quả. Độ lệch chuꢀn trong các trường hợp thấp  
dao động mức 0,4 và 0,7 thể hiện sự thống nhất trong  
đánh giá ở các trường. Qua phỏng vấn - trò chuyện với  
đội ngũ GV nhà trường, có thể thấy, hoạt động đảm bảo  
an toàn cho trẻ cần có kế hoạch cụ thể không chỉ trong  
các hoạt động GD mà còn trong các hoạt động chăm sóc,  
nuôi dưỡng trẻ. Vì vậy, các trường MN trên địa bàn Quận  
7, TP. Hồ Chí Minh luôn xây dựng kế hoạch hoạt động  
đảm bảo an toàn trong các hoạt động vui chơi, nhận thức;  
hoạt động lao động ngày lễ hội và trong quá trình chăm  
sóc, nuôi dưỡng, hoạt động an toàn thực phꢀm, phòng  
chống tai nạn gây thương tích cho trẻ thường xuyên.  
Về thâm niên công tác, CBQL và GV mới vào nghề  
thường ít kinh nghiệm, dẫn đến việc xử lí các tình huống  
sẽ không linh hoạt. Cán bộ có thâm niên cao thì thường  
nhiều kinh nghiệm tốt.  
Về độ tuổi, cán bộ trẻ thì năng động, dễ tiếp cận với  
cái mới nhưng còn thiếu kinh nghiệmtrong công tác. Cán  
bộ ở độ tuổi quá lớn sẽ giàu kinh nghiệm nhưng đôi khi  
bảo thủ, ít cập nhật những vấn đề mới.  
Trình độ chuyên môn và công tác bồi dưỡng nghiệp  
vụ: Trình độ chuyên môn cao nhất của GV và CBQL tại  
các trường MN trên địa bàn chủ yếu ở trình độ cao đẳng,  
được thể hiện qua bảng 2 như sau:  
Bảng 2. Trình độ chuyên môn của GV và CBQL  
Bằng cấp  
chuyên môn  
Tổng  
SL  
Tỉ lệ  
(%)  
GV CBQL  
Như vậy, tuy các trường có kế hoạch trong việc đảm  
bảo an toàn cho trẻ trong các hoạt động GD, chăm sóc  
sức khoẻ, nuôi dưỡng trẻ, hướng dẫn cho GV biết cách  
giữ vệ sinh các thiết bị, đồ dùng, kiểm soát nguồn nguyên  
liệu chế biến thức ăn cho trẻ, cũng như hướng dẫn cho  
GV cách thức phối hợp với bộ phận y tế, cha mẹ học sinh  
để kịp thời xử lí khi trẻ bị sốt cao, nhưng công tác tìm  
hiểu xác định những nguyên nhân, những khó khăn  
thường gặp về hoạt động đảm bảo an toàn trong hoạt  
động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ còn hạn chế, chưa hiệu  
quả. Việc hướng dẫn GV nắm vững kiến thức về an toàn  
vệ sinh thực phꢀm, khả năng phát hiện, xửlí phòng chống  
dịch bệnh, quan tâm chăm sóc trẻ bệnh, kém ăn chưa  
thường xuyên. Đồng thời, công tác phối hợp với các lực  
lượng trong và ngoài nhà trường trong phòng chống dịch  
bệnh, an toàn vệ sinh thực phꢀm, khả năng gây thương  
tích cho trẻ ít được thực hiện, chưa thường xuyên, chỉ  
mang tính đột xuất.  
Trung cấp  
Cao đẳng  
Đại học  
53  
80  
8
7
3
60  
83  
35,5  
49,1  
9,5  
8
16  
Thạc sĩ  
0
10  
28  
10  
5,9  
Tổng cộng  
141  
169  
100,0  
Bảng 2 cho thấy, sự phân bổ về trình độ chuyên môn  
của các GV và CBQL tại các trường: 100% đội ngũ đều  
đạt chuꢀn nghề nghiệp GV MN theo quy định của Bộ  
GD-ĐT. Đa số GV và CBQL có trình độ trên chuꢀn  
(chiếm 64,5%); thậm chí, có 5,9% có trình độ thạc sĩ, chủ  
yếu là những CBQL ở vị trí hiệu trưởng (HT) và phó HT  
tại các trường.  
