Nghiên cứu mức độ ô nhiễm bụi trong không khí do khí thải của phương tiện giao thông tại khu vực ven đường đô thị

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ Ô NHIỄM BỤI TRONG KHÔNG KHÍ  
DO KHÍ THẢI CỦA PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG TẠI  
KHU VỰC VEN ĐƯỜNG ĐÔ THỊ  
Nguyễn Phương Ngọc 1  
TÓM TẮT  
Bài viết giới thiệu phương pháp đánh giá kết quả quan trắc mức độ ô nhiễm bụi do khí thải của phương  
tiện giao thông gây ra trong khu vực đô thị. Dựa trên các kết quả thu được cho phép phân tích mối tương quan  
giữa nồng độ ô nhiễm bụi và số lượng phương tiện giao thông. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất thực hiện việc  
giám sát môi trường liên tục để tính toán mức độ rủi ro đối với sức khỏe của con người do tác động của khí  
thải phương tiện giao thông gây ra và lập kế hoạch nghiên cứu giám sát trên toàn bộ lãnh thổ lớn.  
Từ khóa: Ô nhiễm bụi, hạt lơ lửng, PM2.5, PM10, khí thải từ phương tiên vận tải, không gian ven đường  
giao thông.  
Nhận bài: Ngày 1/10/2020; Sửa chưa: Ngày: 15/11/2020;  Dyêt đđng: 15/12/2020  
1. Đặt vấn đề  
đó, hàm lượng tiêu chuẩn các hạt bụi mịn TSP, PM2.5,  
PM10 được tiêu chuẩn hóa từ năm 2013. Việc theo dõi ô  
nhiễm bụi trong môi trường không khí hiện nay được  
coi là một vấn đề cấp thiết, tuy nhiên trong vài năm gần  
đây, việc nghiên cứu sâu về ô nhiễm bụi mịn mới mang  
tính chất nghiên cứu khoa học nhiều.  
eo Báo cáo “Chất lượng không khí tháng  
12/2019” của Tổng cục Môi trường, chất lượng không  
khí ở một số đô thị khu vực miền Bắc và miền Nam  
tiếp tục có những diễn biến xấu. Số liệu quan trắc cho  
thấy, ô nhiễm không khí chủ yếu gây ra bởi các hạt bụi,  
các thông số còn lại (NO2, O , CO, SO ) về cơ bản vẫn  
có giá trị đạt tiêu chuẩn cho 3phép quy2định tại QCVN  
05:2013/BTNMT. Tại các đô thị lớn, giá trị trung bình  
24 giờ của PM2.5 trong không khí cũng tăng cao vượt  
QCVN tại một số khoảng thời gian ô nhiễm ngắn  
(thường đạt vào giờ cao điểm) [1,2].  
Tại các đô thị lớn, sự xâm nhập của các hạt bụi  
vào khí quyển chủ yếu xuất phát từ 2 nguồn tác nhân  
chính: Khí thải từ phương tiện giao thông và khí thải  
từ các hoạt động sản xuất công nghiệp [5]. Như tại Bắc  
Kinh, theo ước tính của Trung tâm Bảo vệ và Giám sát  
Môi trường Bắc Kinh, các hạt PM2.5 được hình thành  
chủ yếu từ kết quả của quá trình đốt than và thải khí  
thải của phương tiện giao thông [6].  
Việc giám sát nồng độ chất ô nhiễm và thực hiện  
giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm  
không khí từ các hạt bụi mịn PM2.5, PM10 và TSP tại các  
thành phố lớn hiện nay được coi là một nhiệm vụ cấp  
bách trong công tác giám sát chất lượng cuộc sống, an  
sinh xã hội và sức khỏe cộng đồng.  
