Mô hình cụm công nghiệp thân thiện môi trường cho vùng thủ đô Hà Nội

226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
THE MODEL OF ENVIRONMENTAL FRIENDLY INDUSTRIAL CLUSTERS  
FOR HANOI CAPITAL REGION  
Thieu Thi Thu Thao *  
VNU - Univesity of Social Sciences Humanities  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Hanoi capital is a city with many scattered industrial clusters.  
Stemming from a long tradition of production and business, there have  
been many shortcomings related to environmental pollution. Besides  
the industrial clusters which have been planned for a few decades in the  
suburbs, in fact there are still many industrial clusters located in inner  
districts. Therefore, solving the micro-scale environmental problems in  
each enterprise and the macro-level in the industrial cluster is always a  
painful problem today. Based on theories of industrial clusters, cyclic  
value chains... under the perspective of planning and formulating  
technology policies, the author proposes a solution to building the  
model of Environmental Friendly Industrial Cluster - EFIC for Hanoi  
capital region.  
Received:  
Revised:  
26/11/2020  
14/01/2021  
29/4/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Industrial clusters  
Environmental friendly  
Technology connection  
Urban planning  
Technology policy  
MÔ HꢀNH CꢁM CÔNG NGHIꢂP THÂN THIꢂN MÔI TRƯꢃNG  
CHO VꢄNG THꢅ ĐÔ Hꢆ NꢇI  
Thiều Thị Thu Thảo  
Trưꢀng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐH Quꢁc gia Hà Nội  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 26/11/2020  
Ngày hoàn thiện: 14/01/2021  
Ngày đăng: 29/4/2021  
TÓM TẮT  
Thủ đô Hà Nội là thành phố có nhiều cụm công nghiệp phân bố rải rác.  
Xuất phát từ truyền thống sản xuất kinh doanh lâu đời đã phát sinh  
nhiều bất cập liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường. Bên cạnh  
những cụm công nghiệp mới được quy hoạch vài chục năm gần đây ở  
ngoại thành thì thực tế vẫn còn nhiều cụm công nghiệp nằm ngay trong  
các quận nội đô. Chính vì vậy việc giải quyết các vấn đề về môi trường  
ở tầm vi mô trong từng doanh nghiệp và tầm vĩ mô trong cả cụm công  
nghiệp luôn là vấn đề nhức nhối hiện nay. Dựa trên các lý thuyết về  
cụm công nghiệp, cụm liên kết ngành, chuꢀi giá trꢁ tuần hoàn,... dưới  
góc độ hoạch đꢁnh và hình thành chính sách công nghệ, tác giả đề xuất  
giải pháp xây dựng mô hình "cụm công nghiệp thân thiện với môi  
trường" (Environmental Friendly Industrial Cluster - EFIC) cho vùng  
thủ đô Hà Nội.  
TỪ KHÓA  
Cụm công nghiệp  
Thân thiện môi trường  
Liên kết công nghệ  
Quy hoạch đô thꢁ  
Chính sách công nghệ  
3
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Đꢈt vꢉn đề  
Việc nghiên cứu và đề xuất xây dựng mô hình cụm công nghiệp thân thiện môi trường là rất  
quan trꢂng hiện nay đối với các cụm công nghiệp trên đꢁa bàn thành phố Hà Nội. Đây là mô  
hình phù hợp với tính chất, quy mô doanh nghiệp và quꢃ đất dành cho doanh nghiệp sản xuất  
trên đꢁa bàn thành phố. Trong giai đoạn từ 2010-2020, cùng với xu thế cạnh tranh phát triển và  
thương mại hóa các công nghệ thân thiện với môi trường, cómột số nghiên cứu của các hꢂc giả  
trong nước đã đề cập đến các nội dung liên quan như: Khu công nghiệp thân thiện môi trường  
(CNTTMT), khu công nghiệp sinh thái của nhóm các tác giả Đại hꢂc Văn Lang [1], [2];  
CNTTMT của Liên hiệp các hội khoa hꢂc và kꢃ thuật Việt Nam [3]; Xây dựng khu công  
nghiệp thân thiện môi trường, Hoài Nguyên (2019) đăng trên báo Khoa hꢂc và Công nghệ tỉnh  
Thừa Thiên Huế [4]... Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào bàn về xây dựng mô hình “cụm công  
nghiệp thân thiện môi trường”, đặc biệt dành riêng cho thủ đô Hà Nội. Trong khi với đặc trưng  
riêng của vùng thủ đô Hà Nội có tới 26/70 cụm công nghiệp đủ ngành nghề đang hoạt động thì  
việc lựa chꢂn xây dựng các cụm công nghiệp theo mô hình Cụm CNTTMT là rất cấp thiết và  
phù hợp hiện nay. Do đó, xuất phát từ các lý thuyết về cụm công nghiệp, lý thuyết về chuꢀi giá  
trꢁ vật liệu tuần hoàn 6R (Reduce-Reused-Recycle-Refuse-Rethink-Responsibility), (Giảm  
thiểu-Sꢄ dụng lại-Tái chế-Từ chối-Tư duy lại-Trách nhiệm cá nhân trước cộng đꢅng) [5], bài  
viết sꢆ tập trung vào việc xây dựng mô hình Cụm công nghiệp thân thiện môi trường cho vùng  
thủ đô Hà Nội.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các công trình khoa hꢂc trong nước và quốc tế  
liên quan đến việc chuyển đổi các cụm CNTTMT cũng như các chính sách phát triển công nghệ  
thân thiện môi trường ở một số quốc gia.  