Để nâng cao chất lượng trong GD trẻ ở trường MN,  
CBQL nhà trường cần quan tâm tổ chức cho CBQL, GV  
thamgia bồi dưỡng đầy đủ và toàndiệntrong việc nâng cao  
chuyên môn nghiệp vụ về đảm bảo an toàn cho trẻ MN.  
2.1.3. Thực trạng về cơ sở vật chất và các điều kiện đảm  
bảo an toàn cho trẻ ở trường mầm non  
2.1.2. Thực trạng quản lí hoạt động đảm bảo an toàn  
trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ ở trường mầm non  
Việc quản lí công tác đảm bảo an toàn trong hoạt  
Cơ sở vật chất và các điều kiện đảm bảo an toàn cho  
động nuôi dưỡng trẻ ở trường MN được thực hiện dựa trẻ trong quá trình hoạt động vui chơi được các trường  
trên các chức năng quảnlí và thực trạng quản lí hoạt động MN thực hiện đầy đủ, đáp ứng yêu cầu về tiêu chí an  
đảm bảo an toàn trong hoạt động nuôi dưỡng trẻ ở trường toàn, làm hài lòng cha mẹ học sinh khi gửi con tại trường.  
MN được thể hiện trong bảng khảo sát cho thấy, các nội Tuy nhiên, sân chơi của trẻ phần lớn làm bằng xi măng,  
dung “Xây dựng định kì kế hoạch an toàn vệ sinh thực bê tông chưa được trải thảm cỏ. Đối với sàn trong lớp  
phẩm, chăm sóc sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh và kế học được GV, CBQL và cha mẹ học sinh cho rằng, gạch  
15  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 14-18  
bông chiếm 82,1- 88,9%. Khi trò chuyện, trao đổi với các nhân viêntrong hoạt động đảm bảoantoàn chotrẻ; - Tích  
đối tượng được phỏng vấn nhằm tìm hiểu sâu về trường cực trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động đảm bảo an  
hợp này, chúng tôi nhận thấy, một số phụ huynh cho rằng toàn cho trẻ, kế hoạch bồi dưỡng nâng cao nhận thức về  
“khuôn viên ngoài lớp học và không gian trong lớp được mục tiêu quan trọng trong hoạt động đảm bảo antoàn cho  
nhà trường trang bị an toàn và đẹp nhưng thiếu sân chơi trẻ. Kế hoạch phải cụ thể, chính xác, đáp ứng được nhu  
bằng cát”. Bên cạnh đó, một số CBQL cho rằng: “nhà cầu người học và mục tiêu hoạt động đảm bảo an toàn trẻ  
trường thiếu diện tích để xây dựng sân chơi an toàn hơn, trong nhà trường; - Tổ chức khảo sát, liên hệ với những  
sân chơi hiện tại làm bằng xi măng là để giúp trẻ tập thể trung tâm, đơn vị, cá nhân có uy tín, đáp ứng mục tiêu  
dục”. Sân chơi cho trẻ tại các trường chỉ làm bằng xi bồi dưỡng để hợp tác lựa chọn và thống nhất hình thức  
măng và chưa được trải thảm cỏ, dễ gây chấn thương cho bồi dưỡng, bồi dưỡng từ xa, tại chỗ và theo quy định của  
trẻ khi thực hiện các hoạt động vui chơi, bởi phần lớn trẻ Bộ GD-ĐT.  
rất hiếu động. Đây là hạn chế cần được khắc phục trong  
thời gian tới của các trường, góp phần đảm bảo an toàn  
cho trẻ.  
Bên cạnh đó, nhà trường tổ chức định kì, thường  
xuyên các hội nghị chuyên đề, làm mẫu nhằm giúp GV,  
nhân viên có điều kiện giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm,  
nâng cao hiểu biết về tầm quan trọng trong hoạt động  
đảm bảo an toàn cho trẻ và phát triển khả năng phối hợp,  
phát hiện, đề xuất những phương án hữu hiệu trong  
phòng chống tai nạn gây thương tích cho trẻ.  
