Nghiên cứu đề xuất phương pháp tính lũ thiết kế công trình giao thông vùng Đông Bắc Việt Nam

BÀI BÁO KHOA HỌC  
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP TÍNH LŨ THIẾT KẾ  
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM  
Doãn Thị Nội1, Ngô Lê Long2, Hoàng Thanh Tùng2  
Tóm tắt: Các phương pháp tính lũ thiết kế cho công trình giao thông ở Việt Nam chủ yếu dựa trên  
các tiêu chuẩn, quy chuẩn ứng dụng các nghiên cứu của Liên Xô cũ và và được xây dựng từ số liệu  
rất hạn chế ở Việt Nam nên kết quả không tránh khỏi những sai số không mong muốn và phụ thuộc  
nhiều vào kinh nghiệm người tính. Bài báo sẽ phân tích một số bất cập trong tính lũ thiết kế hiện  
nay làm cơ sở cho việc đề xuất phương pháp tính toán lũ thiết kế cho các công trình giao thông ở  
vùng núi Đông Bắc Việt Nam.  
Các từ khóa: Đông Bắc, Giao thông, Lũ thiết kế, Phương pháp.  
chuẩn cũ (Bộ Thủy lợi, 1977), (Bộ GTVT,  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Khu vực Đông Bắc Việt Nam có địa hình bị TCVN 9845:2013, 2013) ứng dụng các nghiên  
chia cắt mạnh mẽ bởi các dãy núi cao, vực sâu, cứu của Liên Xô và được xây dựng từ số liệu rất  
lại nằm trong vùng mưa lớn, nên tình trạng sạt hạn chế ở Việt Nam nên kết quả có những sai số  
trượt núi, cắt đứt đường giao thông, làm trôi không mong muốn và phụ thuộc nhiều vào kinh  
cầu, cống xảy ra trong mùa mưa lũ khá nghiêm nghiệm người tính. Bài báo sẽ đi sâu phân tích  
trọng. Hàng năm, Nhà nước đã phải đầu tư rất một số bất cập trong tính lũ thiết kế hiện nay  
nhiều kinh phí cho việc sửa chữa, nâng cấp các làm cơ sở cho việc đề xuất phương pháp tính  
công trình giao thông trong khu vực. Tuy nhiên, toán lũ thiết kế cho các công trình giao thông ở  
theo TCVN hầu hết các tuyến đường ở đây là vùng núi Đông Bắc Việt Nam.  
cấp V, chỉ một số km là cấp III và IV nên các  
công trình thoát nước như cầu, cống chưa được  
chú trọng trong thiết kế và xây dựng.  
2. NHỮNG HẠN CHẾ TRONG TÍNH LŨ  
THIẾT KẾ CHO CÔNG TRÌNH GIAO  
THÔNG Ở VIỆT NAM  
Tính toán lũ thiết kế là một nội dung quan  
Tính lũ thiết kế ở Việt Nam phụ thuộc vào  
trọng trong thiết kế và thi công các công trình diện tích, tình trạng số liệu thủy văn và mức độ  
giao thông. Kết quả tính toán lũ thiết kế sẽ quyết quan trọng của công trình (cấp công trình), có  
định quy mô công trình. Hiện nay việc tính toán thể phân thành hai nhóm: i) nhóm phương pháp  
lũ thiết kế cho các công trình giao thông ở Việt phân tích thống kê và ii) nhóm phân tích nguyên  
Nam chủ yếu dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn, quy nhân hình thành (hình 1)  
Hình 1. Các phương pháp tính lũ thiết cho giao thông ở Việt Nam  
1 Trường Đại học Giao thông vận tải  
Qua nghiên cứu, phân tích và đánh giá cho  
thấy tính toán lũ thiết kế cho công trình giao  
2 Trường Đại học Thủy lợi  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
80  
thông ở Việt Nam còn một số hạn chế sau:  
hệ số này cũng rất khó xác định.  
