Dự án Chiến lược nghiên cứu định hướng các hoạt động nghiên cứu về quản lý chất thải nông nghiệp thông minh, bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
DỰ ÁN HỖ TRỢ NÔNG NGHIỆP CÁC BON THẤP (LCASP)  
CHIẾN LƯỢC NGHIÊN CỨU  
ĐỊNH HƯỚNG CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU  
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NÔNG NGHIỆP THÔNG  
MINH, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CHỐNG BIẾN ĐỔI  
KHÍ HẬU  
Tháng 07/2015  
1
DỰ ÁN HỖ TRỢ NÔNG NGHIỆP CÁC BON THẤP  
Chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp các bon thấp (CSAWMP)  
1 Vị trí, vai trò của dự án LCASP trong các chương trình mục tiêu quốc gia  
và của Bộ  
Dự án Hỗ trợ Nông nghiệp Các bon thấp (LCASP) vay vốn Ngân hàng Phát triển  
Châu Á (ADB) với mục tiêu xây dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững, hiệu quả và thân  
thiện với môi trường thông qua việc xây dựng/nhân rộng các mô hình nghiên cứu và chuyển  
giao công nghệ sản xuất nông nghiệp tiên tiến hướng tới giảm phát thải khí nhà kính (KNK)  
và ứng phó/giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), sử dụng hiệu quả tài nguyên  
thiên nhiên, phế phụ phẩm trong nông nghiệp; quản lý hiệu quả hoạt động chế biến, bảo  
quản nông sản sau thu hoạch. Dự án được triển khai để thực hiện những nội dung nêu trong  
các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ chủ quản liên quan đến xử lý chất thải nông  
nghiệp nhằm giảm thiểu tác động do BĐKH, cụ thể là:  
Quyết định 1775/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/11/2012 phê duyệt đề  
án quản lý chất thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Việc quản lý hoạt động kinh doanh tín chỉ  
cácbon nhằm giảm phát thải KNK trong ngành nông nghiệp tập trung vào: (i) ứng dụng biện  
pháp canh tác lúa tiên tiến theo hướng tiết kiệm và giảm chi phí đầu vào; (ii) thu gom, tái  
chế, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, phát triển và ứng dụng công nghệ xử lý chất thải  
hữu cơ trong canh tác rau màu, mía, cây công nghiệp ngắn và dài ngày; (iii) phát triển công  
nghệ khí sinh học (KSH) và hoàn thiện hệ thống thu gom, lưu trữ, xử lý phân chuồng trong  
chăn nuôi gia súc, gia cầm…  
Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/6/2013 phê duyệt Đề  
án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền  
vững. Một số nội dung tái cơ cấu được nêu trong đề án như “sản xuất tập trung gắn với bảo  
quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị”, “xử lý chất thải nông nghiệp, áp dụng công  
nghệ tưới tiết kiệm”, “áp dụng kỹ thuật và công nghệ phù hợp để vừa tạo cơ hội sinh kế cho  
hộ nông dân vừa hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường”, “phát triển nguồn  
năng lượng tái tạo từ các phụ phẩm của ngành chăn nuôi”.  
Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN của Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển  
Nông thôn (Bộ NN & PTNT), ngày 16/12/2011 phê duyệt đề án giảm phát thải KNK trong  
nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020. Một trong những mục tiêu chính của đề án là thúc  
đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp xanh theo hướng an toàn, phát triển bền vững, ít phát  
thải, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần giảm nghèo và ứng phó có hiệu quả  
với BĐKH. Cụ thể là đến năm 2020 giảm 20% lượng KNK trong nông nghiệp, nông thôn  
(tương đương 18,87 triệu tấn CO2); đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng và giảm tỷ lệ  
đói nghèo theo chiến lược phát triển của ngành. Để thực hiện đề án trên, các hoạt động  
chính liên quan đến việc quản lý chất thải nông nghiệp phải thực hiện là:  
2
- Trong trồng trọt: (i) Ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa tiên tiến theo  
hướng tiết kiệm nước tưới và chi phí đầu vào để giảm phát thải KNK; (ii) thu gom, tái sử  
dụng và xử lý triệt để rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp khác…nhằm hạn chế tối đa tình trạng  
đốt, vứt bỏ…vừa lãng phí tài nguyên vừa gây phát thải KNK và ô nhiễm môi trường; (iii)  
chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các cây trồng cạn có  
nhu cầu nước thấp và hiệu quả kinh tế cao hơn .  
- Trong chăn nuôi: (i) Ứng dụng công nghệ chăn nuôi tiên tiến nhằm giảm tiêu tốn  
thức ăn trên đơn vị sản phẩm, gián tiếp hạn chế chất thải; (ii) ứng dụng công nghệ KSH để  
xử lý phế thải chăn nuôi, sản xuất nhiên liệu sạch thay thế nhiên liệu hóa thạch; (iii) ứng  
dụng công nghệ ủ chất thải phù hợp nhằm tạo ra nguồn phân hữu cơ chất lượng cao, đồng  
thời giảm phát thải KNK.  
- Trong thủy sản: (i) Ứng dụng công nghệ nuôi trồng thủy sản tiên tiến để giảm tiêu  
tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm, qua đó giảm lượng chất thải ra môi trường; (ii) Với  
một số loài thủy sản có thể nghiên cứu, phát triển kỹ thuật nuôi ghép để hỗ trợ xử lý chất  
thải; (iii) ứng dụng công nghệ xử lý chất thải trong nuôi trồng thủy sản nhằm giảm mức độ  
phát thải KNK và cung ứng cho nông nghiệp nguồn phân bón hữu cơ chất lượng cao.  
Quyết định số 3367/QĐ-BNN-TT của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT ban hành ngày  
31/7/2014 về việc phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa giai  
đoạn 2014-2020. Mục tiêu của qui hoạch là vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa duy trì  
quỹ đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người dân, góp  
phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với  
BĐKH. Để đạt được mục tiêu trên, trong giai đoạn 2016-2020 phải chuyển đổi khoảng 510  
ngàn ha đất lúa sang cây trồng khác (156 ngàn ha trồng ngô, 33 ngàn ha đậu tương, 54 ngàn  
ha vừng, lạc, 116 ngàn ha trồng rau, hoa, 37 ngàn ha trồng cây thức ăn chăn nuôi, 58 ngàn  
ha cây khác và 56 ngàn ha nuôi trồng thủy sản)1. Do vậy, các hoạt động liên quan đến canh  
tác, xử lý chất thải cũng cần được điều chỉnh đồng bộ.  
1 Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch năm 2014 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2015 của Bộ NN & PTNT, ngày  
25/12/2014  
3
2 Tiềm năng và hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, lúa các  
bon thấp và chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả tại 10 tỉnh dự án  
2.1 Hiện trạng và tiềm năng sử dụng chất thải chăn nuôi  
Theo Bộ NN & PTNT, số lượng gia súc, gia cầm của Việt Nam tính đến cuối  
năm 2014 như sau: Lợn: 26,76 triệu con, Bò: 5,16 triệu con, Trâu: 2,53 triệu con, Gia  
cầm các loại: 324,6 triệu con (riêng gà là 238,4 triệu con). Tại 10 tỉnh tham gia dự án, số  
lượng gia súc, gia cầm tại thời điểm trên cũng rất lớn: Lợn: 5,9 triệu con, Trâu: 509  
nghìn con, Bò: 1,1 triệu con, gia cầm các loại: 72,5 triệu con. Về trâu, bò, 3 tỉnh có số  
lượng lớn là Sơn La, Bình Định và Hà tĩnh, tương ứng là 348; 273 và 242 nghìn con.  
Trong khi đó, lợn có nhiều ở Bắc Giang (1,2 triệu con), Phú Thọ, Nam Định và Bình  
Định. Bắc Giang và Phú Thọ là 2 tỉnh có đàn gà lớn nhất, tương ứng là 14,0 và 10,5  
triệu con.2  
Ước tính hàng năm, chăn nuôi gia súc thải ra khoảng 80 triệu tấn phân, 54 triệu  
m3 nước tiểu và hàng tỷ mét khối khí. Số lượng tương ứng ở 10 tỉnh tham gia dự án là:  
18,3 triệu tấn phân và 7,2 triệu m3 nước tiểu.3  
Thống kê về biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi của 55/63 tỉnh/thành năm 2013  
cho thấy: Trong tổng số 12.427 trang trại điều tra có 729 trang trại làm đệm lót sinh học  
(6,37%), 3.950 trang trại sử dụng biogas (31,79%), 235 trang trại áp dụng ủ phân  
compost (1,89%), 6.694 trang trại bán phân ra ngoài (25,61%), áp dụng biện pháp khác  
có 270 trang trại (2,17%) và số trang trại chưa áp dụng biện pháp xử lý nào là 781 trang  
trại (6,28%). Cũng theo kết quả tổng hợp này, trong tổng số 5,6 triệu hộ chăn nuôi có  
61,4 ngàn hộ áp dụng đệm lót sinh học (1,08%); 231,2 ngàn hộ áp dụng biogas (4,08  
%); 6,15 % số hộ ủ phân và 37,28 % số hộ chưa áp dụng biện pháp xử lý chất thải.  