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp xây  
dựng khung chính sách phù hợp với thực tế của Việt Nam nói chung và khu vực thành phố Hà  
Nội nói riêng trong việc xây dựng mô hình cụm CNTTMT.  
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:  
- Danh sách điều tra được lập trước khi phát phiếu trưng cầu ý kiến  
- Thực hiện yếu tố khuyết danh khi trưng cầu ý kiến để kết quả trả lời được khách quan  
- Số lượng phát phiếu: 160 phiếu với doanh nghiệp và 120 phiếu với cán bộ, viên chức hành  
chính thuộc 02 bộ: Bộ Khoa hꢂc và Công nghệ và Bộ Tài nguyên và Môi trường.  
- Thời gian khảo sát: Từ 26/11/2020 đến 22/12/2020.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Cụm công nghiệp thân thiện môi trường, khái niệm có liên quan  
Quan điểm về cụm ngành lần đầu tiên được A. Marshall sꢄ dụng trong tác phẩm kinh điển của  
ông với nhan đề “Các nguyên tắc kinh tế hꢂc” [6]. Theo Marshall thì các điều kiện để hình thành  
cụm ngành gꢅm: Lao động; các doanh nghiệp chuyên môn hóa; khả năng đem tới hiệu ứng lan  
tỏa thông qua hoạt động chuyển giao bí quyết và ý tưởng công nghệ trong cùng cụm.  
Sau đó đến năm 1990, cách tiếp cận khái niệm cụm ngành được đꢁnh nghĩa theo hướng cụm  
ngành công nghệ (Industry technology Cluster-IC) tập trung vào quan điểm nổi tiếng của Michael  
Porter. Porter và những người theo ông sꢄ dụng lợi thế cạnh tranh của các nhóm ngành công  
nghiệp toàn quốc như thước đo phân cụm trong kꢃ thuật tiêu chuẩn hóa cao của hꢂ. Theo Michael  
Porter, “Cụm là các nhóm của các công ty gần nhau, có liên quan và các thể chế hỗ trợ trong  
một lĩnh vực cụ thể, quy tụ trong một khu vực địa lý được kết nꢁi bởi những sự tương đồng và  
tương hỗ” [7].  
Trong bài viết Trade-flow Based Industrial Clusters in the Finnish Economy - Growth  
4
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
Through National Synergies-2000, nhóm tác giả Tuomo Pentikainen, Sakari Luukkainen cho rằng  
“Cụm công nghiệp là mục tiêu hàng đầu trong việc hoạch định các chính sách công nghệ. Cụm  
công nghiệp thực tế là việc gia tăng mô hình mạng lưới liên kết của sự hiểu biết và giá trị hàng  
hóa” [8]. Nó là mạng của các tổ chức tích hợp theo chiều ngang hoặc là chiều dꢂc. Các cụm công  
nghiệp là mô hình cốt lõi của hệ thống đổi mới quốc gia. Sự đổi mới trong một lĩnh vực trong  
chuꢀi giá trꢁ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp liên kết. Mặc dù có thể giả đꢁnh rằng các luꢅng  
giao dꢁch được mô tả trong thống kê đầu vào/ đầu ra, mô tả cả sự khuếch tán công nghệ được thể  
hiện giữa các lĩnh vực sản xuất. Chuꢀi giá trꢁ và cụm công nghiệp là mục tiêu chính trong việc  
hình thành các chính sách có tác động trong lĩnh vực khoa hꢂc và công nghệ. Mạng lưới hoạt  
động tốt là kết quả tự nhiên của các công ty, nhà sản xuất nguyên liệu thô, nguꢅn lao động, tổ  
chức nghiên cứu và người tiêu dùng trong mối liên hệ chặt chꢆ với nhau. Tuy nhiên khái niệm  
“Cụm công nghiệp” thực sự bùng nổ trong các cuộc tranh luận công khai về chính sách phát triển  
công nghệ khi Porter công bố “Lợi thế cạnh tranh của các quꢁc gia” [9], khái niệm về IC đã nhận  
được rất nhiều sự chú ý. Nó đã kích hoạt các sáng kiến cụm ngành gia tăng với số lượng lớn chưa  
từng có ở các cấp Thành phố, bang, tiểu bang, quốc gia và cả khu vực (như vùng Trung Mꢃ). Và  
trong giới hꢂc giả hiện nay, thì khái niệm về cụm của A. Marshall và Porter được sꢄ dụng nhiều  
nhất trong các nghiên cứu liên quan đến IC trong giới hꢂc thuật trên thế giới.  