TSP - các hạt bụi có đường kính khí động học nhỏ  
hơn hoặc bằng 100 mm. PM2.5 - chất lơ lửng (vật chất  
dạng hạt) tồn tại trong không khí, các hạt bụi này có  
đường kính nhỏ hơn 2,5 μm. PM - các hạt bụi có  
đường kình từ 2,5 - 10 μm. Các hạt1b0 ụi này gây ra mối  
đe dọa lớn đối với sức khỏe con người. Chúng có khả  
năng xâm nhập sâu vào phổi gây ra các loại bệnh về  
đường hô hấp, hoặc có thể làm gia tăng thêm các bệnh  
lý nền hiện có [3, 7]. Ngoài ra, theo một nghiên cứu của  
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Cơ quan nghiên cứu  
ung thư quốc tế (IARC) cho thấy mối tương quan giữa  
mức độ ô nhiễm bụi trong không khí với tỷ lệ mắc ung  
thư. Các hạt bụi PM2.5 và PM10 tích tụ lâu ngày trong  
cơ thể sẽ làm tăng nguy cơ phát bệnh ở hệ hô hấp, tim  
mạch, tuần hoàn và cả hệ sinh sản của con người.  
Các tiêu chuẩn quy định về hàm lượng các hạt mịn  
trong không khí đã được công bố trong các tài liệu chính  
thức của WHO và Liên minh châu Âu [4,5,10]. Tại Việt  
Nam, việc đánh giá giá trị giới hạn các chất ô nhiễm  
trong môi trường không khí đã được công bố dựa theo tải hoạt động sẽ xảy ra hiện tượng đốt cháy nhiên liệu,  
Quy chuẩn Việt Nam QCVN 05:2013/BTNMT. Do từ đó hình thành và thải ra một lượng lớn các hạt bụi  
Trong quá trình động cơ diesel của phương tiện vận  
1 Khoa Xây dựng, Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng  
52 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
mịn [8]. Ngoài khí thải trực tiếp từ hoạt động của động  
cơ, các hạt mịn cũng được hình thành do quá trình  
mài mòn trên đường và lốp xe của phương tiện vận  
tải. Các hạt muội phân tán mịn, do kích thước nhỏ nên  
dễ dàng phân tán trong không khí, hấp thụ các chất  
và khiến khả năng loại bỏ khỏi khí quyển chậm lại, từ  
đó có thể làm tăng độc tính của chúng bằng cách hấp  
thụ các chất độc hại từ khí thải và mang chúng phát  
tán đi hàng nghìn km, gây ra mối đe dọa cho sức khỏe  
con người và môi trường xung quanh [8]. Tại các thành  
phố lớn, tỷ lệ phát thải từ các phương tiện giao thông  
gây ô nhiễm không khí có thể lên tới 60 - 90% [11]. Khí  
thải ô tô chứa hàng chục chất độc hại khác nhau, trong  
đó cùng với benzo(a)pyrene và bồ hóng, các hạt mịn  
PM2.5, PM10 là các chất chính [5,11,12,13].  
Hiện nay, tại Việt Nam, việc quan trắc đánh giá mức  
độ ô nhiễm bụi được thực hiện thường xuyên và liên  
tục, thông tin được công khai và cập nhật cho người  
dân. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mức độ tương quan  
giữa nồng độ ô nhiễm với số lượng phương tiện vận  
tải khá ít. Ngoài ra, việc đánh giá cụ thể sự tác động  
của phương tiện vận tải đến chất lượng không khí như  
thế nào, ra sao thì vẫn còn thiếu. Do đó, tác giả đã thực  
hiện việc nghiên cứu này để phân tích mối liên hệ của  
khí thải phương tiện vận tải đến chất lượng môi trường.  
Nghiên cứu này có thể được áp dụng trên diện rộng để  
đánh giá và dự đoán mức độ ô nhiễm bụi có thể đạt đến  
trong điều kiện số lượng phương tiện vận tải đang tăng  
đột biến hiện nay.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
- u nhập số liệu từ các điểm quan sát, đo đạc nồng  
độ ô nhiễm bụi PM và PM10 trong thời gian 1 giờ tại  
khu vực ven đường2.đ5 ô thị với mật độ giao thông cao,  
điểm dừng, đỗ nhiều.  
- Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích hồi  
quy bằng phần mềm SPSS xây dựng đường thẳng hồi  
quy và phương trình tuyến tính. Số liệu thu được cho  
phép đánh giá mức độ tương quan giữa nồng độ chất ô  
nhiễm với số lượng phương tiện vận tải.  
3. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu trong bài báo này là tuyến  
đường nội đô 2/9, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng, 2 làn  
đường, chiều rộng 21 m, vỉa hè 5,0 m, lưu lượng giao  
thông đông đúc – lên đến 1.200 xe mỗi giờ tại khung  
giờ cao điểm.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Để xác định được hàm lượng các hạt mịn trong không  
khí, chúng tôi sử dụng Máy dò chất lượng không khí  
Formaidehyde kỹ thuất số “Air Quality Detector – 8 in 1”.  
Khoảng thời gian để lấy giá trị nồng độ trung bình một  
lần là 1 giờ (giờ cao điểm). Chiều cao của thiết bị là 1,5 m.  
Việc đo đạc mức độ ô nhiễm không khí do khí thải  
xe cộ gây ra được thực hiện trong các điều kiện khí  
tượng và cường độ giao thông khác nhau. Yêu cầu quy  
định các điểm được lựa chọn ở khu vực có lưu lượng  
giao thông đông đúc, nơi thường xuyên phanh gấp của  
Bảng 1: Diễn biến nồng độ ô nhiễm bụi trung bình trong 1 giờ của các hạt mịn PM2.5 và PM10 tại điểm dừng xe buýt  
STT Địa điểm đo  
Lưu lượng xe trong 1 giờ (chiếc/1h)  
Nồng độ trung bình Nồng độ trung bình  
PM2.5 trong 1 giờ  
PM10 trong 1 giờ  
Động cơ diesel  
Động cơ xăng  
(mg/m3)  
(mg/m3)  
1
2
3
4
5
6
№ 1, n=4  
№ 2, n=11  
№ 3, n=2  
№ 4, n=2  
№ 5, n=2  
№ 6, n=2  
95  
195  
80  
160  
120  
40  
836  
822  
520  
1200  
720  
480  
0,027 0,005  
0,053 0,011  
0,017 0,003  
0,029 0,005  
0,015 0,003  
0,016 0,003  
0,066 0,013  
0,074 0,015  
0,040 0,008  
0,039 0,008  
0,032 0,006  
0,054 0,011  
Bảng 2: Diễn biến nồng độ ô nhiễm bụi trung bình trong 1 giờ của các hạt mịn PM2.5 và PM10 tại điểm giao lộ (ngã tư có  
đèn giao thông)  
STT Địa điểm đo Lưu lượng xe trong 1 giờ  
(chiếc/1h)  
Nồng độ trung bình PM2.5  
Nồng độ trung bình PM10  
trong 1 giờ (mg/m3)  
trong 1 giờ (mg/m3)  
Động cơ diesel Động cơ xăng  
1
2
3
4
5
№ 1, n=30  
№ 2, n=4  
№ 3, n=4  
№ 4, n=2  
№ 5, n=2  
120  
450  
277  
160  
100  
1039  
3185  
1250  
1000  
1080  
0,055 0,010  
0,033 0,006  
0,026 0,005  
0,052 0,010  
0,012 0,002  
0,064 0,013  
0,042 0,008  
0,029 0,006  
0,094 0,019  
0,021 0,004  
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 53  
▲Hình 1: BiểD đồ biểD diễn đường hồi qDy tDyến tính thể hiên mối tương qDan giưa nồng độ PM2.5 và PM10 với số lượng phương  
tiên giao thông động cơ diesel (tại điểm dừng xe bDýt)  
▲Hình 2: BiểD đồ biểD diễn đường hồi qDy tDyến tính thể hiên mối tương qDan giưa nồng độ PM2.5 và PM10 với số lượng phương  
tiên giao thông động cơ diesel (tại ngã tư có đèn giao thông)  
ô tô - tại các ngã tư của đường và các điểm dừng. Số PM2.5) và y = 0,07 - 0,00007179x , R2 = 0,168, hệ số F =  
8,056 và p = 0,007 < 0,05 (đối với bụi PM10) (Hình 2).  
