Lí thuyết về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường Trung học Phổ thông

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
JOURNAL OF SCIENCE  
KHOA HỌC GIÁO DỤC  
EDUCATION SCIENCE  
ISSN:  
1859-3100  
Tập 16, Số 4 (2019): 189-200  
Vol. 16, No. 4 (2019): 189-200  
LÍ THUYẾT VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP  
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
Nguyễn Trần Vĩnh Linh  
Nhà thờ Phương Lâm, xã Phú Lâm, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Trần Vĩnh Linh – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 07-3-2019; ngày nhận bài sửa: 18-3-2019; ngày duyệt đăng: 24-4-2019  
TÓM TẮT  
Bài báo trình bày khái quát tình hình nghiên cứu về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp  
trên thế giới và Việt Nam, kế thừa ý tưởng các nhà khoa học trong và ngoài nước, xây dựng cơ sở  
lí thuyết về chức năng và nội dung quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp bao gồm kế hoạch hóa,  
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra tích hợp với các thành tố của chủ thể quản lí, đối tượng quản lí và  
công cụ quản lí nhằm đảm bảo tính khoa học và hiệu quả trong quản lí hoạt động tư vấn hướng  
nghiệp cho học sinh trung học phổ thông, góp phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của  
giáo dục, đào tạo trong thời kì mới.  
Từ khóa: quản lí, tư vấn hướng nghiệp, học sinh trung học phổ thông.  
1.  
Đặt vấn đề  
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam là một trong những nước chịu  
ảnh hưởng nhiều nhất từ cách mạng công nghiệp 4.0. Trong những năm tới, Việt Nam  
sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực như trình độ chuyên  
môn kĩ thuật của lao động còn thấp cũng như năng suất lao động thấp hơn nhiều nước  
trong khu vực ASEAN, không thể không qua con đường giáo dục. Từ nhiều năm Đảng  
và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục hướng nghiệp (GDHN) nói riêng nhằm  
giải quyết được những thách thức trên. Tuy nhiên, tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ  
15-24 tuổi) năm 2016 là 7,34%, trong đó khu vực thành thị là 11,30%; khu vực nông  
thôn là 5,74%. Tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2016 là  
1,64%, thấp hơn mức 1,89% của năm 2015 và 2,40% của năm 2014. (Trích theo số liệu  
Tổng cục thống kê về tình hình kinh tế xã hội năm 2016). Một trong những yếu tố ảnh  
hưởng dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong thanh niên, thậm chí sinh  
viên tốt nghiệp đại học là do các trường trung học phổ thông (THPT) chưa làm tốt công  
tác quản lí tư vấn hướng nghiệp (TVHN) cho học sinh (HS), quản lí hoạt động này còn  
nhiều bất cập, chưa mang lại hiệu quả thiết thực…  
189  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 4 (2019): 189-200  
2.  
Giải quyết vấn đề  
2.1. Tình hình nghiên cứu quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh  
trung học phổ thông  
2.1.1. Trên thế giới  
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, TVHN thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học  
độc lập với những công trình nghiên cứu lí thuyết điển hình của các nhà tâm lí học tư  
vấn Kettell (1880), Gallton (1883), Davis (1907), Parsons (1909), Keller & Viteles  
(1937), Holland (1986)… Giữa cuối thế kỉ XX, TVHN và quản lí hoạt động TVHN  
được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Điển hình như:  
- Ở Mĩ, chương trình TVHN được đề cập trong rất nhiều chương trình, hoạt động  
cụ thể, hướng đến 3 lĩnh vực, gồm: Những kiến thức về bản thân (self-knowledge);  
Giáo dục và khám phá nghề nghiệp (Educational and occupational exploration); Và kế  
hoạch nghề nghiệp (carreer planning).  
- Tại Pháp, TVHN trong các nhà trường được tổ chức một cách chặt chẽ, chịu sự  
quy định nghiêm ngặt của luật pháp, chính phủ và ngành giáo dục trong việc bắt buộc  
các cơ sở giáo dục, đào tạo (nhà trường các cấp) xây dựng, triển khai các hoạt động  
TVHN thông qua Bộ Luật TVHN và đào tạo nghề suốt đời (2009) và được tiếp tục áp  
dụng cho đến nay.  