2.2. Một số biện pháp quản lí hoạt động đảm bảo an  
toàn cho trẻ ở các trường mầm non Quận 7, Thành phố  
Hồ Chí Minh  
2.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ chăm sóc trẻ về  
mục tiêu và yêu cầu đảm bảo an toàn cho trẻ ở trường  
mầm non  
HT luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng  
được tham gia bồi dưỡng, xây dựng chính sách hỗ trợ về  
kinh phí, thời gian để thu hút sự tham gia của các đối  
tượng vào hoạt động bồi dưỡng.  
Đội ngũ GV và nhân viên trong trường MN là lực  
lượng tham gia trực tiếp vào các hoạt động GD cũng như  
những hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và tổ chức xây  
dựngmôi trườngGDantoànchotrẻ. Chínhvì vậy, để phát  
triển toàn diện cho trẻ trong trường MN, đội ngũ GV và  
nhân viên nhà trường ngoài việc giúp trẻ có những bữa ăn  
đầy đủ, được tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, cần  
nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và mục tiêu của hoạt động  
đảm bảo an toàn cho trẻ trong các hoạt động đó.  
HT thường xuyên động viên, khích lệ tinh thần tự bồi  
dưỡng cho đội ngũ GV, nhân viên thông qua cung cấp tài  
liệu, hướng dẫn nhiệt tình. Ngoài ra, để có cơ sở đánh giá  
và rút kinh nghiệm hoàn thiện trong công tác bồi dưỡng,  
nhà trường thường xuyên thực hiện khảo sát, thu thập ý  
kiến phản hồi từ người học, các lực lượng có liên quan  
một cách khách quan, công khai sau khi kết thúc khoá  
bồi dưỡng.  
Nội dung biện pháp tập trung vào việc tổ chức bồi  
dưỡng cho đội ngũ GV và nhân viên nhận thức đầy đủ về  
mục tiêu trong hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong  
nhà trường. Nội dung bồi dưỡng tập trung cung cấp cho  
người học những kiến thức và kĩ năng như: - Tầm quan  
trọng của việc xây dựng môi trường chăm sóc, nuôi dạy  
an toàn, phòng chống tai nạn gây thương tích cho trẻ, sự  
phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để  
xây dựng biện pháp hữu hiệu trong đảm bảo an toàn cho  
trẻ, cũng như thực hiện bồi dưỡng cho CBQL và GV về  
khả năng phát hiện, phòng chống nguy cơ gây thương tích  
chotrẻ; -Kĩ năngthamgia, phối hợptốt giữacác lựclượng  
trong và ngoài nhà trường, khả năng làm việc nhóm, khả  
năng phát hiện và đưa ra những phương án dự phòng hữu  
hiệu; - Khả năng tự bồi dưỡng nâng cao năng lực đảm bảo  
an toàn cho trẻ trong các hoạt động vui chơi, lao động, học  
tập, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ ở nhà trường.  
2.2.2. Phối hợp đồng bộ các lực lượng trong và ngoài nhà  
trường nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ ở trường mầm non  
Môi trường GD trong nhà trường MN được cấu thành  
từ cơ sở vật chất, cảnh quan của nhà trường, các hoạt  
động ngoại khóa, sự gương mẫu của cán bộ, GV. Chính  
vì vậy, tổ chức xây dựng môi trường GD an toàn cho trẻ  
phải có mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức  
thực hiện đáp ứng nhu cầu thực tiễn, đồng thời phải có  
sự phối hợp tham gia từ các lực lượng trong và ngoài nhà  
trường. Trong đó, nhà trường là lực lượng đóng vai trò  
chủ đạo trong việc xác định các nguồn lực và xây dựng  
kế hoạch thực hiện. Kế hoạch phải có mục tiêu cụ thể, rõ  
ràng trong từng nội dung, phân công trách nhiệm, sự phối  
hợp giữa các lực lượng GD để mang lại hiệu quả góp  
phần tạo nên môi trường GD an toàn, lành mạnh và đạt  
mục tiêu GD trường MN. Theo đó, biện pháp sẽ tậptrung  
vào việc xây dựng kế hoạch về tổ chức xây dựng một  
Để biện pháp được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, môi trường GD an toàn, thân thiện, lành mạnh cho trẻ  
HT cần: - Thật sự quan tâm và tiên phong trong việc tổ trong trường MN. Kế hoạch thể hiện sự tham gia, hợp tác  
chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cũng giữa GV, CBQL, nhân viên nhà trường với gia đình cha  
như bồi dưỡng những năng lực cần thiết cho đội ngũ GV, mẹ học sinh và các tổ chức, chính quyền địa phương trên  
16  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 14-18  
địa bàn. Kế hoạch phải thiết thực, dựa trên thực trạng,  
HT cần kịp thời triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ  
phù hợp với điều kiện nhà trường, đặc biệt kế hoạch phải GD-ĐT, các cấp liên quan đến công tác đảm bảo an toàn  
đưa ra được dự báo về nhu cầu nhà trường, khả năng đáp chotrẻ. Ngoài việc tạo sựthống nhất giữa các bộ phận, HT  
ứng của cơ sở vật chất, thiết bị giám sát, trang thiết bị học còn là người chỉ đạo cho GV, nhân viên thường xuyên  
tập, trang thiết bị y tế, khả năng cán bộ y tế, mức độ tổ phối hợp đánh giá xác định về khả năng đáp ứng mục tiêu,  
chức tập huấn bồi dưỡng nâng cao khả năng phát hiện, nội dung của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ theo các  
phòng chống tai nạn gây thương tích ở trẻ cho đội ngũ tiêu chí đã xây dựng theo bảng 1 và bảng 2 tại các trường  
GV, nhân viên nhà trường.  