lượng phương tiện đi qua được thống kê trong thời  
gian 1 giờ. Phương tiện được chia thành hai loại: Xăng  
- ô tô, xe máy; diesel - xe buýt và xe tải.  
Việc xử lý số liệu được thực hiện theo phương  
pháp tương quan và phân tích hồi quy, sử dụng phần  
mềm SPSS để đánh giá mức độ tương quan giữa nồng  
độ ô nhiễm bụi với số lượng phương tiện vận tải có  
động cơ diesel.  
Qua hai phương trình phụ thuộc tuyến tính y =  
0,00011 + 0,000258x được đặc trưng bởi hệ số tương  
quan R2 = 0,734, hệ số F = 57,943 và p = 1,81.10-7 < 0,05  
(đối với bụi PM2.5) và y = 0,045392 + 0,00012x , R2 =  
0,178, hệ số F = 4,54 và p = 0,045 < 0,05 (đối với bụi  
PM10) (Hình 1), có thể khẳng định giả thuyết về tỷ lệ  
đóng góp đáng kể của khí thải từ các phương tiện vận tải  
chạy bằng động cơ diesel gây ra ô nhiễm không khí bởi  
các hạt bụi mịn PM2.5 và PM10.  
Sự gia tăng nồng độ các hạt trong không khí có liên  
quan tuyến tính đến sự gia tăng tỷ lệ các hạt bụi mịn thải  
ra từ phương tiện giao thông vận tải. Nồng độ phát thải  
còn phụ thuộc vào điều kiện giảm tốc và tăng tốc của  
động cơ, nồng độ nền các hạt bụi mịn cũng được hình  
thành do khí thải của các phương tiện giao thông khi di  
chuyển với tốc độ ổn định, ngoài ra còn xuất hiện bụi  
thứ cấp cuốn theo từ bề mặt của đường. Ngoài ra, mức  
độ ô nhiễm bụi sẽ được bổ sung trong điều kiện các điểm  
dừng khác nằm gần ngã tư có đèn giao thông, cộng thêm  
yếu tố phanh xe, dừng hay tăng ga của phương tiện giao  
thông vận tải và cả lượng khí thải của phương tiện giao  
thông chờ di chuyển khi tắc đường tại thời gian cao điểm  
cũng sẽ được tính thêm.  
Từ các phương trình thu được cho phép dự đoán tình  
hình và giả định nồng độ bụi mịn có thể đạt tới tại các  
điểm dừng gần đường có mật độ xe chạy nhiều (đặc biệt  
là các loại xe có động cơ diesel. Có thể thấy, phương trình  
phụ thuộc tuyến tính y = 0,00011 + 0,000258x được đặc  
trưng bởi hệ số tương quan R2 = 0,734, hệ số F = 57,943  
Trong quá trình nghiên cứu tại điểm ngã tư có đèn  
giao thông cũng thu được hai đường thẳng hồi quy  
với phương trình phụ thuộc tuyến tính y = 0,055748 –  
0,00005996x được đặc trưng bởi hệ số tương quan R2 = và p = 1,81.10-7 < 0,05 (đối với bụi PM2.5) ở Hình 1 có độ  
chính xác cao nhất.  