Xử lý chất thải ở 10 tỉnh tham gia dự án cũng không ngoài tình hình chung cả  
nước. Theo thống kê của Cục Chăn nuôi (2013) cho thấy: tỷ lệ lượng chất thải sử dụng  
cho KSH thấp, khoảng 3,7%, Tỷ lệ ủ phân compost cao hơn trung bình cả nước nhưng  
cũng chỉ ở mức 10% (tương đương 1,8 triệu tấn phân). Một số tỉnh có tỷ lệ ủ compost  
cao như Bắc Giang, Phú Thọ và Tiền Giang với tỷ lệ tương ứng là 21,6%, 17,4% và  
9,2%. Đây là các tỉnh có diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả lớn nên có nhu cầu cao  
về phân hữu cơ. Các tỉnh miền núi có tỷ lệ ủ compost thấp. Tỷ lệ phân không qua xử lý  
(sử dụng trực tiếp) rất cao, trung bình của 10 tỉnh là 62,2%, tương đương 11,4 triệu tấn.  
Hình thức khác gồm xả ra ao, mương, kênh rạch cũng khá cao 24,1% (tương đương 3,7  
triệu tấn).  
Tóm lại, chất thải chăn nuôi đang là vấn đề lớn trong môi trường nông thôn. Tỷ lệ  
phân được xử lý (qua KSH, hay ủ compost) rất thấp chỉ 13,7%, phần còn lại 86,3% (gần  
2 Tham khảo Phụ lục 1.  
3 Tham khảo Phụ lục 2. Phụ lục 2 nêu chi tiết về lượng chất thải (phân và nước tiểu) thải ra trong năm của từng đối  
tượng gia súc, gia cầm của 10 tỉnh tham gia dự án  
4
16 triệu tấn) dùng bón trực tiếp ra đồng ruộng hoặc xả vào kênh, mương, ao hồ, cộng  
với 7,2 triệu m3 nước tiểu thải ra hàng năm4. Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường và  
lây lan bệnh tật tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.  
2.2 Hiện trạng và tiềm năng sử dụng phế phụ phẩm trồng trọt  
Với lợi thế là nước nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về nguồn phế  
phụ phẩm trồng trọt. Theo số liệu thống kê năm 2013 nguồn phế phụ phẩm từ các cây  
trồng chính (lúa, ngô, mía, lạc, đậu tương) là 76,76 triệu tấn, trong đó có 53,77 triệu tấn  
phế phụ phẩm từ cây lúa, 12 triệu tấn từ cây mía và gần 10 triệu tấn phế phụ phẩm từ  
cây ngô….  
Tổng diện tích đất nông nghiệp của 10 tỉnh dự án là 3.013.494 ha, trong đó đất  
lúa 603.216 ha, chiếm 20% diện tích đất nông nghiệp và bằng 15,87% diện tích đất lúa  
cả nước. Đất trồng cây lâu năm là 401.907 ha, chiếm 13,3% tổng diện tích đất nông  
nghiệp; do vậy nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp năm 2013 tại 10 tỉnh tham gia dự án  
rất lớn, ước tính là 39,76 triệu tấn5, trong đó có 13,77 triệu tấn phế phụ phẩm trồng trọt  
(chiếm 34.4%) và 26,08 triệu tấn chất thải chăn nuôi (chiếm 63.6%).  
Nguồn phế phụ phẩm này hiện nay đang được sử dụng một cách lãng phí, đa  
phần là đốt bỏ (6,29 triệu tấn, chiếm 45,9%), làm thức ăn cho gia súc (3,97 triệu tấn,  
chiếm 29.0%), vứt tại ruộng (1,18 triệu tấn, chiếm 8,6%), ủ phân (0,69 triệu tấn, chiếm  
5.0%), sử dụng cho trồng trọt (0,56 triệu tấn chiếm 4,1%), còn lại 7% (1 triệu tấn) sử  
dụng là củi trấu, trồng nấm, độn chuồng6. Việc đốt bỏ trực tiếp rơm rạ tại ruộng đang là  
nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và làm cho độ phì nhiêu đất bị suy giảm.  
2.3 Hiện trạng và tiềm năng sử dụng phế phụ phẩm thuỷ sản  
Hiện tại chưa có bất cứ số liệu báo cáo chính thức về phế phụ phẩm của ngành  
thủy sản. Tuy nhiên thực tế cho thấy, phế phụ phẩm trong ngành thủy sản thường do sử  
dụng thức ăn chăn nuôi thừa, lắng cặn thành bùn tại các diện tích nuôi trồng (tôm, cá) và  
các phụ phẩm tại các nhà máy/cơ sở chế biến.  
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, ước tính năm 2014, cả nước có khoảng  
685.000 ha nuôi tôm nước lợ (tôm sú và tôm chân trắng), diện tích nuôi cá tra ước đạt  
5.500 ha. Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2014 là 3.620.000 tấn, trong đó tôm nước  
lợ (tôm sú và tôm chân trắng) chiếm 660.000 tấn, cá tra là 1.100.000 tấn. Căn cứ vào  
diện tích nuôi trên, ước tính lượng bùn đáy ao nuôi trồng tôm ước khoảng 67,82 triệu  
tấn. Do phần lớn diện tích nuôi tôm sử dụng nước lợ, nên lượng bùn thải ao nuôi tôm bị  
nhiễm mặn, khó có thể sử dụng làm phân bón cho các loại cây trồng mà phải đổ bỏ.  
Lượng phế phụ phẩm từ sản xuất cá tra/ba sa ước khoảng 0,41 triệu tấn (trên  
phạm vi toàn quốc). Hiện tại, rất ít nông dân nuôi cá tra/ba sa (ước tỷ lệ dưới 10%) sử  
4 Tham khảo Phụ lục 3  
5 Tham khảo Phụ lục 4  
6 Tham khảo Phụ lục 5 về Hiện trạng sử dụng chất thải trồng trọt tại 10 tỉnh  
5
dụng lượng phế phụ phẩm này cho trồng trọt và đây chính là nguồn nguyên liệu có thể  
xử lý để sản xuất phân bón hữu cơ.  
Ước tính phế phụ phẩm của các tỉnh dự án là 10,06 triệu tấn bùn thải ao nuôi tôm  
(thường vứt bỏ) và khoảng 69.407 tấn bùn thải ao nuôi cá tra/ba sa (có thể sử dụng làm  
phân bón/chất phụ gia). Các tỉnh có tiềm năng lớn sử dụng bùn thải ao nuôi làm phân  
bón/chất phụ gia gồm Bến Tre (52.772 tấn), Tiền Giang (11.210 tấn) và Sóc Trăng  
(5.425 tấn).7  
Với chất thải trong chế biến thủy sản, hiện chưa có thống kê chi tiết từ các cơ  
sở/nhà máy chế biến. Tuy nhiên, các cơ sở chế biến thủy sản thường áp dụng công nghệ  
hiện đại để chế biến và lượng phế phụ phẩm hầu hết được sử dụng để chế biến thức ăn  
chăn nuôi, ít gây ô nhiễm môi trường.  
2.4 Hiện trạng trồng lúa nước và tiềm năng phát triển lúa các bon thấp  
Lúa là cây có diện tích lớn nhất trong các cây trồng nông nghiệp với khoảng 7,6  
triệu ha gieo trồng. Theo kết quả kiểm kê phát thải KNK của Việt Nam, lượng phát thải  
cao nhất từ khu vực sản xuất nông nghiệp với 88,35 triệu tấn CO2 qui đổi, chiếm 33,20%  
tổng lượng phát thải KNK toàn quốc. Trong ngành nông nghiệp, lượng phát thải cao nhất  
tại khu vực trồng lúa với 44,61 triệu tấn CO2 qui đổi, chiếm 50,49% lượng phát thải KNK  
trong nông nghiệp.8  
Diện tích đất nông nghiệp của 10 tỉnh thuộc Dự án là 3.013.494 ha, trong đó đất  
lúa 603.216 ha (20%) và bằng 15,87% diện tích đất lúa cả nước, do vậy diện tích này  
cũng sẽ đóng góp tương ứng gần 20% lượng phát thải KNK quốc gia.9  
Do sản xuất lúa là lĩnh vực phát thải KNK lớn nhất, nên các quốc gia trồng lúa  
muốn giảm phát thải đều hướng vào lĩnh vực này trước tiên và kỹ thuật sản xuất lúa các  
bon thấp sẽ là giải pháp hữu hiệu giúp giảm phát thải KNK.  