Cụm công nghiệp thân thiện môi trường (Environmental Friendly Industrial Cluster-EFIC) là  
một dạng phạm trù về mô hình cụm công nghiệp trong xu thế phát triển bền vững hiện nay. Năm  
1990, khi “cụm công nghiệp” trở thành trꢂng tâm chính trong chính sách công nghệ tại Phần Lan,  
thì khái niệm về các Cụm môi trường cũng xuất hiện đꢅng thời trong chính sách phát triển công  
nghiệp bền vững tại quốc gia này. Ở Việt Nam khái niệm về Khu công nghiệp thân thiện môi  
trường (KCNTTMT) (Environmental Friendly Industrial Park –EFIP) được đề cập trong một số  
nghiên cứu trong thời gian gần đây. Nguyên tắc cơ bản của một KCNTTMT là “KCNTTMT có  
thể thực hiện được những việc mà từng doanh nghiệp đơn lẻ không thể thực hiện được. Hiệu quả  
môi trưꢀng và kinh tế mà KCN mang lại lớn hơn gấp nhiều lần so với tổng hiệu quả đạt được của  
từng doanh nghiệp” [10]. Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam nhiều khu công nghiệp được hình  
thành một cách không chủ đích từ sự tập trung của nhiều liên doanh nước ngoài, kể cả các doanh  
nghiệp có nguꢅn vốn FDI. Và việc quy hoạch để hình thành một KCNTTMT có lꢆ khó khăn hơn  
rất nhiều so với các cụm công nghiệp, bởi yếu tố về quy mô, tính chất hoạt động của các doanh  
nghiệp lớn và khả năng liên kết và quản lý theo mô hình chuꢀi còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng  
với cụm công nghiệp thì việc hình thành và chuyển đổi theo mô hình Cụm công nghiệp thân thiện  
với môi trường sꢆ dễ dàng hơn rất nhiều. Và với quyết tâm của Chính phủ và sự chung tay của  
nhiều bộ ngành vì mục tiêu môi trường và phát triển bền vững cho Thủ đô thì tính khả quan về  
một mô hình công nghiệp thành công cao hơn.  
Theo quyết đꢁnh số 44/2010/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2010 của Ủy ban nhân dân  
Thành phố Hà Nội thì Cụm công nghiệp được hiểu như sau: “Cụm công nghiệp (bao gꢅm cụm  
công nghiệp- Cụm tiểu thủ công nghiệp) là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất  
công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dꢁch vụ công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới  
đꢁa lý xác đꢁnh, có hàng rào tách biệt, không có dân cư sinh sống, có hệ thống kết cấu hạ tầng  
chung được xây dựng đꢅng bộ, có đầy đủ điều kiện để sản xuất kinh doanh thuận lợi, an toàn và  
bền vững nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá  
nhân, hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở đꢁa phương vào đầu tư sản xuất kinh doanh; do  
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội quyết đꢁnh thành lập. Cụm công nghiệp có quy mô không  
quá 50 ha” [11]. Như vậy, theo quyết đꢁnh của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội thì cụm công  
nghiệp là dạng thức nhỏ hơn so với khu công nghiệp và mục đích xây dựng cụm công nghiệp  
nhắm đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang nằm rải rác trên đꢁa bàn Thành phố hoạt động trên  
nhiều lĩnh vực như: chế biến nông, thủy hải sản; chế biến thực phẩm, sữa, đꢅ hộp, các sản phẩm  
từ thꢁt gia súc, gia cầm. Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm sꢄ dụng nguyên liệu tại chꢀ, sꢄ dụng  
nhiều lao động; sản xuất sản phẩm, phụ tùng, lắp ráp và sꢄa chữa máy móc, thiết bꢁ phục vụ nông  
5
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
nghiệp; cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa  
hꢂc, thân thiện với môi trường…  
Theo tác giả đề xuất thì: “Cụm công nghiệp thân thiện môi trường có thể hiểu là một cụm  
công nghiệp bao gꢅm các cơ sở sản xuất có quan hệ tương đꢅng hoặc tương hꢀ với nhau, được  
quy hoạch, sắp xếp trong cùng một khu vực đꢁa lý nhằm mục đích tạo năng suất hiệu quả nhất,  
tiêu hao ít nhiên liệu nhất, có thể tận dụng và kết hợp ở một hoặc nhiều khâu trong quy trình  
“đầu-cuối” hướng đến mục tiêu bảo vệ môi trường và tăng tính lan tỏa trong chuꢀi giá trꢁ và chất  
lượng sản phẩm.”  