0,227, hệ số F = 11,725 và p = 0,001 < 0,05 (đối với bụi  
54 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
Bảng 3. Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong môi  
trường không khí xung quanh (μm/m3) theo QCVN  
05:2013/BTNMT [1]  
gần các khu vực đường đô thị hay đường cao tốc có mật  
độ phương tiện giao thông cao và thường xuyên xảy ra  
hiện tượng tắc đường. Từ đó, giúp cho công tác quản lý  
giám sát chất lượng môi trường được nâng cao và đạt  
hiệu quả hơn.  
TT Tông  
Trung  
bình 1  
giờ  
350  
30.000  
200  
200  
300  
-
Trung  
Trung  
Trung  
bình  
số  
bình 8 bình 24  
giờ  
-
10.000  
giờ  
125  
-
100  
-
200  
150  
50  
năm  
5. Kết luận  
1
2
3
4
5
6
7
8
SO2  
CO  
NO2  
O3  
TSP  
PM10  
PM2.5  
Chì (Pb)  
50  
-
40  
-
100  
50  
25  
0,5  
- Mối quan hệ tuyến tính giữa số lượng phương tiện  
giao thông chạy bằng động cơ diesel tại các điểm dừng  
và nồng độ các hạt bụi mịn PM2.5 và PM đã được thiết  
lập và tham số hóa bằng phương pháp10hồi quy tuyến  
tính, cho phép dự đoán mức độ ô nhiễm không khí của  
phương tiện vận tải chạy bằng động cơ diesel trong quá  
trình phanh và tăng tốc.  
- Khuyến nghị tiến hành theo dõi nồng độ trung bình  
hàng ngày của các hạt bụi mịn PM và PM gần các  
đường giao thông lớn với mật độ xe2c.5hạy cao1t0ừ 800 xe  
trở lên trong mỗi giờ.  
- Nghiên cứu được thực hiện có thể được sử dụng để  
tính toán rủi ro sức khỏe của người dân do tác động của  
khí thải của phương tiện giao thông, giúp cho việc đánh  
giá mức độ ô nhiễm các hạt bụi mịn PM2.5 và PM10 tại các  
khu vực gần đường giao thông hay các khu công nghiệp  
lớn được khách quan, chính xác hơn■  
-
120  
-
-
-
-
-
-
1,5  
Hiện nay, theo QCVN 05:2013/BTNMT (Bảng 3) về  
giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong môi trường  
không khí xung quanh (μm/m3), ta thấy nồng độ giới  
hạn PM và PM10 được thể hiện ở giá trị trung bình  
trong 242h.5 và trung bình năm. Do đó, để giảm thiểu vấn  
đề ô nhiễm bụi tại các đô thị lớn, cần thường xuyên tiến  
hành việc giám sát liên lục đo đạc nồng độ ô nhiễm bụi  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. QCVN 05:2013/BTNMT – Chất lượng không khí xDng  
qDanh.  
URL: http: //rDssian.news.cn/2016-01/05/c_134978768.  
htm (да- та обращения: 18.11.2016).  
7. Воздействие дисперсного вещества на здоровье  
человека [Электронный ресурс] // Записка Всемирной  
организации здравоохранения / Совместной целевой  
группы по аспектам воздействия загрязнения  
воздуха на здоровье человека. – Женева, 2012. – 13  
с. – URL: http: //www.Dnece.org: 080/fileadmin/  AM/  
env/docDments/ 2012/EB/ECE_EB_AIR_2012_18_R.pdf  
(дата обращения: 22.10.2016).  
2. Lê Hoàng Anh,  ương ành Nam, Vương Như LDận, Ô  
nhiễm bụi PM tại một số thành phố ở Viêt Nam- Biến động  
theo không gian, thời gian của PM10 và PM2,5, Tạp chí  
môi trường, ChDyên đề IV, 2018.  
3. Cheng M., ChDi H., Yang C. e effect of coarse particles on  
daily mortality: a case –crossover stDdy in a sDbtropical city,  
Taipei, Taiwan // International JoDrnal of Environmental  
Research and PDblic Health. – 2016. – № 13. – С. 347.  OI:  
10.3390/ijerph13030347.  