Lúa các bon thấp là lúa trồng có áp dụng các biện pháp canh tác cải tiến hướng  
đến nâng cao hiệu quả sản xuất đồng thời giảm thiểu phát thải KNK như: giảm sử dụng  
phân hữu cơ tươi; ứng dụng tưới nước linh hoạt (khô ướt xen kẽ), bón phân đạm chậm  
tan, canh tác tối thiểu….. Một số kỹ thuật canh tác lúa các bon thấp đã và đang được áp  
dụng tại 10 tỉnh thuộc Dự án. Tuy nhiên, theo điều tra, chỉ một nửa diện tích trồng lúa  
của 10 tỉnh có áp dụng kỹ thuật sản xuất lúa các bon thấp (329 ngàn ha đất lúa các bon  
thấp/603 ngàn ha đất lúa)10.  
7 Tham khảo Phụ lục 6  
8 Nguồn: The initial biennial updated report of Vietnam to the United Nations framework convention on climate change.  
MONRE, 2014  
9 Tham khảo Phụ lục 7  
10 Tham khảo Phụ lục 8.  
6
Theo tính toán, lượng KNK từ sản xuất lúa của 10 tỉnh sẽ tương đương 6,86 triệu  
tấn CO2 qui đổi11. Do vậy, nếu có 50% diện tích được áp dụng kỹ thuật sản xuất lúa các  
bon thấp thì lượng phát thải KNK cũng đã được giảm thiểu đáng kể.  
2.5 Hiện trạng đất lúa kém hiệu quả và tiềm năng chuyển đổi đất lúa kém  
hiệu quả  
Đất trồng lúa kém hiệu quả là loại đất có độ phì nhiêu không phù hợp với canh  
tác lúa như thường xuyên ngập úng sâu, nhiễm mặn, phèn, khô hạn, thiếu nguồn nước  
tưới,…dẫn đến năng suất lúa thấp và chi phí sản xuất cao.  
Qua điều tra, khảo sát tại 10 tỉnh dự án, tổng diện tích đất lúa kém hiệu quả là  
35.035 ha, trong đó tỉnh có diện tích đất lúa kém hiệu quả lớn nhất là Hà Tĩnh với  
10.450 ha, Bình Định là 7.672 ha, chủ yếu là do thiếu nước tưới, bị ảnh hưởng của xâm  
nhập mặn. Các tỉnh vùng núi phía Bắc có diện tích đất lúa kém hiệu quả thường ít hơn 1  
ngàn ha như Lào Cai và Sơn La, nguyên nhân do diện tích đất lúa ít.12  
Căn cứ vào Nghị quyết số 25/ND-CP của chính phủ phê duyệt quy hoạch cơ cấu  
sử dụng đất toàn quốc và quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh, 10 tỉnh dự án đã lên kế  
hoạch đến 2020 chuyển đổi 15.540 ha sang trồng rau và hoa (44,4%), chuyển 4.201 ha  
sang cây ngô (11%) và chuyển 4.778 ha sang trồng cây ăn quả (chiếm 16,5%).13  
3 Các công nghệ hiện có để xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp giúp giảm ô  
nhiễm môi trường và tạo thu nhập cho nông dân tại 10 tỉnh dự án  
3.1 Công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi  
3.1.1 Công nghệ khí sinh học  
Công nghệ KSH đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ đầu những năm 1960. Kể  
từ đó, công nghệ này luôn được cải tiến và ứng dụng rộng rãi ở những quy mô khác nhau và  
đem lại hiệu quả đáng kể về kinh tế - xã hội và môi trường. KSH được sinh ra từ quá trình  
phân hủy kỵ khí các vật chất hữu cơ và sản phẩm tạo thành là một hỗn hợp khí, chủ yếu là  
mê tan (CH4) và các bon níc (CO2).  
Theo báo cáo quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo vùng đồng bằng và trung du  
Bắc bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Bộ Công Thương, công nghệ KSH quy  
mô nông hộ được áp dụng chủ yếu ở Việt Nam là dạng vòm nắp cố định (KT1, KT2) và  
composit. Đến nay cả nước có khoảng 500.000 công trình KSH quy mô nông hộ. Các hộ  
dân chủ yếu sử dụng KSH để đun nấu và thắp sáng. Ở quy mô vừa và lớn, công nghệ KSH  
được các trang trại chăn nuôi sử dụng chủ yếu là hồ kỵ khí phủ bạt.  
11 Lượng phát thải từ trồng lúa nước của 10 tỉnh = tỷ lệ diện tích trồng lúa của 10 tỉnh trong cả nước x lượng phát thải  
từ trồng lúa nước của cả nước = 15,87% x 44,61 = 7,08 triệu tấn CO2  
12 Tham khảo Phụ lục 9  
13 Tham khảo Phụ lục 10  
7
Hiện nay, mô hình KSH áp dụng tại 10 tỉnh của dự án chủ yếu là quy mô nông hộ  
(thể tích bể <50m3) với nhiều loại công nghệ khác nhau, chiếm chủ yếu là công nghệ KSH  
dạng vòm nắp cố định (KT1, KT2), composite, bể hình trụ, bể bê tông và túi ni lông. Ở một  
số tỉnh có quy mô chăn nuôi lớn như Bắc Giang, Nam Định, Bình Định, Tiền Giang đã bắt  
đầu xuất hiện những mô hình KSH quy mô vừa và lớn kiểu phủ bạt HDPE.  
Theo báo cáo của 10 tỉnh tham giá dự án thì tiềm năng phát triển mô hình KSH quy  
mô nông hộ là rất lớn (gần 262.000 công trình), quy mô vừa là 3.177 công trình (đối với các  
hộ/trang trại có 100-1.000 đầu lợn) và quy mô lớn là 132 công trình (trang trại có quy mô  
trên 1.000 đầu lợn).  
3.1.2 Sản xuất phân bón hữu cơ  
Theo Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), trung bình mỗi năm ngành chăn nuôi thải ra  
85-90 triệu tấn phân, nhưng chỉ khoảng 40% được xử lý, còn thải trực tiếp ra môi trường,  
gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hiện nay, do chăn nuôi nông  
hộ là chủ yếu nên biện pháp truyền thống để xử lý chất thải phổ biến là ủ làm phân bón hữu  
cơ (ủ compost).  
Việc sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi bằng cách ủ trực tiếp  
theo phương pháp truyền thống chủ yếu được thực hiện ở một số tỉnh như Lào Cai, Sơn La,  
Phú Thọ, Nam Định, Bắc Giang, Hà Tĩnh. Riêng tỉnh Sóc trăng, Tiền Giang và Bến Tre  
người dân không ủ phân trực tiếp mà phơi khô sau đó đem bón cho cây trồng. Một phần  
phân bò tại các tỉnh Bình Định, Tiền Giang và Bến Tre được thương lái thu gom với giá  
khoảng 400đ/kg sau đó bán lại cho công ty sản xuất phân bón hữu cơ sinh học ở Đắk Lắk.  
Đây là phương thức thu gom phân hữu cơ khá hiệu quả, nhất là tạo nguồn bổ sung hữu cơ  
cho các vùng sản xuất cây công nghiệp tập trung như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ…  
3.1.3 Làm thức ăn bổ sung cho cá  
Theo phương pháp truyền thống, cá ăn trực tiếp phân chuồng hoặc gián tiếp thông  
qua nguồn thức ăn tự nhiên được phát triển nhờ nguồn phân gia súc. Theo tổng hợp từ Tổng  
cục thủy sản có tới 40-45% số hộ nuôi cá ở các tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Nam Định,  
Hà Tĩnh và Bình Định bón phân gia súc, gia cầm trực tiếp xuống ao. Còn ở các tỉnh đồng  
bằng sông Cửu Long, hiện nay đang phát triển nhiều mô hình nuôi kết hợp cá – lợn trên  
nguyên tắc không cần phải sử dụng thức ăn chế biến cho cá. Chất thải từ hệ thống chuồng  
lợn là nguồn dinh dưỡng chính cho cá nuôi trong ao.  
Một số mô hình kết hợp trồng trọt, chăn nuôi khá hiệu quả có thể nhân rộng là kết  
hợp chăn nuôi, trồng trọt và nuôi cá theo nguyên tắc khép kín như sau: Thức ăn thừa cùng  
với chất thải chăn nuôi sẽ là nguồn thức ăn cho cá; nước ao nuôi và bùn ao sẽ là nguồn phân  
bón và nước tưới cho cây trồng (rau cây ăn quả...), rau và phụ phẩm từ cá lại được sử dụng  
làm thức ăn chăn nuôi....  
8
3.1.4 Làm thức ăn cho giun (trùn quế)  
Trùn quế thuộc nhóm trùn ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu  
cơ đang phân hủy, là một trong những giống trùn đã được thuần hoá, nhập nội và đưa vào  
nuôi công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ tại nước ta hiện nay. Thức ăn của trùn quế có thể  
là phân bò, phụ phẩm từ trồng trọt như ươm rạ, bã sắn, rau củ quả hỏng v.v … mà hầu như  
hộ chăn nuôi nào cũng đáp ứng được. Mô hình sử dụng chất thải chăn nuôi để nuôi trùn quế  
chủ yếu phát triển ở các tỉnh Bình Định, Bến Tre và Tiền Giang.  
