Học tập tự định hướng – Nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE  
DOI: 10.18173/2354ꢀ1075.2016ꢀ0024  
Educational Sci., 2016, Vol. 61, No. 3, pp. 28ꢀ36  
HỌC TẬP TỰ ĐỊNH HƯỚNG – NHẰM PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, TÍCH  
CỰC CHO SINH VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
Trương Minh Trí, Bùi Văn Hồng, Võ Thị Xuân  
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật cùng với sự bùng  
nổ của công nghệ thông tin, những tri thức mới, sự tăng lên gấp bội của sáng tạo công nghệ  
và kĩ thuật,... đòi hỏi con người phải có năng lực tự học, tự đào tạo để thích ứng. Qua đó,  
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Để  
quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất thì  
các phương pháp dạy học chủ động (activeꢀlearning) tỏ ra rất phù hợp. Đặc biệt là phương  
pháp học tập tự định hướng (HTTĐH) cho phép sinh viên (SV) tự lựa chọn con đường đi và  
định hướng đích đến của mình, với sự hổ trợ của giảng viên (GV). Vì vậy, mô hình HTTĐH  
chắc chắn sẽ tìm được sự đồng thuận cao từ cộng đồng và là mảnh đất tốt cho những ai có  
khát vọng học tập suốt đời.  
Từ khóa: Học tập tự định hướng, phát huy tính chủ động, tích cực, bối cảnh hội nhập.  
1. Mở đầu  
Tự học hiểu theo đúng bản chất là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ,  
cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, và không ngại khó, ngại  
khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê,. . . để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nào đó, biến lĩnh vực  
đó thành sở hữu của mình! Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của SV đang học  
tập tại các trường đại học hiện nay. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lí, khoa học, có chất  
lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường.  
Bài viết dưới đây đề cập đến phương pháp HTTĐH giữ vai trò cầu nối giữa học tập và nghiên cứu  
khoa học của SV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.  
HTTĐH là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến người  
học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục). HTTĐH giúp nâng cao kết quả học  
tập của SV và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương  
pháp dạy học ở các cơ sở giáo dục.  
Vấn đề HTTĐH, đã được một số tác giả trong và ngoài nước đề cập trong các nghiên cứu  
liên quan như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, 2008 [1]; Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008 [2]; Vũ  
Trọng Rỹ, 1994 [3]; Thái Duy Tuyên, 2001 [4]; Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2014 [5]; Bielaczyc, Pirolli,  
Brown, 1995 [6]; Cross, 1981 [7]; Gibbons, M., 2002 [8]; Hiemstra, 1994 [9]; Hammond, M.,  
Collins, R., 1991 [10]. Các nghiên cứu chủ yếu về đặc điểm của HTTĐH cho thấy sự phù hợp của  
loại hình dạy học này đối với SV trong thời kì hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay.  
Ngày nhận bài: 15/12/2015. Ngày nhận đăng: 20/3/2016.  
Liên hệ: Trương Minh Trí, eꢀmail: [email protected]  
28  
Học tập tự định hướng – nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên trong bối cảnh...  
Đặc trưng 1: Cá nhân người học có thể trở nên có quyền lực mạnh hơn để chịu trách nhiệm  
ngày càng nhiều cho các quyết định khác nhau liên quan đến các nỗ lực học tập.  
Đặc trưng 2: HTTĐH được nhìn nhận tốt nhất như một sự phát triển không ngừng những  
năng lực cá nhân, vượt xa ngoài những suy nghĩ bình thường hoặc những ngữ cảnh quen thuộc.  
Đặc trưng 3: HTTĐH không nhất thiết; mọi sự nhận thức của con người đều có được do  
những người khác đem lại.  
Đặc trưng 4: Người học HTTĐH xuất hiện có thể linh động chuyển học tập, cả về kiến thức  
và kĩ năng nghiên cứu, từ một tình huống khác.  
Đặc trưng 5: Nghiên cứu HTTĐH có thể liên quan nhiều đến các hoạt động và nguồn lực,  
chẳng hạn tham gia các nhóm nghiên cứu, thực tập, đối thoại điện tử, viết thu hoạch phản hồi. . .  