- Ở Malaysia, từ những năm 1960, Bộ Giáo dục đã nhận thức rõ tầm quan trọng  
của tư vấn hướng dẫn nghề trong trường học và đã thiết lập bộ phận tư vấn và hướng  
dẫn tại phòng kế hoạch và nghiên cứu giáo dục (Educational Planning and Research  
Division). Đề đảm bảo hiệu quả của công việc TVHN cho HS, GV làm công tác hướng  
dẫn nghề nghiệp phải nắm qua về 25 môn học, khả năng làm việc nhóm và nhiều hoạt  
động tập thể khác của HS.  
- Ở New Zealand, nhu cầu TVHN của nước này tăng cao, nhưng chi phí của chính  
phủ dành cho hoạt động này lại bị cắt giảm. Chính phủ cũng không có một quy chế cụ  
thể nào về hoạt động của các nhà tư vấn nói chung và tư vấn nghề nghiệp nói riêng, vì  
vậy các nhà tư vấn phải hoạt động dựa trên những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp,  
phải tự đặt ra những mức phí có thể chấp nhận được. (dẫn theo Lê Thị Thanh Hương,  
2010, tr.84-87).  
Nhìn chung ở những nước phát triển, quản lí TVHN được tất cả các cấp quản lí từ  
cấp chính phủ đến địa phương coi trọng và được triển khai rộng khắp với sự tham gia  
không chỉ của nhà trường mà còn nhiều tổ chức xã hội khác nhau, tạo thành một hệ  
thống liên hoàn chặt chẽ. Tạo những điều kiện thuận lợi cả về mặt vật chất lẫn hệ thống  
những thông tin cần thiết để đảm bảo cho hoạt động TVHN cho HS có hiệu quả.  
190  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
2.1.2. Tại Việt Nam  
Nguyễn Trần Vĩnh Linh  
TVHN ở nước ta đã được nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỉ XX. Cơ sở  
pháp lí của hoạt động hướng nghiệp được thể hiện qua những chủ trương, chính sách,  
văn bản pháp luật của nhà nước, qua những thông tư quyết định có liên quan của các cơ  
quan quản lí trực tiếp – Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác nhận rõ tầm quan trọng của  
công tác TVHN, đó là: 1) Nội dung cơ bản của hướng nghiệp (sự hài hòa giữa sở thích,  
hứng thú nghề, năng lực cá nhân và nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực; 2) Tính đa  
dạng của các hình thức hướng nghiệp; 3) Sự liên kết, phối hợp của các ban ngành, các  
tổ chức xã hội. Cơ quan chịu trách nhiệm chính trong công tác hướng nghiệp cho HS  
phổ thông là Bộ Giáo dục và Đào tạo; Các ban ngành, tổ chức khác phải có trách nhiệm  
phối hợp (Bộ kế hoạch và đầu tư, chính quyền địa phương các cấp, tổ chức xã hội, tổ  
chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, gia đình…).  
Bên cạnh đó, từ năm 1996 đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về  
hướng nghiệp và tư vấn nghề cho HS, tập trung vào các đặc điểm của bản thân trong  
quá trình chọn nghề, tư vấn nghề đã được công bố điển hình như các nghiên cứu  
chuyên sâu của Đặng Danh Ánh về tư vấn chọn nghề cho HS phổ thông trải dài từ năm  
2003-2010, Phạm Tất Dong về hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông từ năm  
1978-2012, Lê Thị Thanh Hương (2010), Phạm Văn Sơn (2012), Đỗ Thị Bích Loan  
(2015), Lê Duy Hùng (2018). Kết quả về hoạt động TVHN được các tác giả tập trung  
về cơ sở lí luận, thực trạng và đề xuất biện pháp. Trong cơ sở lí luận, đáng lưu ý rằng  
chưa có sự thống nhất về khái niệm “tư vấn hướng nghiệp”, “tư vấn nghề”, “tư vấn  
hướng nghiệp”, “tham vấn hướng nghiệp” và “tư vấn học đường”. Đồng thời, các tác  
giả cũng đã nghiên cứu về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp, thực trạng GDHN và TVHN  
tại 3 trung tâm giáo dục lớn nhất: Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. Những nội  
dung như đã trình bày về TVHN được các tác giả nghiên cứu với cách tiếp cận tâm lí  
học là chủ yếu.  
Tóm lại, mặc dù nhà nước và các cơ quan hữu quan đã có những chủ trương định  
hướng cho việc triển khai hoạt động này nhưng đến thời điểm hiện tại TVHN ở Việt  
Nam vẫn còn chưa thật sự được chú trọng, nhà nước đã đưa những quy định về công  
tác hướng nghiệp xuống các trường THPT, nhưng chưa có chế tài kiểm soát việc thực  
thi các quy định này hay nói cách khác, việc thực hiện quản lí TVHN còn yếu và kém  
hiệu quả. Đây chính là cơ sở lí luận cho phân tích lí thuyết quản lí hoạt động TVHN  
cho HS trường THPT ở phần sau.  