3.1.5 Máy ép phân  
Đây là công nghệ hiện đại được nhập vào nước ta chưa lâu nhưng rất hiệu quả và  
đang được nhiều hộ chăn nuôi quan tâm áp dụng. Dựa trên nguyên tắc “lưới lọc”, máy ép có  
thể tách hầu hết các tạp chất nhỏ đến rất nhỏ trong hỗn hợp chất thải chăn nuôi, tùy theo tính  
chất của chất rắn mà có lưới lọc phù hợp. Khi hỗn hợp chất thải đi vào máy ép qua lưới lọc  
thì các chất rắn được giữ lại, ép khô và đưa ra ngoài để xử lý riêng, còn lượng nước chảy ra  
ngoài hoặc xuống hầm KSH xử lý tiếp. Độ ẩm của sản phẩm (phân khô) có thể được điều  
chỉnh tùy theo mục đích sử dụng. Quá trình xử lý này tuy đầu tư ban đầu tốn kém hơn  
nhưng là một trong những biện pháp hiệu quả nhất đối với các trang trại chăn nuôi lợn, trâu  
bò theo hướng công nghiệp hiện nay. Công nghệ này chưa được áp dụng tại 10 tỉnh thuộc  
dự án.  
3.2 Công nghệ xử lý phế phụ phẩm trồng trọt  
3.2.1 Củi trấu và bếp đun cải tiến  
Hiện nay, thói quen sử dụng củi, rơm, rạ hoặc các loại nhiên liệu có sẵn khác từ  
thiên nhiên trong việc đun nấu hàng ngày vẫn còn phổ biến ở nhiều hộ gia đình khu vực  
nông thôn, miền núi. Theo nghiên cứu của Liên minh vì bếp sạch toàn cầu, hiện vẫn còn  
khoảng 56% dân số Việt Nam đun nấu hàng ngày bằng củi và các phụ phẩm trồng trọt thông  
qua bếp đun truyền thống có hiệu năng sử dụng nhiên liệu thấp, nhiều khói bụi gây ô nhiễm,  
ảnh hưởng sức khỏe người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Nhằm nâng cao hiệu quả của  
bếp đun và hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe con người, bếp đun cải tiến được ra đời. Ở Việt  
Nam hiện nay có 3 loại công nghệ bếp đun cải tiến là: i) Bếp củi cải tiến: Đây là loại bếp cải  
tiến đơn giản của bếp kiềng truyền thống, không có quạt thổi (khò); ii) Bếp bán khí hóa:  
Đây là loại bếp cải tiến mà lửa, khí CO sinh ra và sinh khối ở cùng một buồng đốt. Bếp này  
yêu cầu phải có quạt thổi và sinh khối phải có kích cỡ nhỏ (vỏ trấu, vụn gỗ, sinh khối ép…)  
và iii) Bếp khí hóa: Đây là loại bếp mà ngọn lửa và khí CO/sinh khối ở các buồng khác  
nhau. Bếp này yêu cầu phải có quạt thổi và sinh khối được xử lý đến kích thước nhỏ (vỏ  
trấu, vụn gỗ, sinh khối ép...).  
Bếp đun củi cải tiến và bếp bán khí hóa được sử dụng ở hầu hết 10 tỉnh tham gia dự  
án, trong khi bếp khí hóa mới chỉ được triển khai ở tỉnh Phú Thọ, Lào Cai và Sơn La.  
9
Bên cạnh việc cải tiến về bếp, nhiên liệu đầu vào là phế phụ phẩm trồng trọt thô  
cũng được nghiên cứu chế biến thành các loại viên nén (củi trấu, viên nén từ lõi ngô, …) để  
thuận tiện cho vận chuyển và sử dụng. Hiện nay đã có máy ép trấu thành củi trấu có khả  
năng duy trì sự cháy lâu hơn so với các nhiên liệu khác như than đá, củi, khi đốt không có  
khói.... Đây được xem là nguồn năng lượng tái sinh, chi phí thấp thay thế cho củi gỗ, than,  
dầu,…. hoặc các chất đốt khác trong lò hơi công nghiệp. Hiện nay trong 10 tỉnh tham gia dự  
án, chỉ có tỉnh Tiền Giang áp dụng công nghệ này.  
3.2.2 Phân bón hữu cơ  
Phế phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân lá cây bộ đậu (lạc và đậu tương), bã  
mía, lõi ngô là nguồn phế thải giàu lignocellulose rất phù hợp cho sản xuất phân bón hữu cơ  
sinh học. Có nhiều cách sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với chất thải chăn nuôi  
để tạo nguồn hữu cơ như vùi lại cho đất, ủ phân compost….  
Hiện nay, một số nơi đã chế biến phế phụ phẩm nông nghiệp (chủ yếu là trấu) thành  
than sinh học và than hoạt tính (đốt yếm khí). Than sinh học có cấu trúc rỗng, nhiều lỗ và có  
khả năng hấp phụ chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng từ phân bón nên hạn chế rửa trôi,  
đồng thời giúp cải thiện cấu trúc của đất. Than sinh học có thể sử dụng trực tiếp bón vào đất  
hoặc phối trộn với phân hữu cơ, phân khoáng. Than sinh học đang được thử nghiệm tại  
nhiều địa phương, song phổ biến hơn là tại Bình Định. Với than hoạt tính, nguồn nguyên  
liệu phổ biến là gáo dừa, song gần đây Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đang thử nghiệm  
sản xuất từ trấu và rất có triển vọng.  
3.2.3 Thức ăn chăn nuôi  
Phụ phẩm nông nghiệp chủ yếu được thu gom để chế biến thức ăn cho gia súc vào  
mùa khô khi thiếu cỏ. Mô hình này phát huy tác dụng tốt ở những nơi có nguồn phụ phẩm  
nông nghiệp dồi dào, song lại có mùa khô kéo dài làm thiếu nguồn thức ăn xanh như tại  
Sơn La, Lào Cai, Sóc Trăng, Bình Định và Bến Tre.  
3.2.4 Đệm lót sinh học  
Công nghệ đệm lót sinh học được sử dụng trong chăn nuôi vì nó đơn giản, không tốn  
chi phí mua nguyên liệu để làm đệm lót mà có thể tận dụng nguyên liệu sẵn có như: Mùn  
cưa, trấu, bã mía… Ứng dụng đệm lót sinh học không chỉ tận dụng được phế phụ phẩm mà  
còn giảm lãng phí thức ăn, ô nhiễm môi trường…Giải pháp này đã được áp dụng rải rác ở  
một số tỉnh với số lượng không nhiều như Bắc Giang, Nam Định, Sóc Trăng, Bình Định,  
Tiền Giang, Phú Thọ …tuy nhiên hiệu quả đem lại chưa cao14.  
14 Tham khảo Phụ lục 11 về Tình hình áp dụng Đệm lót sinh học tại 10 tỉnh thuộc Dự án  
10  
3.2.5 Vật liệu xây dựng  
Hiện nay, một số lượng nhỏ phế phụ phẩm trồng trọt đang được sử dụng để làm đồ  
thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng (gáo dừa, gỗ dừa làm ván sàn, bột rơm làm panel lõi  
xốp, trấu ép làm tấm cách nhiệt, …).  
3.3 Công nghệ xử lý chất thải nuôi trồng thuỷ sản  
3.3.1 Xử lý bùn thải ao nuôi làm phân bón hữu cơ  
Trong các loại hình nuôi trồng thủy sản thâm canh và công nghiệp, một lượng lớn  
thức ăn thừa được thải ra ao nuôi nên nước trong các ao bị phú dưỡng (tích lũy chất hữu cơ  
và nitơ, phốtpho). Hiện tại, bùn thải từ đáy ao sau nuôi trồng thủy sản được người dân chủ  
yếu đắp lại trên bờ ao hoặc đổ ở ven biển… Chất bùn thải này chưa qua xử lý và còn mang  
nhiều mầm bệnh, vì vậy, nguy cơ gây ô nhiễm trở lại ao nuôi là rất lớn. Tuy nhiên, bùn thải  
thủy sản lại rất giàu chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng khác, nên có thể sử dụng làm phân  
bón, trừ các ao nuôi sử dụng nước mặn và nước lợ cần loại bỏ muối. Quy trình ủ bùn thải  
làm phân bón khá đơn giản. Sau khi thu hoạch, xả cạn nước, bùn lắng ở đáy ao được thu  
gom, phơi khô, sau đó, trộn với chế phẩm vi sinh rồi ủ yếm khí từ 7-10 ngày. Mang hỗn hợp  
này trộn với mụn dừa tạo thành phân bón hữu cơ.  