Đặc trưng 6: Vai trò, hiệu quả của người GV trong việc HTTĐH là cho ví dụ minh họa;  
nâng cao tư duy phê phán, đảm bảo nguồn lực và đánh giá theo chuẩn đầu ra của môn học, chương  
trình đào tạo. . .  
Đặc trưng 7: Một số cơ sở giáo dục đang tìm cách để hỗ trợ cho mô hình HTTĐH thông  
qua các chương trình mở Eꢀlearning, lựa chọn học tập cho cá nhân, các khóa phi truyền thống, và  
các chương trình cải tiến khác. . .  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Phương pháp dạy học tích cực  
Ngày nay, để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học thể hiện được đầy đủ các đặc trưng,  
GV cần kế thừa, phát huy các mặt tích cực trong phương pháp truyền thống (thuyết trình, đàm  
thoại, trực quan,...) đồng thời mạnh dạn áp dụng các xu hướng dạy học tích cực, hiện đại. Để phân  
biệt phương pháp dạy học tích cực và phương pháp dạy học thụ động, người ta thường căn cứ vào  
bốn dấu hiệu đặc trưng, cơ bản sau:  
+ Dạy học thông qua các hoạt động của SV.  
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.  
+ Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.  
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.  
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ dùng để chỉ những phương pháp giáo dục,  
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.  
HTTĐH là quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để  
chiếm lĩnh kiến thức. Trong HTTĐH, bước đầu thường có nhiều bỡ ngỡ; vì còn lạ, chưa quen, chưa  
có kinh nghiệm,. . . nhưng chính những bỡ ngỡ đó lại là động lực thúc đẩy SV tư duy để thoát khỏi  
những “lúng túng” đó! Nhờ vậy mà thành thạo lên! HTTĐH là hình thức học tập không thể thiếu  
được của SV đang học tập tại các trường đại học hiện nay. Tổ chức hoạt động học tập một cách hợp  
lí, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp  
đào tạo của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo [5].  
2.1.1. Dạy học thông qua các hoạt động của SV  
Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập, từ đó giúp SV tự khám phá những  
điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Theo quan điểm  
này, GV không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo cho SV tiến hành  
các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến  
thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,...  
29  
Trương Minh Trí, Bùi Văn Hồng, Võ Thị Xuân  
2.1.2. Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học  
Chú trọng rèn luyện cho SV những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc các tài liệu học  
tập, truy cập các thông tin, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết suy luận để tìm tòi và  
phát hiện kiến thức mới,... Các tri thức phương pháp thường là những qui tắc, quy trình, phương  
thức hành động, tuy nhiên cũng cần coi trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định  
(ví dụ: phương pháp giải bài tập toán học, các bước cân bằng phương trình phản ứng hóa học, trình  
tự vẽ một bản vẽ kĩ thuật,...). Cần rèn luyện cho SV các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp,  
đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, qui lạ về quen,... để dần hình thành và phát triển tiềm năng  
sáng tạo của họ.  
2.1.3. Tăng cường việc học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác  
Khuyến khích học tập theo nhóm và tăng cường việc học tập cá thể. Khi cho SV học tập  
theo nhóm kết quả thường tốt hơn là học một mình. Học tập, cũng như làm việc, nếu có tính tương  
hỗ sẽ tốt hơn là cạnh tranh và biệt lập. Làm việc cùng với những người khác sẽ hứng thú hơn và  
tăng thêm cơ hội học tập được lẫn nhau. Chia sẽ ý tưởng của nhau và phản ứng trước hành động  
của người khác sẽ làm cho suy nghĩ sắc bén hơn và hiểu biết được sâu sắc hơn. Thảo luận là một  
hình thức trao đổi trực tiếp giữa các SV để đạt được một mục đích học tập cụ thể. Nó có thể là trao  
đổi thân mật, không hình thức hoặc được tổ chức với mục tiêu và nhiệm vụ nhất định, thời gian  
được giới hạn, lịch trình chuẩn bị trước và có thể có hoặc không có người chủ trì.  