MN trên địa bàn Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.  
HT nhà trường tích cực trong việc tạo dựng các mối  
quan hệ, hợp tác với các tổ chức, cơ quan chính quyền  
địa phương, phụ huynh trong việc huy động sự hỗ trợ  
kinh phí trang bị đồ dùng an toàn, thiết bị y tế cần thiết,  
cũng như phối hợp trong việc tổ chức bồi dưỡng nâng  
cao khả năng phát hiện, xử lí những tình huống, khả năng  
phòng chống tai nạn gây thương tích cho trẻ khi tham gia  
các hoạt động GD, hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ  
trong nhà trường MN.  
Bên cạnh đó, HT cần quan tâm tổ chức hướng dẫn,  
phân công cụ thể cho các bộ phận tham gia đánh giá tích  
cực, phổ biến một cách cụ thể các tiêu chí đánh giá, cách  
thức đánh giá trong từng bộ phận, đánh giá từng đối  
tượng, thời gian thực hiện, đối tượng tham gia. Ngoài ra,  
HT theo dõi, giám sát quá trình thực hiện, đảm bảo công  
tác khảo sát đánh giá công bằng, khách quan.  
HT phân công phó HT xử lí và phân tích, đánh giá dữ  
liệu thu thập được dựa trên những mức độ đã quy ước  
trong bảng 1 và bảng 2. HT sử dụng kết quả đánh giá  
thực hiện xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động  
phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội tổ chức bồi  
dưỡng, khen thưởng, khích lệ tinh thần đoàn kết, yêu  
nghề; xây dựng thành công môi trường GD an toàn, đáp  
ứng mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ tại các trường  
MN trên địa bàn Quận.  
Khảo sát, thu thập đầy đủ thông tin góp ý từ các bên  
liên quan về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức,  
thời gian thực hiện, thành phần tham gia để kịp thời điều  
chỉnh, hoàn thiện kế hoạch gần gũi với thực tế, phù hợp  
với điều kiện nhà trường.  
Kế hoạch tổ chức xây dựng môi trường GD an toàn  
cho trẻ được xây dựng ngay từ đầu năm học và lồng ghép  
vào kế hoạch GD chung của nhà trường.  
2.2.4. Tăng cường công tác y tế trong hoạt động đảm bảo  
an toàn cho trẻ ở trường mầm non  
Thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên quá trình  
để nhận xét, so sánh điều chỉnh kế hoạch. Kế hoạch thực  
hiện phải phổ biến đến từng đối tượng tham gia trong và  
ngoài nhà trường để giúp các lực lượng có thời gian và  
kế hoạch chuꢀn bị thực hiện đáp ứng mục tiêu đề ra.  
Công tác y tế trong hoạt động đảm bảo an toàn cho  
trẻ trong nhà trường là nhiệm vụ quan trọng trong việc  
thực hiện kế hoạch đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.  