Hiện tại phương pháp này mới chỉ dừng lại ở đề tài nghiên cứu mà chưa được triển  
khai rộng rãi tại các địa phương.  
3.3.2 Xử lý nước thải ao nuôi bằng phương pháp sinh học  
Nước thải ao nuôi bị ô nhiễm chủ yếu do nguồn thức ăn dư thừa phân hủy, cùng với  
chất thải từ chính cá, tôm…làm phú dưỡng nguồn nước, dẫn đến các chỉ số COD, BOD tăng  
mạnh. Có nhiều phương pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước do chất thải nuôi trồng thủy  
sản, song phương pháp lọc sinh học hiếu khí (BIOFLOC) có nhiều ưu điểm nhất xét cả về  
phương diện kinh tế lẫn môi trường vì quy mô các đầm ao nuôi trồng thủy sản không lớn,  
không cần nhiều diện tích xây dựng hệ thống xử lý nước thải như các hồ sinh học.  
Trong các tỉnh tham gia dự án có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như Hà Tĩnh, Sóc  
Trăng, Bến Tre và Tiền Giang đã áp dụng hiệu quả phương pháp xử lý này.  
3.4 Công nghệ lúa các bon thấp  
Hiện nay, các kỹ thuật phổ biến được áp dụng trong canh tác lúa các bon thấp tại Việt  
Nam nói chung và 10 tỉnh thuộc Dự án nói riêng bao gồm: thâm canh lúa cải tiến (SRI); 1  
phải 5 giảm; 3 giảm, 3 tăng, nông lộ phơi, canh tác lúa tối thiểu.  
Theo số liệu điều tra của Viện nước và tưới tiêu và môi trường, tại 10 tỉnh tham gia  
dự án, tổng diện tích đất canh tác lúa năm 2013 là 603.216 ha. Tuy nhiên, miền Nam chủ  
yếu 1 phải 5 giảm, trong khi các tỉnh miền Trung và phía Bắc lại phổ biến canh tác theo  
SRI. Canh tác theo nông lộ phơi có tiết kiệm được nước song đòi hỏi mặt ruộng phải được  
11  
san laser, rất tốn kém, do vậy diện tích ứng dụng kỹ thuật này chưa nhiều, chủ yếu vẫn ở qui  
mô thực nghiệm.  
3.5 Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả  
Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả không phải là công nghệ, mà là một giải pháp cho  
những diện tích đất lúa hiệu quả thấp. Mục tiêu chung của chuyển đổi là nhằm “vừa nâng  
cao hiệu quả sử dụng đất, vừa duy trì quỹ đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc  
gia, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội,  
bảo vệ môi trường và thích ứng với BĐKH”15.  
Đối với 10 tỉnh thuộc Dự án, các tỉnh đã và đang xây dựng kế hoạch chuyển đổi đất  
lúa kém hiệu quả sang các cây trồng cạn có giá trị kinh tế cao hơn hoặc nuôi trồng thuỷ sản,  
tuỳ theo đặc thù địa phương. Các tỉnh miền trung có diện tích lúa kém hiệu quả chiếm tỷ lệ  
khá lớn, nguyên nhân chủ yếu do thiếu nước nên hướng chuyển đổi sang trồng cây trồng cạn  
sử dụng ít nước, cho giá trị kinh tế cao hơn như: Bình Định chuyển đổi sang trồng ngô, lạc,  
và rau; Hà Tĩnh chuyển sang trồng cỏ chăn nuôi, lạc và rau các loại. Trong khi các tỉnh vùng  
ĐBSH chuyển sang mô hình lúa kết hợp với cá tại vùng úng trũng và thâm canh nuôi trồng  
thủy sản ở vùng ven biển cũng như vùng ngập sâu thường xuyên.  
4 Những hạn chế trong việc áp dụng các công nghệ nông nghiệp các bon  
thấp tại 10 tỉnh dự án  
4.1 Công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi  
4.1.1 Công nghệ khí sinh học  
Hạn chế lớn nhất hiện nay là công suất của công trình KSH cố định, trong khi quy  
mô chăn nuôi của hộ dân và trang trại luôn thay đổi do phụ thuộc vào giá bán trên thị  
trường. Theo báo cáo về công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi của Cục Chăn nuôi  
năm 2014 cho thấy các trang trại chăn nuôi tập trung phần lớn có hệ thống xử lý chất thải  
với công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để. Bên cạnh đó việc nhận thức  
của người dân về công trình KSH cũng chưa cao. Theo báo cáo điều tra người sử dụng KSH  
của tổ chức phát triển Hà Lan năm 2011cho thấy 17% số hộ điều tra thừa khí sử dụng, trong  
đó 25% số hộ cho các hộ xung quanh dùng để đun nấu, 55.6% số hộ đốt bỏ và 19.4% số hộ  
xả thẳng ra môi trường. Ngoài ra, phụ phẩm KSH không được sử dụng mà được thải thẳng  
ra hệ thống thoát nước chung của xã, chỉ có 39% hộ dân sử dụng phụ phẩm làm phân bón.  
Bên cạnh đó, chất lượng của thiết bị sử dụng KSH như đèn, bộ lọc khí, máy phát điện  
KSH không ổn định, giá thành cao, tuổi thọ thấp dẫn đến việc người dân chưa mặn mà với  
việc sử dụng các thiết bị trên.  
15 Quyết địnhh số 3367/QĐ-BNN-TT về “Phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa giai đoạn  
2014-2020” của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT, ngày 31 tháng 7 năm 2014  
12  
Kết quả đo đạc và phân tích các chỉ số về môi trường cho thấy, chất thải từ đầu vào  
và đầu ra của công trình KSH có sự suy giảm đáng kể, COD vượt quá giá trị cho phép của  
quy chuẩn từ 5 - 11 lần, thấp nhất ở hầm KT1, cao nhất ở hầm composite. Giá trị BOD vượt  
quá ngưỡng cho phép từ 7 - 17 lần, thấp nhất ở hầm KT2, cao nhất ở hầm composite.  
Mặc dù trên thị trường có nhiều loại công trình KSH đã được người dân sử dụng  
nhưng việc ban hành tiêu chuẩn để quản lý chất lượng công trình của cơ quan quản lý nhà  
nước còn hạn chế. Hiện tại, chỉ có một số ít công trình KSH quy mô nhỏ như KT1, KT2,  
composit, … đã có tiêu chuẩn, còn các loại hầm quy mô nhỏ khác như bê tông, nylon, phủ  
bạt và các công trình KSH quy mô vừa và lớn … vẫn chưa có qui chuẩn.  
Thị trường tiêu thụ khí ga cho công trình KSH quy mô vừa và lớn vẫn chưa được  
hình thành. Khí ga sinh ra từ các trang trại phần lớn vẫn bị đốt bỏ gây lãng phí.  
4.1.2 Công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học  
Tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, việc sản xuất phân bón hữu cơ sinh học được  
thực hiện chủ yếu tại quy mô nông hộ, mang tính tự cung tự cấp nên hiệu quả không cao.  
Chuỗi giá trị sản xuất phân bón hữu cơ sinh học quy mô công nghiệp có sự tham gia của  
doanh nghiệp vẫn chưa được hình thành.  
Mặc dù tiềm năng sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ chất thải chăn nuôi của các tỉnh  
tham gia dự án rất lớn nhưng hầu như vẫn chưa có cơ sở sản xuất phân bón quy mô công  
nghiệp như ở Tây Nguyên. Một số tỉnh dự án như Bình Định, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc  
Trăng đã tự phát hình thành hệ thống thu gom phân bò khô đóng bao vận chuyển lên Đắk  
Lắk bán cho các cơ sở sản xuất phân bón hữu cơ sinh học.  
4.1.3 Làm thức ăn bổ sung cho nuôi trồng thủy sản, nuôi giun  
Hạn chế lớn nhất hiện nay của việc sử dụng chất thải chăn nuôi làm thức ăn cho cá là  
việc sử dụng không đúng cách dẫn đến nước ao hồ tại nhiều vùng nuôi trồng thủy sản tập  
trung như Bắc Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Tiền Giang đang bị ô nhiễm nặng. Đây là một  
trong những nguyên nhân làm cho dịch bệnh ở cá, tôm liên tiếp xảy ra, nhất là vào mùa  
nắng nóng gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi và tăng nguy cơ mất an toàn vệ sinh  
thực phẩm.  
4.1.4 Máy ép phân  
Hạn chế lớn nhất của công nghệ này là giá thành đầu tư lớn và công nghệ mới được áp  
dụng ở mô hình thí điểm nên tính nhân rộng chưa cao. Hiện tại, công nghệ này vẫn chưa  
được phổ biến ở các tỉnh tham gia dự án.  