GV có thể bắt đầu bài học bằng một cuộc thảo luận để lấy ý kiến và quan điểm của SV,  
cũng có thể xen giữa bằng một cuộc thảo luận để làm sáng tỏ một vấn đề hoặc để tóm tắt củng cố  
nội dung, cũng có thể tổ chức buổi thảo luận vào cuối buổi học vì tất cả những mục đích kể trên.  
2.1.4. Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò  
SV cần biết về những gì có thể thu được từ khoá học. Lúc bắt đầu học SV cần được giúp đỡ  
trong việc đánh giá kiến thức và năng lực hiện có. Trong lớp SV cần có cơ hội thường xuyên để  
thể hiện và nhận được những gợi ý bổ ích cho việc học được tốt hơn. Trong quá trình học và cuối  
khoá SV cần có cơ hội để bộc lộ những gì họ đã học được, biết những gì họ cần phải làm để tiếp  
tục học tốt hơn. Do vậy sự đánh giá và phản hồi kịp thời của GV đối với người học có tác dụng rất  
lớn đối với việc chủ động học tập của SV.  
2.2. Phương pháp dạy học tự định hướng học tập  
Tự định hướng học tập hay học tập tự định hướng HTTĐH (selfꢀdirected learning) dùng để  
phân biệt với học tập định hướng của GV (teacher directed learning), đây là một phương pháp dạy  
học trong đó người học tự xác định mục tiêu học tập, để vạch ra kế hoạch học tập, nghiên cứu.  
Phương pháp này được xem như bắt đầu hình thành từ nửa sau của thế kỉ XX. Tác giả Houle  
với tác phẩm: Nghiên cứu động cơ học tập của những người trưởng thành (1961), tác giả Allen  
Tough công bố: Những dự án học tập dành cho người lớn (1971). Về cơ bản, các khái niệm về  
HTTĐH của tác giả Malcolm Knowles: “Tự định hướng học tập”: là xây dựng mục tiêu học tập,  
xác định nguồn lực con người và vật chất cho việc học tập, lựa chọn và thực hiện các chiến lược  
học tập thích hợp, và đánh giá kết quả học tập (1975), tác giả Dana Skiff với công trình: Tự nghiên  
cứu (2009). Những công trình trên đã góp phần xây dựng cơ sở lí luận cho HTTĐH. Cho đến  
nay, sự phát triển của nhiều ý tưởng mới, đã làm xuất hiện nhiều khuynh hướng về HTTĐH. Ví  
dụ: học tập tự nghiên cứu, học tập hàm thụ, học tập qua mạng internet, học tập theo kế hoạch cá  
nhân,. . . [1].  
Trong quá trình HTTĐH, người học và GV sẽ cùng thảo luận để đưa ra kế hoạch hoạt động,  
quyết định nên học cái gì cho phù hợp với mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài. Mục đích của GV  
30  
Học tập tự định hướng – nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên trong bối cảnh...  
là đáp ứng nhu cầu thực tế của người học. Phương pháp này rất thích hợp để phát triển các kĩ năng  
học tập của con người như: kĩ năng nghiên cứu sáng tạo, kĩ năng độc lập nghiên cứu khoa học. . .  
2.2.1. Học tập tự định hướng  
HTTĐH là một phương pháp dạy học mà chiến lược hoạt động được tích hợp từ sự chủ động  
của SV, tự điều khiển quá trình nhận thức thông qua kế hoạch học tập bên cạnh GV cố vấn.  
HTTĐH yêu cầu GV thực hiện chuỗi hoạt động sau:  
+ Cung cấp thông tin khi nào và làm thế nào để sử dụng các chiến lược về trí tuệ trong quá  
trình học.  
+ Minh họa rõ ràng làm thế nào để sử dụng các chiến lược này để tìm ra giải pháp cho các  
vấn đề thực tiễn.  
+ Khuyến khích người học chủ động đi xa hơn các thông tin đã có, dựa trên suy nghĩ và  
hiểu biết có sẵn của mình.  