3.2. Nhu cꢀu đꢁi mꢂi theo hưꢂng công nghệ thân thiện môi trường ꢃ các doanh nghiệp trên  
đꢄa bꢅn thꢅnh phꢆ Hꢅ Nꢇi  
Với vꢁ trí trung tâm của cả nước, năm 2018, Hà Nội là thành phố tập trung nhiều cụm và khu  
công nghiệp chế biến và sản xuất. Theo phó Giám đốc Sở Công thương Hà Nội, Đàm Tiến Thắng  
cho biết, hiện trên đꢁa bàn thành phố có 70 cụm công nghiệp (CCN) hoạt động tại 17 quận, huyện  
và thꢁ xã với tổng diện tích theo quy hoạch là 1.686 ha, trong đó, có 1.392 ha được đầu tư xây  
dựng hạ tầng, hoạt động ổn đꢁnh. Các CCN đã thu hút khoảng 3.864 cơ sở sản xuất, kinh doanh,  
tạo việc làm cho 60 nghìn lao động, nộp ngân sách nhà nước khoảng 1.100 tỷ đꢅng/năm. Trong  
đó có 26 CCN có các hạng mục công trình hạ tầng tương đối đꢅng bộ như các CCN: Quất Động  
mở rộng, Ngꢂc Hꢅi, Từ Liêm, thꢁ trấn Phùng… Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành  
Quyết đꢁnh số 1292/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp thành phố Hà  
Nội đến năm 2020, có xét đến năm 2030. Trong đó có nhiều chính sách ưu tiên phát triển cụm  
công nghiệp theo đꢁnh hướng ưu tiên bảo vệ môi trường. Như vậy, với đꢁnh hướng quy hoạch và  
xây dựng các cụm công nghiệp trên đꢁa bàn thành phố Hà Nội, thì việc nâng cấp thêm một bước  
để hình thành các cụm công nghiệp đạt tiêu chí về Cụm công nghiệp thân thiện môi trường cho  
thủ đô Hà Nội là việc cấp thiết hiện nay.  
Mặc dù các cụm công nghiệp trên đꢁa bàn thành phố Hà Nội đã và đang áp dụng nhiều giải  
pháp về môi trường đặc biệt là ứng dụng công nghệ để xꢄ lý nước thải gây ô nhiễm môi trường,  
sꢄ dụng năng lượng tái tạo bằng hệ thống điện mặt trời, tiết kiệm nhiên liệu. Tuy nhiên, chưa có  
cụm công nghiệp nào áp dụng đꢅng bộ theo mô hình cụm công nghiệp thân thiện môi trường. Với  
khảo sát dành cho 26 doanh nghiệp, cụm công nghiệp trên đꢁa bàn quận Hai Bà Trưng, quận  
Hoàng Mai, quận Long Biên, quận Đông Anh về nội dung: Có cần thiết xây dựng cụm công  
nghiệp thân thiện môi trưꢀng hay không? Tác giả phát 160 phiếu hỏi cho các doanh nghiệp đang  
sản xuất trên đꢁa bàn thành phố Hà Nội, thu lại 121 phiếu hợp lệ. Sau khi xꢄ lý số liệu, kết quả  
khảo sát thu được như Hình 1.  
Hình 1. Khảo sát sự cần thiết của việc xây dựng mô hình cụm công nghiệp thân thiện môi trưꢀng  
Hình 1 cho thấy, có trên 80% câu trả lời được đánh giá là Đặc biệt cần thiết và Rất cần thiết.  
Điều đó chứng tỏ nhu cầu cấp thiết trong việc hình thành cụm công nghiệp theo mô hình cụm  
6
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
công nghiệp thân thiện môi trường nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, tái chế  
chất thải, tiết kiệm năng lượng, chi phí sản xuất, nâng cao giá trꢁ cạnh tranh của sản phẩm.  
Thực trạng hiện nay Hà Nội chưa có mô hình cụ thể của cụm Công nghệ thân thiện môi  
trường nào đang phát triển bởi thực tế xuất phát từ hệ thống chính sách, chưa quy đꢁnh cụ thể thế  
nào là “cụm công nghiệp thân thiện môi trường”. Trong Luật Khoa hꢂc và Công nghệ năm 2013,  
Luật Chuyển giao công nghệ 2017, Luật Môi trường 2013, khái niệm Công nghệ thân thiện môi  
trường chưa được nhắc đến cụ thể mà chủ yếu là chính sách về phát triển nền kinh tế bền vững,  
hoặc các khái niệm bao quát chung về ứng dụng các công nghệ đảm bảo vấn đề về môi trường.  
Tuy nhiên, “Công nghệ thân thiện môi trường” là khái niệm hay loại hình công nghệ được nhiều  
quốc gia quan tâm. OECD và APEC là hai tổ chức quốc tế đã đưa ra các danh mục cụ thể cho  
từng loại công nghệ được xếp vào dòng ESTs (Enviromentally Sound Technologies) – Công nghệ  
thân thiện môi trường. Ở nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, Singapore… là  
những quốc gia đang phát triển mạnh mꢆ các khu, cụm công nghiệp theo hướng công nghệ thân  
thiện môi trường nhằm đạt được mục tiêu cạnh tranh công nghệ [12]. Ví dụ, theo một báo cáo  
năm 2015 từ công ty nghiên cứu Analytica Advisors, thꢁ phần của Canada trên thꢁ trường quốc tế  
đối với hàng hóa công nghệ thân thiện môi trường đã giảm 41 bậc từ năm 2005 đến năm 2013.  