13  
4.2 Công nghệ xử lý phế phụ phẩm trồng trọt  
4.2.1 Củi trấu và bếp đun cải tiến  
Trên thị trường có rất nhiều loại bếp đun cải tiến, giá thành và hiệu quả sử dụng của mỗi  
loại bếp cũng rất khác nhau do vậy người dân không biết nên lựa chọn loại nào. Bếp khí hóa  
có giá thành đắt so với bếp đun cải tiến thông thường nhưng tuổi thọ lại không cao. Bên  
cạnh đó, các nhà sản xuất không có chiến lược phát triển kinh doanh nên khó tìm được thị  
trường đầu ra.  
Một trong những khó khăn trong việc phát triển bếp đun cải tiến là công nghệ chế biến  
phế phụ phẩm trồng trọt thành nhiên liệu (viên nén, than, củi trấu, …) cung cấp cho các bếp  
cải tiến chưa phát triển đồng bộ, hệ thống phân phối nhiên liệu chưa hình thành, việc sử  
dụng chưa tiện lợi và giá thành chưa thực sự cạnh tranh với các loại nhiên liệu khác như ga  
LPG, than tổ ong,…  
Nếu sử dụng nhiên liệu là dầu DO, FO, than đá hay điện thì hoàn toàn có thể áp dụng hệ  
thống cung cấp nhiên liệu tự động cho lò hơi; còn với củi trấu thì bắt buộc phải có lao động  
đảm nhiệm công việc này, do vậy doanh nghiệp sẽ phải trả thêm chi phí cho người vận hành  
lò hơi. Hiện nay, việc sử dụng phế phụ phẩm trồng trọt ép viên để đốt lò hơi đã được một số  
doanh nghiệp triển khai tại Việt Nam, tuy nhiên, tại các tỉnh tham gia dự án chưa phổ biến  
công nghệ này.  
4.2.2 Phân bón hữu cơ sinh học  
Hiệu quả xử lý phụ phẩm trồng trọt làm phân bón là rất rõ ràng. Tuy nhiên trở ngại  
lớn nhất của việc ứng dụng công nghệ này là khó khăn trong việc thu gom, người nông dân  
khó tiếp cận với chế phẩm vi sinh vật chất lượng do hệ thống phân phối, cung ứng chủ yếu  
tập trung ở các thành phố lớn, nguồn lao động hạn chế. Do vậy, việc sử dụng phế phụ phẩm  
trồng trọt làm phân bón hữu cơ vẫn chỉ được áp dụng ở quy mô nhỏ (hộ gia đình) tại 10 tỉnh  
dự án. Tiềm năng sản xuất than sinh học, than hoạt tính từ phế phụ phẩm trồng trọt để làm  
phân bón hữu cơ sinh học hay trong sinh hoạt tính vẫn chưa được thử nghiệm đầy đủ trong  
điều kiện của Việt Nam.  
4.2.3 Làm thức ăn chăn nuôi  
Từ trước đến nay, người dân đã có thói quen sử dụng phụ phẩm trồng trọt làm thức  
ăn cho gia súc. Tuy nhiên, cách thức sử dụng vẫn rất thô sơ, quy mô hộ gia đình mà chưa  
phát triển công nghệ chế biến quy mô công nghiệp do có những hạn chế sau: i) Mùa vụ thu  
hoạch ngắn, giá trị dinh dưỡng của phụ phẩm nông nghiệp thấp; ii) Chăn nuôi gia súc nhai  
lại (trâu, bò, dê, cừu …) thường có quy mô nhỏ, phân tán và chăn nuôi dựa vào tự nhiên; iii)  
Phụ phẩm nông nghiệp có khối lượng lớn, cồng kềnh trong việc vận chuyển và iv) Chưa  
thương mại hóa được công nghệ.  
14  
4.2.4 Đệm lót sinh học  
Công nghệ đệm lót sinh học hiện nay chưa được áp dụng rộng rãi do một số nguyên  
nhân sau: i) Nguyên liệu để làm nền đệm lót sử dụng 50-70% là mùn gỗ (mùn cưa, phôi  
bào…) với khối lượng lớn, nguồn cung cấp không ổn định vì vậy khó triển khai áp dụng ra  
diện rộng đặc biệt đối với các tỉnh không có công nghiệp chế biến gỗ phát triển như Bến  
Tre, Sóc Trăng.vv.; ii) Chi phí ban đầu cao để cải tạo lại chuồng trại (chuồng trại phải cao,  
tránh ngập nước và thoáng mát), nguyên liệu làm lớp đệm lót lớn và thường xuyên phải bổ  
sung trong quá trình chăn nuôi do vậy không thuận tiện cho việc áp dụng; iii) Lớp đệm lót  
luôn lên men để phân giải phân, nước tiểu và chất độn chuồng nên sinh nhiệt, do vậy nhiệt  
độ luôn ở mức từ 30-40oC, thậm chí có thể lên đến 45oC nên là trở ngại lớn đối với những  
nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam; iv) Phải tuân thủ kỹ thuật làm  
và vận hành đệm lót mới phát huy khả năng phân hủy chất thải của vi sinh vật, tiêu diệt  
mầm bệnh. Các tỉnh có địa hình thấp như Nam Định, hoặc ở Đồng bằng sông Cửu Long thì  
đệm lót rất dễ bị hỏng, hệ vi sinh vật bị chết không hoạt động và v) Tốn diện tích chăn nuôi,  
khó áp dụng cho chăn nuôi công nghiệp vì không thể nuôi với mật độ cao.  
4.2.5 Vật liệu xây dựng  
Đa số các công nghệ vẫn ở giai đoạn thử nghiệm, chưa đưa ra áp dụng rộng rãi.  
4.3 Công nghệ xử lý chất thải nuôi trồng thủy sản  
4.3.1 Xử lý bùn thải ao nuôi  
Việc xử lý bùn thải ao nuôi là vấn đề nhức nhối của các tỉnh có diện tích nuôi trồng  
thủy sản lớn. Bùn thải ao nuôi tôm có khối lượng rất lớn và giàu dinh dưỡng nhưng vẫn  
đang bị vứt bỏ do chưa có công nghệ loại bỏ muối khi chế biến phân hữu cơ.  
4.3.2 Xử lý nước thải ao nuôi  
Hầu hết các cơ sở nuôi không có ao lắng nên đều phải lấy nước trực tiếp từ các đầm  
phá và ngược lại cũng thải nước trực tiếp ra đầm phá. Hậu quả là nguồn nước ở đầm phá  
không đảm chất lượng làm lây lan dịch bệnh. Vì vậy, khó khăn lớn nhất hiện nay của các  
cơ sở nuôi trồng thủy sản là khâu xây dựng hệ thống xử lý nước thải vì thiếu đất và chi phí  
đầu tư thiết bị cao.  
4.4 Công nghệ lúa các bon thấp  
Mặc dù chứng minh được ưu thế hơn hẳn so với phương pháp sản xuất cũ, nhưng đến  
nay việc áp dụng công nghệ lúa các bon thấp vào canh tác vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn,  
trong đó nguyên nhân chủ yếu là do thói quen canh tác của nông dân. Bên cạnh đó hệ thống  
thủy lợi nội đồng chưa hoàn chỉnh, nhiều khu vực hệ thống kênh mương tưới - tiêu chưa tốt,  
chưa chủ động điều tiết nước, mặt bằng đồng ruộng chưa đáp ứng ảnh hưởng đến việc áp  
15  
dụng quy trình quản lý nước theo ngập khô xen kẽ. Hệ thống điện ba pha còn hạn chế, tác  
động nhiều đến khâu bơm tưới, đầu tư cơ giới hóa vào sản xuất.  
4.5 Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả  
Việc chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả hiện nay đang gặp một số khó khăn, chủ yếu do  
thị trường tiêu thụ nông sản bấp bênh lại chưa có sự liên kết nông dân và doanh nghiệp.  
Thêm nữa, cần thời gian để nông dân thích ứng với kỹ thuật canh tác các cây trồng mới.  