+ Dần dần chuyển trách nhiệm học tập sang cho người học thông qua các bài tập thực hành,  
hội thoại hỏi đáp, các cuộc bàn luận...  
2.2.2. Các bước trong giảng dạy tự định hướng học tập cho từng cá nhân  
+ Đưa ra nhiệm vụ học tập, và quan sát người học tiếp cận nhiệm vụ đó ra sao (ví dụ: đọc  
một tập truyện ngắn để làm kiến thức nền cho một bài luận).  
+ Yêu cầu SV giải thích đã tiếp cận việc học thông tin nền mà GV đưa ra để viết bài luận  
như thế nào (điều này giúp SV lí giải hướng tiếp cận về nhận thức (cognitive approach) của chính  
mình.  
+ Miêu tả và làm mẫu cho SV một quá trình hiệu quả hơn để sắp xếp những kiến thức mà  
các em đọc được, ví dụ như giải thích việc dùng các câu hỏi vào cuối mỗi bài giúp đọc tập trung  
hơn, nhấn mạnh các ý chính ở mỗi đoạn, và việc viết các ý cốt lõi của bài sang một trang khác  
giúp cho việc xem lại dễ dàng hơn.  
+ Đưa cho người học những nhiệm vụ tương tự khác.  
+ Cho người học cơ hội thực hành kĩ năng HTTĐH, lần này vai trò của GV giảm xuống, trở  
thành người giám sát.  
+ Kiểm tra sự tiếp thu và quá trình sắp xếp nhận thức (cognitive organization) của người  
học, đưa ra những phản hồi để gợi ý hay sửa chữa bài làm của các em.  
Những nhà quản lí, cùng với các bậc phụ huynh và SV, cần hiểu biết về các yếu tố trong  
HTTĐH, như động lực của chính người học, mục tiêu rõ ràng, lĩnh hội kiến thức... Một SV thực sự  
có động lực từ bên trong sẽ thực hiện một hành vi “vì chính bản thân mình, vì niềm vui mà hành  
vi đó đem đến, vì kiến thức của bài học mang lại!”  
Dạy học tự định hướng (DHTĐH) là hoạt động dạy học mang tính cá biệt hoá. Quá trình  
dạy học dựa trên nhu cầu, năng lực của người học và diễn ra theo phương hướng, chiến lược do  
người học tự xác định. Để thực hiện tốt DHTĐH đòi hỏi GV phải có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực  
khoa học chuyên ngành, thường xuyên cập nhật kiến thức, tự nâng cao trình độ chuyên môn, trau  
dồi sinh ngữ và nghiệp vụ sư phạm để có thể làm tốt nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn SV. Đồng thời  
GV cũng phải có năng lực tổ chức để có thể quản lí, giám sát hoạt động học tập của lớp học. [5]  
2.3. Đề xuất mô hình và qui trình HTTĐH  
Theo quan điểm của cá nhân, tác giả đề xuất mô hình hoạt động HTTĐH (Hình 1) bao gồm  
các giai đoạn cơ bản như sau:  
31  
Trương Minh Trí, Bùi Văn Hồng, Võ Thị Xuân  
2.3.1. Giai đoạn 1: Hoạch định  
Đánh giá hiệu quả học tập hiện tại. Đây là năng lực của chủ thể thực hiện thuần thục một  
hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả  
mong đợi. Để quá trình HTTĐH diễn ra thành công, người học cần thiết lập cơ sở hoạch định để  
định hướng của hành động. Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để  
thực hiện một hành động xác định nào đó. Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch,  
kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch.  
Hình 1. Mô hình Học tập tự định hướng  
2.3.2. Giai đoạn 2: Tổ chức thực hiện  
Khi xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học. Người học phải xây dựng được  
kĩ năng tổ chức học tập. Tổ chức thực hiện kế hoạch; có thể là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn cho  
chương trình đào tạo, hoặc kế hoạch cho từng môn học, từng phần. . . Điều cần thiết là kế hoạch  
phải được thiết lập rõ ràng, được tổ chức thực thực hiện cho từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện  
và hoàn cảnh của người học. Như vậy, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ  
dàng.  