Để tổ chức thành công, an toàn các hoạt động cho trẻ  
trong các trường MN trên địa bàn Quận 7, TP. Hồ Chí  
Minh diễn ra trong giờ lên lớp cũng như thông qua các  
hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khoá, tham quan, cần  
2.2.3. Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho  
đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên trong hoạt  
động chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non  
Biện pháp này nhằm đảm bảo đội ngũ chăm sóc trẻ có sự hỗ trợ tích cực từ công tác kiểm tra, đánh giá. Nếu  
trong trường MN luôn đáp ứng tốt những yêu cầu an toàn công tác kiểm tra, can thiệp xử lí đúng lúc, đúng chỗ, phát  
cho trẻ trong các hoạt động chăm sóc, GD thông qua việc hiện kịp thời trong những hoạt động của trẻ thì mới đảm  
thực hiện tổ chức đánh giá đội ngũ chăm sóc trẻ về khả bảo an toàn cho trẻ. Chính vì vậy, công tác kiểm tra, đánh  
năng thực hiện hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ tại giá trong hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ phải được  
trường, giúp các trường xác định chính xác về khả năng thực hiện thường xuyên, định kì, có kế hoạch, có mục tiêu,  
xác định mục tiêu, thực hiện nội dung hoạt động đảm bảo nội dung và đa dạng những phương pháp, hình thức tổ  
an toàn cho trẻ trong các hoạt động nhà trường. Ngoài ra, chức. Ngoài thực hiện kiểm tra, đánh giá xác định năng  
việc thực hiện đánh giá đội ngũ GV và nhân viên là cơ lực đội ngũ chăm sóc, công tác kiểm tra, đánh giá còn tập  
sở khoa học để tạo điều kiện, thông tin cụ thể cho lãnh trung vàoviệctổchứckiểmtra, đánhgiákhả năngđápứng  
đạo nhà trường xây dựng kế hoạch, dự trù nguồn lực phù của cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho vui chơi, lao  
hợp trong quá trình tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận động, học tập, thiết bị y tế, cảnh quan môi trường, thực  
thức cũng như khả năng thực hiện tốt từng nội dung hoạt phꢀm, địa điểm tổ chức hoạt động ngoại khoá, điều kiện,  
động đảm bảo an toàn cho trẻ, đáp ứng nhu cầu, nguyện phương tiện tổ chức hoạt động ngoại khoá đến hoạt động  
vọng và mục tiêu.  
đảm bảo an toàn cho trẻ.  
17  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 14-18  
HT các trường cần: - Quan tâm đến công tác kiểm tra,  
đánh giá kết quả hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ, tích  
cực trong việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá với  
những phương pháp và hình thức đa dạng; - Tổ chức  
kiểm tra, đánh giá theo định kì, đột xuất trong các hoạt  
động, tìm kiếm nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng, tổ chức  
MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI…  
(Tiếp theo trang 86)  
3. Kết luận  
Trưởng bộ môn có nhiều vai trò khác nhau và được  
dự giờ quan sát đánh giá, phân tích, trao đổi góp ý với nhóm thành hai nhóm chính: vai trò chấp hành (với tư  
các thành viên, cá nhân trực tiếp vào trong những hoạt cách là người quản lí cấp thấp) và vai trò điều hành (với  
động; - Tổ chức lấy ý kiến mua mới và bảo dưỡng trang tư cách là người quản lí trực tiếp một bộ môn). Hai vai  
thiết bị trong nhà trường, đảm bảo các trang thiết bị đầy trò này luôn song hành với nhau. Chính từ sự đặc thù của  
đủ và hoạt động an toàn; - Tổng hợp đánh giá, rút kinh vị trí quản lí để đáp ứng vai trò của mình, yêu cầu đội ngũ  
nghiệm và khen thưởng, nêu gương điển hình những cá trưởng bộ môn trong các trường đại học theo định hướng  
nhân, bộ phận thực hiện tốt nhiệm vụ.  
nghiên cứu phải vừa là một nhà sư phạm có năng lực,  
vừa là một nhà quản lí giỏi, có khả năng phát triển các  
mối quan hệ và liên kết, phối hợp tốt.  