5 Đề xuất mô hình thí điểm và trình diễn theo chuỗi sử dụng phế phụ phẩm  
nông nghiệp, lúa các bon thấp và chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả tại 10 tỉnh  
dự án  
Để khắc phục các hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp các  
bon thấp đã nêu trên, một số định hướng cho các mô hình thí điểm, trình diễn và đào tạo trong  
khuôn khổ dự án LCASP được đề xuất như sau:  
5.1. Công nghệ KSH: khắc phục những hạn chế trong xử lý môi trường và thúc đẩy hình  
thành thị trường tiêu thụ khí ga để phát điện hoặc hệ thống dẫn khí ga từ trang trại đến các hộ  
dân, cải thiện chất lượng thiết bị sử dụng khí ga, …  
5.2. Sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ phế phụ phẩm nông nghiệp, chăn nuôi, bùn ao nuôi  
trồng thủy sản: Hình thành hệ thống cung ứng chế phẩm vi sinh vật phân giải hữu cơ hoạt lực  
cao và công nghệ xử lý phù hợp  
5.3. Công nghệ sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn nuôi trồng thủy sản và nuôi  
giun (trùn quế)  
5.4. Sử dụng máy ép phân nhằm xử lý môi trường chăn nuôi và thu gom chất thải chăn nuôi  
để sản xuất phân bón hữu cơ sinh học  
5.5. Công nghệ bếp cải tiến sử dụng nhiên liệu từ phế phụ phẩm trồng trọt và công nghệ sản  
xuất củi trấu cho đun nấu hộ gia đình và cung cấp nhiên liệu cho lò hơi, máy phát điện  
5.6. Công nghệ chế biến phế phụ phẩm trồng trọt thành thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm  
5.7. Công nghệ sử dụng phế phụ phẩm trồng trọt làm đệm lót sinh học  
5.8. Công nghệ xử lý nước thải ao nuôi trồng thủy sản  
5.9. Công nghệ sản xuất lúa các bon thấp (SRI, 1P5G, …)  
5.10. Chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây khác hoặc nuôi trồng thủy sản nhằm hỗ  
trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp.  
Các mô hình thí điểm của dự án cần được xây dựng theo dạng chuỗi giá trị từ nguyên  
liệu đầu vào cho sản xuất đến thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra và cần phải có sự tham gia  
của doanh nghiệp theo nguyên tắc nhà nước hỗ trợ cơ chế, chính sách và tín dụng để mối liên  
kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị hoạt động hiệu quả.  
16  
Các hoạt động và kinh phí cụ thể đề xuất trong khuôn khổ dự án như sau:  
Hoạt động 1: Thực hiện mô hình thí điểm công nghệ CSAWMP tại các địa bàn cụ thể và đầu  
tư nâng cấp một số nghiên cứu sử dụng chất thải chăn nuôi làm phân bón hữu cơ (tổng kinh  
phí đề xuất 8.183.000 USD)  
Dự án sẽ triển khai tối thiểu 21 mô hình trình diễn theo dạng chuỗi, tiếp cận từ thị  
trường và có sự liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm. Mô hình phải được triển khai  
trên một địa bàn cụ thể (theo từng xã) nhằm giải quyết những hạn chế của địa bàn đó giúp cho  
công nghệ CSAWMP đề xuất có thể áp dụng bền vững sau khi dự án kết thúc. Kết quả của  
mô hình thí điểm phải là các sản phẩm cụ thể có khả năng thương mại hóa và mô hình liên kết  
bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp trên địa bàn. Mô hình thí điểm sau khi thành công  
sẽ trở thành điểm trình diễn cho các xã có điều kiện tương tự để nhân rộng.  
Do việc nghiên cứu sử dụng chất thải chăn nuôi và phế phụ phẩm trồng trọt làm phân  
bón hữu cơ ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, dự án sẽ đầu tư nâng cấp một số cơ sở nghiên cứu  
nhằm hoàn thiện các công nghệ CSAWMP hiện có trên thế giới cho phù hợp với điều kiện  
kinh tế, xã hội và kỹ thuật của từng địa bàn cụ thể tại Việt Nam.  
Hoạt động 2: Thiết lập hệ thống chia sẻ thông tin về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao  
công nghệ CSAWMP giữa các đơn vị nghiên cứu, quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nông dân  
từ Trung ương đến cơ sở (tổng kinh phí 855.000 USD)  
Hiện tại, đã có nhiều nghiên cứu, mô hình thí điểm, kết quả điều tra về công nghệ  
CSAWMP trên nhiều địa bàn cụ thể tại Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có đơn vị nào lưu giữ,  
chia sẻ các thông tin về ứng dụng công nghệ CSAWMP nên nhiều nghiên cứu, mô hình thí  
điểm, các hoạt động đầu tư, ... phải thực hiện lại điều tra hiện trường, lặp lại các nghiên cứu,  
mô hình đã triển khai rất tốn kém. Dự án sẽ hỗ trợ Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam  
(VAAS) xây dựng thư viện điện tử nối mạng (E-library) nhằm lưu trữ một cách có hệ thống  
tất cả các thông tin nghiên cứu, điều tra, chuyển giao công nghệ CSAWMP đã thực hiện trên  
địa bàn từng xã. Thông tin về khoa học và công nghệ CSAWMP thu thập từ nước ngoài của  
các đơn vị thành viên, các địa phương cũng sẽ được cập nhật vào hệ thống này để giúp nhà  
quản lý từ trung ương đến địa phương, nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông, doanh nghiệp và  
nông dân có đầy đủ thông tin trước khi quyết định triển khai hoạt động nghiên cứu và đầu tư.  
Hoạt động 3: Đào tạo cán bộ nghiên cứu và khuyến nông về ứng dụng hiệu quả các công  
nghệ CSAWMP (tổng kinh phí 300.000 USD)  
Dự án sẽ bố trí kinh phí nhằm tăng cường năng lực, cung cấp thêm kiến thức về công  
nghệ CSAWMP cho cán bộ nghiên cứu, quản lý và khuyến nông thông qua hội thảo, tập  
huấn, thăm quan học tập tại các nước phát triển cũng như các mô hình thành công trong nước.  
Hoạt động 4: Phát triển chương trình đào tạo, giáo trình, đề cương bài giảng về kỹ thuật  
CSAWMP phù hợp để phục vụ đào tạo nghề nông dân (tổng kinh phí 795.000 USD).  
Việc xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo nghề cho nông dân về công nghệ  
CSAWMP phù hợp với các địa bàn cụ thể là hết sức cần thiết nhằm giúp nông dân sử dụng  
17  
phế phụ phẩm nông nghiệp hiệu quả, vừa tạo thêm thu nhập vừa giảm ô nhiễm môi trường.  
Dự án sẽ hỗ trợ kinh phí cho các đơn vị có chuyên môn phù hợp để xây dựng chương trình,  
biên soạn giáo trình đào tạo nghề về công nghệ CSAWMP và đào tạo thí điểm trên một địa  
bàn cụ thể trước khi nhân rộng.  
Hoạt động 5: Nâng cấp bộ bản đồ về tiềm năng và hiện trạng sử dụng phế phụ phẩm nông  
nghiệp và phát triển lúa các bon thấp, chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả để hỗ trợ công tác quy  
hoạch, lập kế hoạch phát triển công nghệ CSAWMP (Tổng kinh phí 180.000 USD)  
Quy hoạch phát triển công nghệ CSAWMP là hết sức cần thiết vì công tác quy hoạch  
và lập kế hoạch đang được thực hiện trên cơ sở thiếu thông tin điều tra cụ thể về tiềm năng,  
hiện trạng. Dự án sẽ hỗ trợ Cục Kinh tế hợp tác và các đơn vị liên quan xây dựng cơ sở dữ  
liệu dưới dạng bản đồ số hóa nhằm có được thông tin đầy đủ về hiện trạng, tiềm năng sử dụng  
phế phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ, lúa các bon thấp và chuyển đổi đất lúa kém  
hiệu quả nhằm tăng giá trị kinh tế và giảm phát thải KNK. Cơ sở dữ liệu này sẽ được cập nhật  
hàng năm và được khai thác bởi các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương, nhà nghiên  
cứu, doanh nghiệp và nông dân nhằm có kế hoạch phát triển sản xuất, đầu tư và lập quy hoạch  
cho từng địa bàn cụ thể.  
Hoạt động 6: Thực hiện mô hình trình diễn về ứng dụng công nghệ CSAWMP nhằm nhân  
rộng công nghệ thành công trên các địa bàn tương tự (tổng kinh phí 3.600.000 USD)  
Công nghệ CSAWMP thí điểm thành công trên địa bàn xã sẽ được tiếp tục chuyển  
giao nhân rộng tại các xã có điều kiện tương tự trong tỉnh. Do một công nghệ thí điểm cần ít  
nhất vài năm để chứng minh kết quả rõ ràng trước khi làm mô hình trình diễn để nhân rộng,  
dự án LCASP chỉ đầu tư cho các mô hình trình diễn CSAWMP đã được thử nghiệm thành  
công trên địa bàn tỉnh từ những dự án trước kia. Kết quả thử nghiệm thành công của dự án  
LCASP sẽ sử dụng cho những mô hình trình diễn sau khi kết thúc dự án LCASP và có đủ thời  
gian để đánh giá rõ ràng tác động.  
Hoạt động 7: Đào tạo cán bộ khuyến nông và đào tạo nghề cho nông dân về công nghệ  
CSAWMP (tổng kinh phí 600.000 USD).  
Dựa trên kết quả của hoạt động 4, dự án sẽ thực hiện các khóa đào tạo nghề cho nông  
dân và cán bộ khuyến nông trên cơ sở các chương trình đào tạo, giáo trình CSAWMP đã  
được xây dựng. Mục tiêu của hoạt động này nhằm hình thành những hộ nông dân, cơ sở sản  
xuất có tính chuyên hóa cao trong ứng dụng công nghệ CSAWMP, đây là tiền đề cho hình  
thành các doanh nghiệp sản xuất thương mại trong lĩnh vực CSAWMP.  