Muốn thực hiện thành công kế hoạch mình đã tạo lập, người học cần có một số kĩ năng sau:  
ꢀ Tiếp cận thông tin.  
ꢀ Vận dụng tri thức, thông tin.  
ꢀ Trao đổi, phổ biến thông tin.  
ꢀ Tổng hợp, xử lí các thông tin.  
Vận dụng bốn kĩ năng trên sẽ giúp cho người học đạt được tổ chức thực hiện kế hoạch  
HTTĐH.  
2.3.3. Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, đánh giá học tập  
Bước sau cùng của HTTĐH; là người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, biết  
được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được  
để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục.  
2.3.4. Vận dụng các phương pháp tự học vào mô hình HTTĐH cho SV  
Mô hình HTTĐH của tác giả Hiemtra. Thông qua mô hình này, cả người học lẫn người dạy  
đều có thể cải tiến liên tục chất lượng cũng như trình độ của việc học. Đây là một trong số các mô  
hình được sử dụng rộng rãi nhất trong việc thiết kế chương trình học, thiết kế bài giảng, trong việc  
huấn luyện cũng như trong các hướng dẫn học tập cho các khóa học.  
32  
Học tập tự định hướng – nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên trong bối cảnh...  
Sơ đồ của mô hình HTTĐH, tiếp cận theo vi mô thành tố vi mô (Hiemtra):  
Đánh giá nhu cầu  
↓
Lập mục tiêu  
↓
Xác định nội dung học tập  
↓
Trải nghiệm học tập  
↓
Điều khiển môi trường học tập  
↓
Vai trò của Giảng viên  
↓
Đánh giá học tập  
Hình 2. Mô hình HTTĐH của HIEMSTRA  
Mô hình HTTĐH được đưa ra bởi Hiemstra (1994) gồm 07 giai đoạn (hình 2), và theo phân  
tích của tác giả:  
ꢀ Giai đoạn 1: Đánh giá nhu cầu học tập hiện tại (thông qua phản hồi của GV, rà soát, đánh  
giá đồng đẳng).  
ꢀ Giai đoạn 2: Lập mục tiêu học tập mong muốn (thông qua các hoạt động đánh giá của GV  
hoặc SV tự đánh giá).  
ꢀ Giai đoạn 3: Xác định nội dung học tập (giai đoạn này cần đến sáng kiến về phong cách  
học và phân tích cá nhân).  
ꢀ Giai đoạn 4: Trải nghiệm học tập (kĩ năng, thói quen, thái độ) sử dụng các videoꢀtapes,  
hội thảo, lớp học, sách vở, báo chí, phim ảnh,. . .  
ꢀ Giai đoạn 5: Điều khiển môi trường học tập để lĩnh hội kiến thức tốt nhất.  
ꢀ Giai đoạn 6: Vai trò của GV: GV có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn HTTĐH  
cho SV.  
ꢀ Giai đoạn 7: Đánh giá học tập: Bước sau cùng của (HTTĐH); là người học tự đánh giá  
được kết quả học tập của mình, biết được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm  
được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục [9].  
Mô hình của Hiemstra có đề cập đến việc người học tự đánh giá hiệu quả học tập, và ông  
coi trọng phong cách học tập cá nhân. Mặc dù cũng nhận được nhiều đồng thuận của giới chuyên  
môn, song cũng có những mặt hạn chế có thể dễ dàng nhận thấy như người học thiếu sự trải nghiệm  
trong những việc làm cụ thể, dẫn đến thiếu sự chiêm nghiệm so sánh và điều chỉnh cần thiết. Ở 3  
giai đoạn đầu, mọi thao tác chỉ ở mức tư duy. Người học chỉ thực sự được tham gia vào quá trình  
học ở các giai đoạn cuối cùng.  