Năm 2015, ngành công nghiệp này có doanh thu 13,27 tỷ đô la nhưng lợi nhuận giữ lại đã giảm.  
Céline Bak, chủ tꢁch của Analytica Advisors, cho biết các quốc gia công nghệ thân thiện môi  
trường hàng đầu đang theo đuổi một cách tiếp cận toàn diện hơn ngoài việc tài trợ cho các công  
ty khởi nghiệp. Chính vì vậy việc cạnh tranh trong thương mại công nghệ thân thiện môi trường  
đã cao hơn rất nhiều so với trước đây [13].  
Các chính sách về công nghệ thân thiện môi trường, công nghệ sạch được nhắc đến trong  
chính sách chung về phát triển khoa hꢂc và công nghệ, hiện nay nổi bật là Quyết đꢁnh số  
1292/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp thành phố Hà Nội đến năm  
2020, có xét đến năm 2030.  
Theo khảo sát của tác giả với nhóm đối tượng là các bộ hành chính trực thuộc Bộ Khoa hꢂc và  
Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, tác giả lập phiếu bảng hỏi liên quan đến chính sách phát  
triển lĩnh vực CNTTMT nói chung và việc quy hoạch thành Cụm CNTTMT nói riêng trên đꢁa bàn  
thành phố Hà Nội. Tác giả gꢄi 120 phiếu, thu lại 89 phiếu trả lời hợp lệ. Sau khi xꢄ lý số liệu và tạo  
bảng tổng hợp theo tỉ lệ phần trăm, tác giả đưa ra được kết quả khảo sát như hình 2, cụ thể như sau:  
“Cần thiết phải xây dựng các quy định riêng nhằm mục tiêu tꢂp trung phát triển mạnh các  
công nghệ thân thiện môi trưꢀng trong doanh nghiệp cꢃng như các cụm công nghiệp hay  
không?” Có đến 56,3% cho rằng cần thiết có một chính sách nhà nước cụ thể, dành riêng để tập  
trung phát triển cho công nghệ thân thiện môi trường; 37,5% cho rằng có thể dùng chung với các  
chính sách công nghệ sẵn có. Và chỉ còn khoảng 7% số cán bộ viên chức, những người trực tiếp  
hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình giúp xây dựng các chính sách lựa chꢂn ô không cần thiết.  
Hình 2. Khảo sát về việc xây dựng chính sách công nghệ riêng phục vụ  
việc xây dựng môi hình cụm công nghệ TTMT trên địa bàn thành phꢁ Hà Nội  
7
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
Như vậy chúng ta có thể thấy, góc độ người hoạch đꢁnh chính sách cũng nhận đꢁnh được tầm  
quan trꢂng lớn của việc xây dựng mô hình cụm công nghiệp thân thiện với môi trường. Bởi  
CNTTMT không đơn thuần chỉ là quá trình xꢄ lý và tái chế chất thải, chất thải của công đoạn này  
làm nguyên liệu đầu vào cho công đoạn sản xuất khác, mà CNTTMT ở đây bao gꢅm 3 bộ phận  
gắn bó chặt chꢆ là: Công nghệ TTMT-Hàng hóa TTMT và Dꢁch vụ TTMT. Và các doanh nghiệp,  
các công ty sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa góp phần bảo vệ môi trường cũng được gꢂi là các  
doanh nghiệp công nghệ TTMT. CNTTMT là ngành công nghệ mới và khó. Và cụm CNTTMT  
cũng là mô hình mới và đòi hỏi nhiều điều kiện tiêu chí khác nhau nhằm hướng đến mục tiêu  
đảm bảo đꢅng thời phát triển kinh tế bền vững và bảo vệ môi trường sống. Cũng như mục tiêu  
làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi được đánh giá là doanh nghiệp TTMT.  
3.3. Kinh nghiệm vꢈ chꢉnh sách phát triꢊn cụm công nghệ thân thiện môi trường ꢃ mꢇt sꢆ  
quꢆc gia trên thꢋ giꢂi  
Bảng 1. Tình hình thực hiện các chính sách phát triển công nghệ thân thiện môi trường theo từng quốc gia  
Quốc gia  
Tình hình thực hiện các chính sách phát triển công nghệ thân thiện môi trường  
- Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA): Hợp tác sáng tạo trong lĩnh vực môi trường thông qua  
kế hoạch chiến lược EPA  
- Bộ Năng lượng: Đi đầu trong việc phát triển các công nghệ liên quan đến năng lượng, đặc  
biệt là nhiên liệu hóa thạch, sꢄ dụng năng lượng hiệu quả, đặc biệt năng lượng tái tạo trong  
doanh nghiệp, các cụm khu công nghiệp phân bố các bang.  