18  
6 Phân tích lợi ích kinh tế khi áp dụng các công nghệ nông nghiệp các bon  
thấp và đánh giá tác động  
6.1 Lợi ích kinh tế và môi trường khi sử dụng chất thải chăn nuôi:  
Theo nghiên cứu, lượng khí mêtan sinh ra từ 1 tấn phân chuồng khoảng 15-60 m3 tùy  
theo loài động vật. KSH có mức năng lượng khoảng 4.500-6.000 calo/ m3, tương đương 1 lít  
cồn, 0,8 lít xăng, 0,6 lít dầu thô, 1,4 kg than hay 1,2 kWh điện năng. Như vậy, nếu sử dụng  
80 triệu tấn chất thải chăn nuôi hàng năm cho năng lượng sinh học có thể sản xuất được ít  
nhất 1,2 tỷ m3 KSH, tương đương 1,2 tỷ lít cồn, 0,96 tỷ lít xăng, 0,72 tỷ lít dầu thô, 1,68  
triệu tấn than, 1,44 tỷ kWh điện năng.  
Theo Báo cáo người sử dụng KSH năm 2011 của Dự án Khí sinh học cho ngành chăn  
nuôi Việt Nam, cỡ trung bình của công trình KSH quy mô nông hộ là 11m3 với tổng chi phí  
đầu tư là 11,2 triệu đồng. Sử dụng công trình KSH sẽ giúp người dân: (i) Tiết kiệm được  
287 nghìn đồng tiền nhiên liệu (chi phí chất đốt, tiền điện), bình quân 1 năm hộ gia đình sẽ  
tiết kiệm được 3,44 triệu đồng; (ii) Tiết kiệm được khoảng 84 nghìn đồng/tháng, tương  
đương 1,01 triệu đồng/năm tiền mua phân bón cho trồng trọt, mua thức ăn chăn nuôi khi hộ  
gia đình sử dụng bã thải KSH cho trồng trọt và chăn nuôi. Như vậy, sau khoảng 2,5 năm sử  
dụng công trình KSH cỡ 11m3, hộ gia đình có thể tiết kiệm được khoản tiền tương đương  
với số tiền đầu tư cho công trình.  
Việt Nam bỏ ra 4 tỷ USD hàng năm cho phân bón hóa học (trong đó, 2 tỷ USD sản  
xuất trong nước và 2 tỷ USD nhập khẩu). Phân bón hóa học chỉ có hiệu suất sử dụng từ 45-  
50%, do vậy, 2 tỷ USD phân bón hóa học sẽ bị bay hơi và rửa trôi gây ô nhiễm nguồn nước  
mặt và nước ngầm. Mặt khác, Việt Nam có tiềm năng sản xuất phân bón hữu cơ sinh học rất  
lớn từ chất thải chăn nuôi (80 triệu tấn chất thải chăn nuôi) nên nếu có thể thay thế 10%  
phân bón hóa học bằng phân bón hữu cơ sinh học thì sẽ tiết kiệm được 400 triệu USD nhập  
khẩu phân bón hóa học hàng năm.  
Bên cạnh giá trị kinh tế, việc sử dụng chất thải chăn nuôi còn tiết kiệm nhiều khoản  
kinh phí lớn của Chính phủ cho xử lý ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, nguồn thu từ bán tín  
chỉ các bon (CER) cũng bổ sung đáng kể cho ngân sách nếu khai thác tốt.  
6.2 Lợi ích kinh tế và môi trường khi sử dụng phế phụ phẩm trồng trọt  
Chỉ tính riêng phế phụ phẩm từ lúa là 54 triệu tấn rơm, rạ và vỏ trấu hàng năm sẽ cho  
giá trị năng lượng hàng tỷ USD (90 kg vỏ trấu cho nhiệt lượng tương đương 12 kg ga đun  
nấu với giá 450 nghìn đồng. Do vậy, 1 kg vỏ trấu sẽ cho năng lượng đun nấu tương đương 5  
nghìn đồng (0,25 USD), suy ra năng lượng tạo ra từ rơm rạ, vỏ trấu cả nước tương đương  
14,4 tỷ USD. Ngoài ra, nếu tận dụng một phần trấu làm than sinh học cũng sẽ mang lại lợi  
ích kinh tế rất lớn (3 kg vỏ trấu sẽ sản xuất được 1 kg than sinh học có giá 2.000 đồng  
(0,096 USD) và 54 triệu tấn rơm rạ, vỏ trấu sẽ sản xuất được 18 triệu tấn than sinh học có  
giá trị tương đương khoảng 1,8 tỷ USD.  
19  
Số lượng phế phụ phẩm trồng trọt 10 tỉnh tham gia dự án là 39,7 triệu tấn. Theo báo  
cáo thực hiện mô hình trình diễn quản lý phụ phẩm KSH của TA 7833 thì khi sử dụng 8 tấn  
phế phụ phẩm trồng trọt và 3 tấn chất thải chăn nuôi kết hợp với 3 tấn phụ phẩm KSH thì sẽ  
sản xuất được 5 tấn phân ủ compost. Nếu sử dụng lượng phế phụ phẩm này để sản xuất  
phân bón hữu cơ thì tiềm năng sản xuất được 26,39 triệu tấn phân ủ compost. Với giá phân  
ủ compost hiện nay là 2,5 triệu đồng/tấn sẽ thu được 65.975 tỷ đồng (tương đương 3,3 tỷ  
USD).  
Chế biến, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi có lợi ích và ý nghĩa  
lớn trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong chăn nuôi nói riêng. Nếu chỉ sử dụng  
khoảng 10% phế phụ phẩm trồng trọt làm thức ăn chăn nuôi thì mỗi năm có thêm 3-3,5 triệu  
tấn thức ăn thô cho gia súc.  
6.3 Lợi ích kinh tế và môi trường khi sử dụng chất thải nuôi trồng thủy sản  
Hiện nay, chưa có tính toán cụ thể về giá trị kinh tế nếu xử lý khoảng 68 triệu tấn bùn  
thải ao nuôi trồng thủy sản hàng năm. Tuy nhiên, nếu tận dụng được nguồn chất hữu cơ to  
lớn này cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học thì sẽ đem lại những khoản thu nhập hàng tỷ  
USD. Ngoài ra, giá trị về bảo vệ môi trường sẽ rất lớn nếu tận dụng được bùn thải nuôi tôm  
đang bị vứt bỏ với khối lượng rất lớn.  
Việc sử dụng chế phẩm vi sinh vật trong xử lý sinh học ao nuôi bằng công nghệ  
BIOFLOC hoặc các công nghệ tương tự sẽ giúp kiểm soát mầm bệnh, ổn định chất lượng  
nước, làm giảm khí độc trong ao, từ đó làm giảm hàm lượng kháng sinh sử dụng sẽ giúp  
hình thành công nghệ nuôi tôm sạch và phát triển bền vững, nâng cao lợi nhuận cho người  
sản xuất.  
6.4 Lợi ích kinh tế và môi trường của ứng dụng công nghệ lúa các bon thấp  
Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng lúa các bon thấp được đánh giá, tổng kết qua các  
mô hình thí điểm và trên diện rộng cho kết quả cao hơn so với canh tác truyền thống. Cụ  
thể, lúa các bon thấp sẽ giúp giảm 20-25% phân đạm, 30% chi phí về thủy lợi, giảm thuốc  
bảo vệ thực vật... , trong khi năng suất lại cao hơn so với làm theo tập quán cũ 9-15%.16 Nhờ  
vậy, giá thành thóc giảm trung bình 342 đồng đến 520 đồng/kg; tiền lãi thu được của ruộng  
áp dụng lúa các bon thấp tăng trung bình khoảng 2 triệu đồng/ha.  
6.5 Lợi ích kinh tế và môi trường của chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả  
Theo Báo cáo điều tra tại 10 tỉnh Dự án của Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường về  
lúa các bon thấp và chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả, nếu được đầu tư các mô hình chuyển  
đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây trồng khác hoặc nuôi trồng thủy sản, thì với tổng  
diện tích 35.035 ha đất lúa kém hiệu quả của 10 tỉnh sẽ cho hiệu quả kinh tế mang lại  
khoảng 700 tỷ đồng/năm (tương đương 35 triệu USD); giảm được 27.201 tấn, CH4, tương  
đương 571.237 tấn CO2.17  
16 Tham khảo Phụ lục 12  
17 Tham khảo Phụ lục 13  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 37 trang yennguyen 9860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dự án Chiến lược nghiên cứu định hướng các hoạt động nghiên cứu về quản lý chất thải nông nghiệp thông minh, bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_an_chien_luoc_nghien_cuu_dinh_huong_cac_hoat_dong_nghien.pdf