33  
Trương Minh Trí, Bùi Văn Hồng, Võ Thị Xuân  
2.4. Phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên qua hoạt động HTTĐH trong  
bối cảnh hội nhập  
2.4.1. Thực trạng  
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức trong thế kĩ XXI đòi hỏi nền giáo dục  
phải đổi mới nội dung dạy học và phương pháp dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở bậc  
đại học phải hướng tới những phương pháp dạy học nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của  
SV trong quá trình học tập nhằm đào tạo ra những con người năng động, độc lập trong xã hội.  
Nhu cầu hội nhập quốc tế để được học hỏi, trao đổi nâng cao trình độ, năng lực của SV là  
chính đáng, nhưng việc hội nhập, giao lưu, học hỏi của SV đang còn thiếu sự định hướng, quản lí  
của các cơ quan, tổ chức. Điều này làm cho những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài rất dễ nảy sinh  
và lây lan trong SV Việt Nam, đặc biệt là về đạo đức, lối sống. Đây là một thách thức không nhỏ  
đổi với việc đào tạo và rèn luyện SV.  
Ở nước ta, sau gần hai thập niên thực hiện đường lối “đổi mới”, chuyển dịch từ nền kinh tế  
kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp  
công nghiệp hóa hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển,. . . ”từng bước phát  
triển kinh tế tri thức. . . ” đã đạt được nhiều thành quả. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ở nước ta  
không chỉ có sự “đổi mới”, chuyển sang nền kinh tế thị trường, mà còn có xu hướng hội nhập, toàn  
cầu hóa.  
Có thể nói bối cảnh quốc tế của đất nước đã tạo nên một thời kì mới đối với đất nước. Làm  
cho nền giáo dục đại học nước ta chuyển sang một giai đoạn mới, mang những đặc trưng mới về sứ  
mạng, cơ cấu, chức năng... Những đặc trưng mới đó cũng làm nảy sinh yêu cầu phải đổi mới mục  
tiêu, nội dung và phương pháp dạy và học ở đại học. Ba yếu tố vừa nêu trên không phải bao giờ  
cũng có thể xem xét tách biệt rạch ròi mà đôi khi chúng đan xen vào nhau, hòa quyện với nhau [5].  
Chất lượng tự học là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: người dạy, người học, quy trình dạy  
học, quy chế quản lí, cơ sở vật chất kĩ thuật bảo đảm cho huấn luyện, đời sống, thời gian tự học,. . .  
trong đó nhân tố người dạy và người học đóng vai trò quyết định. Cũng còn nhiều vấn đề bất cập  
và hạn chế như: (SV) chưa xác định rõ cho mình mục đích, động cơ, hứng thú trong học tập, chưa  
có kế hoạch tự học khoa học, lúng túng trong việc xác định một phương pháp học tập phù hợp cho  
mình và cho từng môn học cụ thể. Vì vậy, mô hình HTTĐH chưa phát huy được tính tích cực, chủ  
động, sáng tạo của người học.  
Qua thực trạng nêu trên, người nghiên cứu có một số ý kiến như sau:  
Thứ nhất: SV còn quan niệm và có thói quen học tập theo cách học phổ thông, chưa hình  
thành thói quen và quan niệm mới về HTTĐH.  
Thứ hai: Tính chủ động, tích cực trong học tập còn hạn chế. Động cơ, nhận thức khoa học  
chưa rõ ràng, chưa sâu sắc, động lực tự học tập chưa cao.  
Thứ ba: Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng yêu cầu cao việc tự học của SV  
chưa được thực hiện phổ biến ở các cơ sở giáo dục.  
2.4.2. Các biện pháp đề xuất  
Từ những đặc trưng lí luận dạy học về HTTĐH nói trên, người nghiên cứu có thể rút ra một  
số đề xuất sau đây:  
Thứ nhất: Thiết kế và thực hiện bài giảng; Cách làm: GV cần tăng cường định hướng, vận  
dụng các phương pháp dạy, học tích cực nhằm phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo của SV  
trong quá trình HTTĐH. Cần nghiên cứu, lựa chọn phương pháp giảng bài có hiệu quả nhất như:  
phương pháp nêu vấn đề, đàm thoại, sơ đồ hóa,. . . Trong quá trình thực hiện các hình thức dạy  
34  
Học tập tự định hướng – nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên trong bối cảnh...  
học, GV cần quan tâm, giúp đỡ SV phát triển các phương pháp, kĩ năng tự học, phối hợp chặt chẽ  
với đơn vị tăng cường công tác kiểm tra việc HTTĐH của SV.  