- Bộ Quốc phòng: Thúc đẩy hợp tác với DOE và EPA thông qua các dự án nghiên cứu và  
phát triển chiến lược  
Mꢃ  
- Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp: Đổi mới công nghệ theo hướng công nghệ thân thiện với  
môi trường hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ tái tạo và nhiên liệu sinh hꢂc  
- Chính quyền cấp tỉnh: Phải thiết lập các chính sách đổi mới công nghệ theo hướng thân  
thiện môi trường thông qua ủy ban môi trường của các bang; Xây dựng các khu công nghiệp  
thân thiện môi trường theo mô hình sinh thái công nghiệp.  
- Bộ Môi trường: Thúc đẩy pháp luật liên quan đến hệ thống cơ bản các tiêu chuẩn và quy  
đꢁnh của chính sách môi trường, áp dụng với các doanh nghiệp sản xuất, cụm, khu công  
nghiệp theo hệ tiêu chuẩn giám sát riêng.  
Thực hiện vai trò quan trꢂng trong nghiên cứu môi trường dài hạn thông qua Viện Nghiên  
cứu Môi trường Quốc gia (NIES)  
Nhật Bản - Bộ Kinh tế, Thương Mại và Công nghiệp: Là chủ thể cốt lõi của đổi mới, thiết lập các biện  
pháp biến đổi khí hậu, 3Rs (Giảm, Tái chế, Tái sꢄ dụng), thúc đẩy các chính sách quản lý  
thân thiện với môi trường  
- Liên đoàn các tổ chức kinh tế: Đặt mục tiêu, lượng khí thải cacbon dioxide sꢆ giảm xuống  
mức gần tiêu chuẩn nhất. Thông qua hướng dẫn thực hành môi trường tự nguyện để tiến  
hành cắt giảm.  
- Kể từ năm 2001, chính phủ Canada đã phân bổ tổng cộng 965 triệu đô la cho Quꢃ SD Tech  
để đầu tư vào các dự án về chất lượng không khí, biến đổi khí hậu, chất lượng đất và chất  
lượng nước.  
Canada  
- Là quốc gia thành công với khu sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường, đảm bảo  
các tiêu chuẩn xuất khẩu nông sản và tính cạnh tranh trên trường quốc tế.  
- Là quốc gia phát triển được mô hình bản đꢅ đổi mới công nghệ để các công ty, doanh  
nghiệp theo dõi và tiếp cận nhanh với công nghệ thân thiện môi trường tiên tiến nhất  
- Bộ Môi trường: Bảo tꢅn môi trường sống tự nhiên và phòng chống ô nhiễm môi trường  
bằng cách xây dựng mô hình sinh thái công nghệ, áp dụng các công nghệ thân thiện môi  
trường trong sản xuất.  
Hàn  
Quốc  
- Từ những năm 2018-2020, các công ty lớn như tập đoàn Lotter, Samsung đã đầu tư xây  
dựng các khu công nghiệp, các cụm sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, nó trở thành  
yếu tố chuyển đổi quan trꢂng tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên trường quốc tế.  
(Nguồn: Theo Viện đánh giá và lꢂp kế hoạch khoa học và công nghệ Hàn Quꢁc KISTEP [14])  
8
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
Với xu hướng đầu tư mạnh mꢆ vào lĩnh vực CNTTMT, nhiều quốc gia gꢂi đây là công nghệ  
của tương lai. Hàn Quốc cũng là quốc gia đầu tư mạnh mꢆ cho các hoạt động R&D trong lĩnh vực  
CNTTMT. Viện đánh giá và lập kế hoạch khoa hꢂc và công nghệ của Hàn Quốc (KISTEP) dựa  
trên các nghiên cứu của OECD về chính sách phát triển khoa hꢂc và công nghệ của các nước đã  
đưa ra nghiên cứu tổng hợp về chính sách CNTTMT của một số quốc gia trên thế giới trong đó  
có Hàn Quốc. Qua bảng 1, tác giả muốn nhấn mạnh các chính sách CNTTMT của nhiều quốc gia  
trên thế giới đang tập trung phát triển vào các công ty khởi nghiệp, các nhóm startup cũng như  
các mô hình cụm, khu công nghiệp thân thiện với môi trường thông qua hệ thống các quꢃ, các  
chính sách ưu đãi thuế cũng như các dự án liên quan. Và Việt Nam, với vai trò là quốc gia chưa  
mạnh với lĩnh vực CNTTMT, nhưng với sự quan tâm, đꢁnh hướng của Chính phủ trong những  
năm gần đây, nếu có chính sách phù hợp, lựa chꢂn công nghệ tiêu biểu tập trung phát triển chắc  
chắn sꢆ mang lại những hiệu quả tích cực.  