191  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 4 (2019): 189-200  
2.2. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học  
phổ thông  
2.2.1. Khái niệm công cụ  
Trên cơ cở những nghiên cứu mang tính lí luận và thực tiễn về “tư vấn hướng  
nghiệp”, “tư vấn nghề”, “tư vấn hướng nghiệp” ‘tham vấn hướng nghiệp” và “tư vấn  
học đường” của các tác giả Hoàng Phê (2002), Đặng Danh Ánh (2009), Lê Thị Thanh  
Hương (2010), Phạm Văn Sơn (2012), Phạm Ngọc Linh (2013), Hồ Phụng Hoàng  
Pheonix và Trần Thị Thu (2015), Đỗ Thị Bích Loan (2015), Nguyễn Thị Thanh Huyền  
(2015)…, chúng tôi đưa ra các thuật ngữ có liên quan sau đây:  
Tư vấn  
Thuật ngữ “couseling” trong tiếng Anh được chuyển sang tiếng Việt chủ yếu  
thành hai thuật ngữ “tư vấn” và “tham vấn”. Có thể hiểu tư vấn là hoạt động có sự tác  
động của chủ thể tư vấn và khách thể được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn  
đưa ra quyết định cho một vấn đề nào đó. Chủ thể tư vấn là người có trình độ chuyên  
môn, có kinh nghiệm, được đạo tạo chuyên nghiệp, có kiến thức, kĩ năng và các phẩm  
chất đạo đức phù hợp với hoạt động tư vấn. Khách thể được tư vấn là người đang gặp  
khó khăn về các vấn đề liên quan đến tâm lí hay các mối quan hệ xã hội mà không tự  
giải quyết được và có nhu cầu được giúp đỡ. Kết quả của hoạt động tư vấn là khách thể  
được tư vấn lớn mạnh về nhận thức và tự giải quyết được vấn đề khó khăn của mình.  
Hiện nay, giữa các nhà chuyên môn còn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng  
những thuật ngữ này. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ “tham vấn” được sử  
dụng trong lĩnh vực tâm lí học bởi tham vấn tâm lí khác với tư vấn ở chỗ nhà tham vấn  
không được phép cho khách hàng những lời khuyên (như trong tư vấn), mà chủ yếu  
bằng các thủ pháp chuyên môn khác nhau, khích lệ khách hàng để họ tự tìm ra cách  
giải quyết vấn đề của mình một cách phù hợp nhất. Thuật ngữ “tư vấn” với nội hàm  
chung, bao gồm cả tham vấn tâm lí thường được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau  
của đời sống xã hội mà trong quá trình làm việc nhà TVHN vừa có thể sử dụng các  
biện pháp tâm lí làm cho khách hàng hiểu rõ bản thân, những mặt mạnh mặt yếu của họ  
vừa cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết liên quan đến ngành nghề khác  
nhau trong xã hội, từ đó hướng dẫn hoặc đề xuất cho khách hàng những cách  
thức/phương án lựa chọn ngành nghề trên cơ sở phân tích sự phù hợp giữa năng lực, sở  
thích điều kiện cá nhân và những yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động…  
(Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.24-25).  
Hướng nghiệp  
Khái niệm “Hướng nghiệp” (Carreer guidance) được phổ biến rộng rãi sau Hội  
nghị Quốc tế về Tâm lí học năm 1938 ở Barcelona, Tây Ban Nha. Sau đó ở các nước  
phương Tây đã ứng dụng những thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực hướng nghiệp vào  
192  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Trần Vĩnh Linh  
thực tế cuộc sống. Ở Việt Nam, Thông tư số 31-TT/17/11/1981 về việc hướng dẫn  
thực hiện quyết định của hội đồng chính phủ về công tác hướng nghiệp trong nhà  
trường phổ thông và sử dụng hợp lí HS phổ thông tốt nghiệp có quy định: “Hướng  
nghiệp là một yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nguyên  
lí và nội dung giáo dục của Đảng; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công  
và sử dụng hợp lí HS sau khi tốt nghiệp. Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ  
thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát  
triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân. Hướng  
nghiệp phải dựa trên cơ sở giáo dục kĩ thuật tổng hợp và giáo dục toàn diện; Hướng  
nghiệp phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá và nhu cầu sử dụng  
nguồn lao động dự trữ của đất nước và địa phương; Mức độ nội dung, hình thức và  
phương pháp hướng nghiệp phải phù hợp với đặc điểm của HS (sức khỏe, lứa tuổi,  
trình độ học tập, xu hướng...)”.  