Thứ hai: Xây dựng và nâng cao kĩ năng tự học cho SV; Cách làm: Để HTTĐH có kết quả  
cao, trước hết mỗi SV phải hoạch định cho mình thái độ và động cơ học tập đúng đắn. Xây dựng  
và thực hiện kế hoạch tự học tối ưu, duy trì thường xuyên, tạo được sự hứng thú học tập, đồng thời  
phải có phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm của từng môn học. Qua đó phát huy tính chủ  
động, tích cực cho SV trong bối cảnh hội nhập quốc tế.  
Thứ ba: Đáp ứng đủ yêu cầu về tài liệu, giáo trình cho người học tự học, tự nghiên cứu;  
Cách làm: Cần dành nhiều thời gian tự học cho SV, đồng thời tăng cường quản lí, kiểm tra việc  
chấp hành kế hoạch tự học của đơn vị và SV. Thường xuyên rút kinh nghiệm về tổ chức giờ tự học  
cho cả cán bộ và việc chấp hành giờ tự học của SV. GV làm tốt khâu tổ chức, hướng dẫn nội dung,  
phương pháp phù hợp, phổ biến kinh nghiệm, chú trọng xây dựng những tập thể SV vững mạnh để  
tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và rèn luyện, HTTĐH.  
Thứ tư: Thực hiện nghiêm quy chế thi, kiểm tra đánh giá kết quả để có tác động tích cực  
và phản hồi đến việc HTTĐH của SV; Cách làm: Chất lượng tự học của SV là kết quả của nhiều  
yếu tố, trong đó sự nổ lực của người học đóng vai trò quan trọng và quyết định. Vì vậy, mỗi SV  
cần phải củng cố xu hướng, động cơ học tập một cách vững chắc; đồng thời, tích cực, chủ động, tự  
giác rèn luyện các kĩ năng HTTĐH. Mặt khác, cơ sở giáo dục cần quan tâm hơn nữa việc chỉ đạo,  
hướng dẫn khâu tự học cho SV góp phần thực hiện tốt chủ trương đổi mới, nâng cao chất lượng  
giáo dục – đào tạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế.  
Việc phát huy, tổng hợp các giải pháp trên sẽ là sự lựa chọn mang lại kết quả tốt nhất về  
HTTĐH, từ đó tạo nên những động lực, nền tảng cơ bản để toàn Ngành giáo dục hoàn thành xuất  
sắc nhiệm vụ chính trị được giao và ngày càng vươn lên những tầm cao mới trước những yêu cầu  
của nền kinh tế đất nước trong xu thế hội nhập và phát triển.  
3. Kết luận  
Phương pháp HTTĐH đòi hỏi SV phải năng động, tự giác trong việc học tập của mình,  
đồng thời phương pháp này cũng đòi hỏi ở GV năng lực chuyên môn cao để có thể giảng dạy theo  
nhu cầu của người học. GV cũng phải là người có năng lực tổ chức, quản lí việc dạy và học.  