3.4. Dꢌa theo lꢍ thuyꢋt vꢈ cụm công nghiệp, vꢅ lꢍ thuyꢋt vꢈ chuꢎi giá trꢄ vꢏt liệu tuꢀn hoꢅn đꢊ  
đꢈ xuꢐt các dꢑng mô hꢒnh cụm công nghiệp thân thiện vꢂi môi trường  
Một là: Các cụm tích lũy thuần túy tự thân chuyển đổi sang CCNTTMT: Đó là sự tập trung về  
mặt đꢁa lý của các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tương tự nhau hoặc liên quan chặt chꢆ với  
nhau, hoặc ít liên quan đến nhau trong một vùng đꢁa lý nhỏ. Ví dụ: Cụm công nghiệp Mai Đình;  
Cụm công nghiệp Cổ loa-Cổ loa; Cụm công nghiệp Ninh Hiệp-Gia Lâm; Cụm công nghiệp Phú  
Trꢁ-Gia Lâm; Cụm công nghiệp Dệt May Nguyên Khê- Đông Anh; Cụm công nghiệp quận Hai  
Bà Trưng-Hai Bà Trưng; Cụm công nghiệp Thực phẩm Hapro-Gia Lâm… Chính các cụm công  
nghiệp này đang hoạt động trong thủ đô và cả những Cụm công nghiệp ở trung tâm các quận lớn.  
Nó đꢅng nghĩa với việc các cụm công nghiệp trên phát triển ở khu vực có đông dân cư. Ô nhiễm  
nguꢅn nước, môi trường, tiếng ꢅn và chất lượng không khí xung quanh các cụm này là vấn đề rất  
quan trꢂng. Vậy đꢁnh hướng chuyển đổi từ mô hình cụm công nghiệp cổ điển sꢆ được dần dần  
thay sang mô hình Cụm CNTTMT. Với mô hình liên kết thuần túy và tự thân chuyển đổi này  
muốn chuyển đổi cần đảm bảo các bước: Thứ nhất: Áp dụng hình thức khuếch tán công nghệ để  
tạo tính lan tỏa tích cực và ưu điểm của các công nghệ xanh, sạch, đảm bảo được yếu tố về môi  
trường. Thực hiện theo cách thức khuếch tán kiểu “mưa dầm thấm lâu”, để các doanh nghiệp có  
điều kiện tiếp cận và chuyển đổi dần dần sao cho phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp về năng  
suất sản phẩm kết hợp lợi ích chung về môi trường. Thứ hai: Tiến hành chuyển đổi cả cụm công  
nghiệp theo hướng TTMT dựa trên việc xây dựng các tiêu chí phù hợp về Năng lượng, nước, cơ  
sở hạ tầng, thông tin liên lạc.  
Hai là: Với mô hình CCNTTMT, quá trình chuyển đổi nó là mối “quan hệ cộng sinh”, nghĩa là  
mục đích của các doanh nghiệp không chỉ liên kết để phát triển “hệ công nghiệp hạn chế tối đa chất  
thải phái sinh” và tận dụng nguꢅn nguyên liệu thứ cấp, là chất thải của doanh nghiệp này nhưng lại  
là nguꢅn nguyên liệu của doanh nghiệp khác. Đꢅng thời tiết kiệm được nguꢅn nhiên liệu, năng  
lượng. Trên quan điểm này, rõ ràng các nhà sinh thái hꢂc sꢆ góp phần quan trꢂng trong thiết kế mô  
hình CCNTTMT nhờ những hiểu biết về động hꢂc của các hệ sinh thái khác nhau, kꢃ năng truyền  
đạt thông tin và kinh nghiệm trong việc tái tạo các hệ sinh thái. Xây dựng bản đꢅ nguyên liệu, nhiên  
liệu, sản phẩm đầu ra, loại chất thải... đꢁnh hướng theo mô hình 6R nhằm tận dụng tối đa theo hình  
thức chất thải của doanh nghiệp này là nguyên liệu của doanh nghiệp khác trong cùng cụm.  
Ba là: Các cụm công nghiệp mới quy hoạch: Đó là việc quy hoạch trước về cơ sở hạ tầng, hệ  
thống điện, nước, hệ thống xꢄ lý chất thải. Các doanh nghiệp được mời gꢂi để thuê đất và sꢄ  
dụng các tiện ích trong cụm CCNTTMT sẵn có. Các doanh nghiệp sản xuất chuyển đổi vꢁ trí sꢆ  
phải thích nghi với sự chuyển đổi không tự thân này.  
Trên thực tế thì CCNTTMT chuyển đổi sꢆ có cách thức chuyển đổi và thích nghi khác nhau  
phụ thuộc vào đặc tính khác nhau của từng doanh nghiệp và từng cụm công nghiệp. Mꢀi ngành sꢆ  
phù hợp với một mô hình khác nhau. Ngành sản xuất truyền thống, nhỏ lẻ và phụ thuộc nhiều vào  
nguꢅn nguyên liệu như công nghiệp chế biến thực phẩm, đꢅ hộp, sơ chế... đặc biệt nằm rải rác ở  
9
226(08): 03 - 10  
TNU Journal of Science and Technology  
khu vực cụm công nghiệp Hai Bà Trưng, cụm thực phẩm Gia Lâm, Đông Anh thì mô hình thuần  
túy tự thân chuyển đổi sꢆ là lựa chꢂn tiết kiệm và hiệu quả. Các doanh nghiệp công nghệ hiện  
đại, có chuꢀi sản xuất đa dạng nên phù hợp với mô hình liên kết dꢂc.  