4. Environmental Protection Agency. National Ambient  
Air QDality Standards for ParticDlate Matter; Final rDle  
[Электронный ресурс] // Federal Register. – 2006. –  
Vol. 71. – 94 p. – URL: https: //www3.epa.gov/ttnamti1/  
files/ambient/pm25/pt535806.pdf (дата обращения:  
18.10.2016).  
8. Голохваст К.С., Кику П.Ф., Христофорова Н.К.  
Атмосферные взвеси и экология человека // Эко- логия  
человека. – 2012. – № 10. – С. 5–10.  
9. Голохваст К.С., Чернышев В.В., Угай С.М. Выбросы  
автотранспорта  
и
экология человека (обзор  
литературы) // Экология человека. – 2016. – № 1. – С.  
9–14.  
10. Директива № 2008/50/ЕС Европейского парламента  
и Совета о качестве атмосферного воздуха и мерах  
его очистки. Европейский союз [Электронный ресурс].  
rD/abrolaw/3063 (дата обращения: 18.10.2016).  
5. Аликина Е.Н., Теплоухова Н.В., Уланов А.В.  
Определениефракционногосоставаиколичественного  
содержания мелкодисперсных частиц в выхлопах  
дизельных автомобилей // Фундаментальные  
и прикладные аспекты анализа риска здоровью 11. Загрязнение атмосферного воздуха города Белгорода  
населения: материалы Всеросс. научно-практ. конф.  
молодых ученых и спе- циалистов Роспотребнадзора  
с международным участием. – 2012. – Т. 1. – С. 22–25.  
частицами пыли малых размеров [Электронный  
ресурс] / А.Э.Боровлев, С.Ау. рКцуенвг, Л.В. Мигаль,  
В.И. Соловьев // Ученые записки: электронный  
научный  
журнал  
Курского  
государственного  
6. В 2015 году  
средняя концентрацияевшзевнных  
университета. – 2013. – № 1 (25). – С. 269–272.  
– URL: http: //scientific-notes.rD/pdf/029-039.pdf (дата  
обращения: 18.10.2016).  
частиц РМ2.5 в воздухе в Пекине снизилась на 6,2  
проц. [Электронный ресурс] // RDssian news.CN. –  
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 55  
12. Лежнин В.Л., Коньшина Л.Г., Сергеева М.В. Оценка 13. Пшенин В.Н. Загрязнение воздуха мелкодисперсными  
риска для здоровья детского населения, обу-  
словленного загрязнением атмосферного воздуха  
выбросами автотранспорта, на примере г. Салехарда  
// Гигиена и санитария. – 2014. – №1..– С. 83– 86.  
частицами около автомобильных дорог // Мо-  
дернизация и научные исследования в дорожной  
отрасли: сборник научных трудов. – М., 2013. – С.  
96–104.  
INVESTIGATION OF DUST POLLUTION IN THE AIR BY THE  
EXHAUST OF VEHICLES IN THE ROADSIDE SPACE  
Nguyen Phuong Ngoc  
FacDlty of ConstrDction,  a Nang ArchitectDre University  
ABSTRACT  
e paper introduces the method of evaluating the results of dust contamination caused by the exhaust of  
vehicles in the urban area. Based on the obtained results, it is possible to analyze the correlation between the dust  
pollution concentration and the number of vehicles. From the research results, it is proposed to carry out continuous  
environmental monitoring to calculate the level of risks to human health caused by the impact of vehicle emissions  
and to plan research studies to monitor across the entire large territory.  
Key words: dDst pollDtion, sDspended particles, PM2.5, PM10, the exhaDst of vehicles, the roadside space.  
56 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
pdf 5 trang yennguyen 22700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mức độ ô nhiễm bụi trong không khí do khí thải của phương tiện giao thông tại khu vực ven đường đô thị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_muc_do_o_nhiem_bui_trong_khong_khi_do_khi_thai_cu.pdf