Phương pháp HTTĐH nâng cao vai trò chủ động của người học nhưng không có nghĩa là  
xem nhẹ vai trò của GV. Để có động cơ tích cực học tập, SV phải tự ý thức được hoặc cần được  
giúp đỡ để nhận thức được rằng học trước hết là cho bản thân mình. Là người phải biết cách biến  
kiến thức chưa khai phá thành tài sản riêng. Ngược lại, việc dạy cần hướng vào phát triển cá nhân  
sao cho cá nhân đó thấy hứng thú học tập; vì biết rằng mình có thể áp dụng những kiến thức thu  
được ở trường học vào công việc ngoài đời và trong suốt cả cuộc đời của họ. Đồng thời, quá trình  
đào tạo đại học phải giúp SV biết rèn luyện việc tự học và duy trì việc học suốt đời, chứ không  
chỉ dừng lại sau khi tốt nghiệp đại học hoặc chỉ học khi đến trường học. Muốn vậy, phương pháp  
giảng dạy phải hướng tới trang bị cho người học cách học để họ có thể cập nhật kiến thức thường  
xuyên và liên tục. Đổi mới phương pháp giảng dạy là nhằm phát huy mạnh mẽ tính chủ động, tích  
cực của người học. Một trong những khó khăn bấy lâu nay của SV là việc thiếu nhận thức về quá  
trình học của chính mình, và ngay cả nhiều GV cũng chưa thể hiện được vai trò giúp các em nhận  
ra vấn đề này. Bài viết đưa đến một cái nhìn tổng quan về quá trình HTTĐH, và chỉ ra một số chiến  
lược về mô hình và qui trình có thể dễ dàng áp dụng trong quá trình HTTĐH của SV.  
HTTĐH có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập của đất nước, khi mà lượng  
tri thức ngày càng tăng cao ở xã hội. HTTĐH giúp cho SV tự nắm vững, cũng cố, mở rộng, đào  
sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp. Phát huy tính chủ động học tập và tích cực  
35  
Trương Minh Trí, Bùi Văn Hồng, Võ Thị Xuân  
phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, hình thành năng lực, hứng thú, thói quen, phương pháp. Biến  
quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, làm cơ sở cho việc học tập suốt đời.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, 2004. Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và  
giải pháp. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008. Dạy và học theo quan điểm học suốt đời,  
[3] Vũ Trọng Rỹ, 1994. Một số vấn đề lí luận về rèn luyện kĩ năng học tập cho học sinh. Viện  
Khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
[4] Thái Duy Tuyên, 2001. Giáo dục học hiện đại ꢀ Những vấn đề cơ bản. Nhà xuất bản Đại học  
Quốc gia Hà Nội.  
[5] Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2014. Triển khai dạy học tự định hướng trong đào tạo và bồi dưỡng  
giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy học phân hoá. Kỷ yếu hội thảo khoa học “Dạy học tích hợp,  
dạy học phân hoá ở trường trung học đáp ứng yêu cầu chương trình & sách giáo khoa sau  
năm 2015”, Viện Nghiên cứu Giáo dục ꢀ Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, tr. 57ꢀ62.  
[6] Bielaczyc, Pirolli, Brown, 1995. Training in self – explanation and self – regulation  
strategies: Investigating the effects of knowledge acquisition activities on problem solving.  
[7] Cross, 1981. Adults as Learners. San Francisco, JosseyꢀBass.  
[8] Gibbons, M., 2002. The selfꢀdirected learning handbook: Challenging adolescent student to  
excel. San Francisco, JosseyꢀBass Publishers, pp. 2.  
[9] Hiemstra, 1994. New Directions for Adult and Continuing Education, pp. 81ꢀ87.  
[10] Hammond, M., Collins, R., 1991. Selfꢀdirected learning: Critical practice. London: Kogan  
Page Limited.  
ABSTRACT  
Using Selfꢀ directed learning topromote activeness  
for students in the context of international integration  
Nowadays, the rapid development of science and technology , theexplosion of information  
technology, new knowledge requires people to be capable of selfꢀlearning, selfꢀtraining to adapt  
to the fast innovation, Which promotes positive, proactive learners in the context of international  
integration. For the inꢀdepth training of human resources for the country the initiative of teaching  
methods proved to be very suitable. The selfꢀdirected learning (SDL) method allows students to  
orient themselves to choose the path and direction of his destination with the support of trainers.  
The SDL model will certainly find consensus from community copper and good soil is powerful  
for anyone who has the desire for lifelong learning.  
Keywords: Selfꢀdirected learning, promoting proactive, positive, integration context.  
36  
pdf 9 trang yennguyen 22240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Học tập tự định hướng – Nhằm phát huy tính chủ động, tích cực cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoc_tap_tu_dinh_huong_nham_phat_huy_tinh_chu_dong_tich_cuc_c.pdf