4. Kết luận  
Việc quy hoạch và chuyển đổi cụm công nghiệp trong vùng nội đô mặc dù Quyết đꢁnh số  
1292/QĐ-UBND đã nêu ra các giải pháp cụ thể nhưng cần phải đꢁnh hướng Cụm công nghiệp đó  
theo một mô hình nhất đꢁnh. Khi nghiên cứu về Lý thuyết cụm, cụm công nghiệp, khu công  
nghiệp... nhiều nhà nghiên cứu trong nước cho rằng Việt Nam chưa có mô hình nào đạt đúng tiêu  
chuẩn theo đꢁnh nghĩa Cụm công nghiệp của Thế giới. Nhưng trên thực tế, mꢀi quốc gia có một  
vꢁ trí đꢁa lý, khí hậu, môi trường và quy hoạch dân cư khác nhau, không thể mang mô hình của  
cụm công nghiệp nước này áp dụng vào tiêu chuẩn cụm của một nước khác để phát huy hiệu quả  
cao được. Với tính chất riêng của thủ đô Hà Nội cũng như các ngành nghề tập trung sản xuất,  
việc xây dựng và chuyển đổi các cụm công nghiệp sang mô hình Cụm thân thiện môi trường là  
hoàn toàn khả thi nhằm đạt được mục tiêu phát biển bền vững cho thành phố.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] T. M. D. Tran, and T. V. Nguyen, “Experiences of countries and methodology for building ecological  
industrial zones in Vietnam,” Journal of Environmental Protection, Department of Environmental  
Protection, Ministry of Natural Resources and Environment, ISSN 0868-3301, no. 12, pp. 33-38, 2003.  
[2] T. M. D. Tran, Q. H. Hoang, and T. V. Nguyen, “Developing an environmental friendly industrial park  
from an existing industrial park: Content and implementation steps,” Proceedings of the Workshop  
school, Bien Hoa, Dong Nai, December 8, 2004, pp 35-40.  
[3] H. Nguyen, “Construction of an environmentally friendly industrial park,” 2019. [Online]. Available:  
December 26, 2020].  
[4] Vietnam Association of Economic Industries, “Towards environment-friendly technology,” 2011.  
thien-with-new-school-1011. [Accessed December 26, 2020].  
[5] V. T. Nguyen, Some Issues on the Non-Traditional Security under the Impact of The Fourth Industrial  
Revolution (4.0) (Research model on the impact of environmental security in the context of social,  
ecological and economic growth transformation in VietNam), World publisher, 2018.  
[6]  
Marshall,  
“Principles  
of  
Economics,”  
1890.  
[Online].  
Available:  
[7] M. Porter, “Cluster and the New Economics of Competition,” 1998. [Online]. Available:  
https://hbr.org/1998/11/clusters-and-the-new-economics-of-competition. [Accessed September 21, 2020].  
[8] T. Pentikainen, and S. Luukkainen, “Trade-flow Based Industrial Clusters in the Finnish Economy -  
Growth Through National Synergies,” Outline version for the OECD Cluster Focus Group Workshop 8-  
[9] M. Porter, “National competivive advantage,” 1990. [Online]. Available: https://www.academia.edu  
/6992732/Porters_Competitive_Advantage_of_Nations_A_Critique, [Accessed September 22, 2020].  
[10] T. M. D. Tran, and T. V. Nguyen, “Planning, designing, building and developing environmentally  
friendly industrial parks,” Proceedings of the Workshop on Environmentally Friendly Industrial Zones,  
Bien Hoa, Dong Nai, December 8, 2004, pp. 27-31.  
[11] People's Committee of Hanoi, No. 44/2010/QD-UBND dated September 10, 2010, Regulations on  
management of industrial clusters in Hanoi city.  
[12] Norwegian University of Science and Technology, “Trade in Environmentally Sound Technologies:  
Implications for Developing Countries,” 2018. [Online]. Available: https://wedocs.unep.org/bitstream  
/handle/20.500.11822/27595/TradeEnvTech.pdf?sequence=1&isAllowed=y. [Accessed July 18, 2020].  
[13] B. Smith, “Canada: Enviromental Issues Policies and Clearn Technology,” 2015. [Online]. Available:  
[14] KISTEP, “Current status of eco-friendly innovation policies in Korea, the United States, and Japan,”  
2015. [Online]. Available:  
[Accessed October 22, 2020].  
10  
pdf 8 trang yennguyen 9800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình cụm công nghiệp thân thiện môi trường cho vùng thủ đô Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmo_hinh_cum_cong_nghiep_than_thien_moi_truong_cho_vung_thu_d.pdf