Như vậy, có thể định nghĩa: “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác  
động tác động của gia đình, nhà trường và toàn xã hội vào quá trình định hướng nghề  
nghiệp của cá nhân bằng cách giúp họ lựa chọn và xác định được vị trí nghề nghiệp của  
mình trong cuộc sống trên cơ sở kết hợp năng lực, sở trường, nguyện vọng của cá nhân  
với điều kiện gia đình và nhu cầu thị trường lao động, qua đó cá nhân tự quyết định  
chọn lấy một nghề phù hợp trong lao động nghề nghiệp sau này”.  
Tư vấn hướng nghiệp  
Thuật ngữ Tư vấn hướng nghiệp đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên  
cứu nhưng chưa có công trình nào chỉ ra thật rõ ràng sự giống nhau và khác nhau giữa  
tư vấn nghề, TVHN và tư vấn nghề nghiệp (Career counseling). Theo tác giả Đặng  
Danh Ánh (2009, tr.3-4); Lê Thị Thanh Hương (2010, tr.32-33) về 3 thuật ngữ trên, có:  
Điểm giống nhau: Về hình thức lẫn nội dung thì tư vấn nghề, TVHN và tư vấn nghề  
nghiệp đều có chung mục tiêu chung nhất, cao nhất là giúp HS chọn được ngành học,  
nghề học và trường học sao cho phù hợp với yêu cầu của nghề, của xã hội và đặc điểm  
của bản thân các em. Điểm khác nhau cơ bản: Xét về đối tượng, phạm vi và mức độ thì  
tư vấn nghề là tư vấn diện hẹp, phạm vi diễn ra trong trường dạy nghề, trường trung  
cấp chuyên nghiệp, nó gắn với một ngành, một nghề cụ thể và đặc biệt gắn với khâu  
tuyển chọn nghề. Tư vấn nghề nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động tư vấn gắn với  
những lựa chọn nghề nghiệp trải dài trong toàn bộ cuộc đời của cá nhân, trong khi đó  
TVHN quan tâm chủ yếu đến việc tư vấn định hướng nghề nghiệp cho HS trong các  
trường thuộc hệ thống giáo dục phổ thông. TVHN là tư vấn diện rộng, đối tượng của  
TVHN là HS phổ thông, phạm vi diễn ra trong nhà trường phổ thông và trong trung  
tâm kĩ thuật tổng hợp-hướng nghiệp. Như vậy, nội hàm khái niệm tư vấn nghề nghiệp  
193  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 16, Số 4 (2019): 189-200  
bao hàm cả nội hàm khái niệm TVHN. TVHN được xem như là giai đoạn đầu của tư  
vấn nghề nghiệp.  
Các định nghĩa trên cho thấy TVHN bao gồm hai loại công việc: Một là hoạt  
động hướng dẫn, định hướng cho HS đi đến một nghề nhất định và Hai là hoạt động  
chuẩn bị cho các em cả về tri thức, kĩ năng, thái độ để tham gia vào lĩnh vực nghề  
nghiệp đó (tất nhiên nghề nghiệp này phải phù hợp với hứng thú, năng lực của các em  
và phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội, của thị trường sức lao động).  
Quản lí  
Từ những định nghĩa của Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich  
(1998), Hoàng Phê (2002), Thái Duy Tuyên (2010), Nguyễn Lộc (2010), Trần Kiểm &  
Nguyễn Xuân Thức (2012)… có thể khái quát quản lí là “sự tác động có tổ chức, có kế  
hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí, thông qua thông qua  
các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá để đạt được mục tiêu  
quản lí. Bản chất của quản lí là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lí đến đối  
tượng quản lí, nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí  
có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau. Chủ thể quản lí nảy sinh các động lực  
quản lí, còn khách thể quản lí làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng  
nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lí”.  
Tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông  
Hoạt động TVHN cho HS THPT là quá trình tương tác giữ chủ thể tư vấn là GV  
THPT hay chuyên gia TVHN với đối tượng tư vấn là HS, trong đó chủ thể tư vấn phải  
có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp để giúp HS hiểu vấn đề của bản thân và đưa ra quyết  
định lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp với hợp với khả năng, điều kiện cá  
nhân, gia đình và xu hướng phát triển nghề nghiệp đó trong xã hội. TVHN ở trường  
phổ thông là quá trình trợ giúp và nâng cao nhận thức của HS lựa chọn chọn đúng  
ngành học, trường học hay một lĩnh vực nghề nghiệp để theo đuổi dưới sự trợ giúp của  
người tư vấn thông qua những đặc điểm tâm lí của bản thân để phát triển được sự  
nghiệp cá nhân vừa đóng góp chung cho định hướng phát triển của nền kinh tế - xã hội.  