3. Kết luận  
Từ nghiên cứu thực trạng về công tác quản lí hoạt  
động đảm bảo an toàn cho trẻ trong các trường MN trên  
địa bàn khảo sát là các trường MN thuộc Quận 7, TP. Hồ  
Chí Minh, người nghiên cứu đã chỉ ra những ưu điểm và  
hạn chế, những nguyên nhân khó khăn cũng như thuận  
lợi trong quá trình thực hiện quản lí hoạt động đảm bảo  
an toàn cho trẻ trong các trường MN trên địa bàn khảo  
sát để đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất  
lượng trong công tác quản lí hoạt động này.  
Bên cạnh đó, các biện pháp trên được trình bày đầy đủ,  
bao gồm mục đích, nội dung, cách thức thực hiện và điều  
kiện thực hiện. Các biện pháp cũng được đánh giá tính khả  
thi và sự cần thiết khi vận dụng vào thực tế trong công tác  
quản lí hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ tại các trường  
MN trên địa bàn Quận 7, TP. Hồ Chí Minh.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Cao Cự Giác (2017). Vai trò của trưởng bộ môn ở  
trường đại học và cao đẳng trong bối cảnh giáo dục  
cạnh tranh và hội nhập. Kỉ yếu hội nghị “Nâng cao  
chất lượng hoạt động của bộ môn và phát triển đội  
ngũ trưởng bộ môn ở trường đại học, cao đẳng đáp  
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”. Khối thi đua  
các trường đại học, cao đẳng, Vinh, tr 44-46.  
[2] Ngô Thị Thanh Hoàn (2017). Vị trí, vai trò của bộ  
môn, trưởng bộ môn ở trường đại học. Kỉ yếu hội  
nghị “Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ môn  
và phát triển đội ngũ trưởng bộ môn ở trường đại  
học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại  
học”. Khối thi đua các trường đại học, cao đẳng,  
Vinh, tr 74-76.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Margie Peden và cộng sự (2008). Báo cáo Thế giới  
về phòng chống thương tích ở trẻ em - Unicef. Thư  
viện của WHO, ISBN - 139789290614005.  
[2] Bộ GD-ĐT (2015). Quyết định số 04/VBHN  
-BGDĐT ngày 24/12/2015 Ban hành Điều lệ trường  
mầm non.  
[3] Bộ GD-ĐT (2016). Thông báo 341/TB-BGDĐT,  
ngày 27/5/2016, Kết quả Hội thảo “Đảm bảo an  
toàn cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non -  
Thực trạng và biện pháp”.  
[4] Bộ GD-ĐT (2008). Quyết định số 02/2008/QĐ  
-BGDĐT, ngày 22/01/2008 ban hành quy định về  
chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.  
[5] Bộ GD-ĐT (2009). Hội thảo về mô hình đào tạo  
giáo viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hà Nội.  
[6] Trình Dân - Nguyễn Thị Hòa (1993). Giáo dục học  
mầm non. NXB Đại học Sư phạm.  
[3] Trần Ngọc Giao (2012). Phát triển đội ngũ lãnh đạo  
và quản lí nhà nước về giáo dục các cấp. Đề tài mã  
số B2010-37-87TĐ.  
[4] Thái Văn Thành (2012). Phát triển đội ngũ trưởng  
bộ môn trường đại học Việt Nam - Những vấn đề lí  
luận và thực tiễn. NXB Đại học Vinh.  
[5] Đỗ Minh Cương (2009). Quy hoạch cán bộ lãnh  
đạo, quản lí. NXB Chính trị Quốc gia.  
[6] Nguyễn Quốc Dũng (2017). Vai trò trưởng bộ môn  
cơ sở cho công tác định hướng đổi mới, phát triển  
nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Kỉ yếu hội  
nghị “Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ môn  
và phát triển đội ngũ trưởng bộ môn ở trường đại  
học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại  
học”. Khối thi đua các trường đại học, cao đẳng,  
Vinh, tr 38-40.  
[7] Phạm Thị Châu (chủ biên, 2002). Một số vấn đề [7] Nguyễn Tiến Hùng (2010). Các cách tiếp cận chính  
quản lí giáo dục mầm non. NXB Đại học Quốc gia  
Hà Nội.  
về lãnh đạo và quản lí. Tạp chí Quản lí giáo dục, số  
9, tr 23 - 28.  
18  
pdf 5 trang yennguyen 9560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và một số biện pháp quản lí hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ ở các trường Mầm non Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_mot_so_bien_phap_quan_li_hoat_dong_dam_bao_an.pdf