Như vậy, hoạt động TVHN ở trường phổ thông gồm 3 loại công việc sau: 1) Làm cho  
HS có hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, về nội dung, yêu cầu của những nghề mà cá  
nhân mong muốn lựa chọn, đồng thời giúp cá nhân năm bắt và phân tích được những  
thông tin về thị trường lao động tại địa phương hoặc khu vực… để làm căn cứ lựa chọn  
nghề nghệ; 2) Giúp HS nhận thức được về bản thân, đánh giá được những năng lực và  
khả năng của bản thân, thấy được giá trị của bản thân cũng như những khả năng thành  
công trong tương lai… qua đó giúp cá nhân hình thành thái độ đúng đắn trong lựa chọn  
nghề nghiệp; 3) Hỗ trợ HS đưa ra được các quyết định chọn nghề phù hợp trên cơ sở  
194  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Trần Vĩnh Linh  
tìm ra sự trùng khớp giữa mong muốn, khả năng, năng lực, điều kiện hoàn cảnh bản  
thân và yêu cầu của nghề cũng như nhu cầu của nghề đó trong xã hội.  
Quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường THPT  
Từ khái niệm “quản lí”, và những khái niệm về “hướng nghiệp” “TVHN”, chúng  
tôi nhận thấy công tác quản lí hoạt động TVHN trong nhà trường chính là một bộ phận  
không thể thiếu của quản lí giáo dục. Quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT là hệ  
thống những tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí bằng các  
phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí (lập  
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá) hoạt động TVHN và sử dụng mọi  
nguồn lực sẵn có của nhà trường nhằm đạt mục tiêu của hoạt động này cho HS trong  
trường THPT.  
Bộ máy quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT bao gồm: Ban giám hiệu (Hiệu  
trưởng, phó hiệu trưởng); Tổ trưởng bộ môn; GV chủ nhiệm; GV bộ môn; Đoàn Thanh  
niên Cộng sản Hồ Chí Minh; GV giảng dạy kĩ thuật; Đại diện hội cha mẹ HS; Các cơ  
sở sản xuất ở địa phương. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1981)  
2.2.2. Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT  
Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT có ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc  
định hướng, lựa chọn nghề, lựa chọn trường phù hợp cho HS tốt nghiệp THPT trong  
tương lai. Quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT là hệ thống những tác động có ý  
thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí bằng các phương pháp và công cụ nhất  
định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo  
và kiểm tra, đánh giá) hoạt động TVHN và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của nhà  
trường nhằm đạt mục tiêu của hoạt động này cho HS trong trường THPT.  
Theo Trần Kiểm (2014, tr.11), quản lí giáo dục trong phạm vi nhà trường (vi mô)  
là “hoạt động quản lí bao gồm nhiều loại, như quản lí hoạt động giáo dục: hoạt động  
dạy học, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt  
động lao động, hoạt động ngoại khóa, hoạt động GDHN...; quản lí các đối tượng khác  
nhau: quản lí GV, HS, quản lí tài chính, quản lí cơ sở vật chất...; quản lí nhiều khách  
thể khác: quản lí thực hiện xã hội hóa giáo dục, điều tiết và điều chỉnh ảnh hưởng từ  
bên ngoài nhà trường, tham mưu với Hội phụ huynh HS...”. Bên cạnh đó, quản lí giáo  
dục được diễn ra theo một quá trình, trong quá trình này có sự tác động của các nhân tố  
bên trong và bên ngoài nhằm thực hiện mục đích của quản lí đề ra thông qua bốn chức  
năng cơ bản: Kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển (chỉ đạo thực hiện) và kiểm tra. Trong  
quá trình quản lí còn cần sự tác động từ các yếu tố cơ bản: chủ thể quản lí, đối tượng  
quản lí (người tác động trực tiếp đến đối tượng được tư vấn) và công cụ quản lí. Do đó,  
những lí thuyết quản lí giáo dục trong phạm vi nhà trường đều vận dụng trong quản lí  
195  
pdf 7 trang yennguyen 27600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lí thuyết về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường Trung học Phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfli_thuyet_ve_quan_li_hoat_dong_tu_van_huong_nghiep_o_truong.pdf