1) Việc chọn tần suất lũ mới chỉ dựa vào cấp  
đường mà chưa xét đến các điều kiện bất lợi  
khác như điều kiện tự nhiên và khí tượng thủy  
văn của vùng xây dựng công trình dẫn đến tình  
3. PHƯƠNG PHÁP TÍNH LŨ THIẾT KẾ  
KHU VỰC NGHIÊN CỨU  
3.1 Đề xuất hướng tiếp cận tính lũ thiết kế  
Từ những hạn chế trong các phương pháp  
trạng công trình không đủ năng lực và gặp nhiều tính lũ cho ngành giao thông ở Việt Nam, cùng  
sự cố. với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tính  
2) Việc tính lũ thiết kế mới chú trọng xác toán, kỹ thuật viễn thám và hệ thống thông tin  
định đỉnh lũ mà chưa xét đến tổng lượng lũ (W) địa lý (GIS), nghiên cứu lựa chọn hướng tiếp  
dẫn đến tổng lượng nước đổ dồn vào công trình, cận tính toán lũ thiết kế khu vực nghiên cứu  
không thoát kịp (khẩu độ nhỏ), tạo hiện tượng theo các phương pháp đang được sử dụng rộng  
tích nước ở thượng lưu, phá hủy mặt đường và rãi ở các nước phương Tây và Mỹ (V.T. Chow,  
các công trình tiêu thoát nước.  
1964), (V.T. Chow, et al 1988), (Richard H.  
3) Tiêu chuẩn 22TCN-220-95 được xây dựng McCuen, 2002) đó là: i) Phương pháp SCS-CN;  
chủ yếu dựa trên cơ sở các công thức từ Liên Xô ii) Phương pháp mô hình quan hệ; iii) Phương  
cũ với phương pháp và các bảng tra chưa được pháp phương trình hồi quy dạng Q=f(A) (Các  
cập nhật dẫn đến sai số trong tính toán:  
phương pháp này đều đòi hỏi tính toán lượng  
- Việc tra hệ số dòng chảy phụ thuộc vào cấp mưa hiệu quả từ đó tính chuyển ra dòng chảy  
đất, diện tích lưu vực và lượng mưa. Các bản đồ trên lưu vực). Để thuận tiện cho việc tính toán,  
loại đất và thảm phủ thực vật đã được xây dựng nghiên cứu tiến hành xây dựng các cơ sở dữ liệu  
từ lâu, nhiều loại đất và thảm phủ rất khó xác phục vụ cho việc tính toán lũ thiết kế như sau:  
định hệ số dòng chảy.  
o Nghiên cứu đặc trưng mưa: gồm biến  
- Việc tra thời gian chảy truyền trên sườn dốc động của mưa lũ thông qua thống kê và đánh giá  
phụ thuộc vào hệ số địa mạo sườn dốc và vùng các hình thế thời tiết gây mưa lũ trong khu vực;  
mưa. Hệ số địa mạo sườn dốc phụ thuộc vào cấp sự biến động của mưa lũ theo không gian và  
đất, vùng mưa và các đặc trưng lưu vực; Các thời gian. Để đánh giá sự biến động của mưa  
thông số này đều khó xác định chi tiết với cách theo thời gian, nghiên cứu sử dụng phương pháp  
tính truyền thống.  
phân tích tần suất, xây dựng các bộ đường cong  
- Việc tra mô đun dòng chảy lớn nhất theo IDF (Cường độ mưa-Thời gian mưa-Tần suất)  
tần suất phụ thuộc vào thời gian chảy trên sườn cho các tiểu vùng khác nhau trong khu vực. Kỹ  
dốc; hệ số địa mạo lòng sông; vùng mưa. Do thuật Viễn thám và GIS được sử dụng để đánh  
các vùng mưa rộng lớn quy định không rõ, rất giá sự biến động của mưa theo không gian và  
khó xác định lưu vực thoát nước thuộc vùng xây dựng các bản đồ đẳng trị về biến đổi lượng  
mưa nào.  
mưa, hệ số biến đổi lượng mưa Cv theo không  
- Việc tra tọa độ đường cong triết giảm mưa gian trong khu vực nghiên cứu.  
phụ thuộc vào vùng mưa, thời đoạn mưa, thời  
o Nghiên cứu phân tích điều kiện mặt đệm  
gian tập trung dòng chảy, trong đó thời tập trung của khu vực Đông Bắc bao gồm nghiên cứu  
dòng chảy phụ thuộc vào điều kiện của lưu vực; phân tích các đặc trưng hình thái của tiểu lưu  
bảng tra này cũng được xây dựng từ lâu trong vực thoát nước qua cầu, nghiên cứu xây dựng  
điều kiện hạn chế về số liệu, chuỗi số liệu để xây bản đồ chỉ số CN, bản đồ hệ số dòng chảy C,  
dựng ngắn dẫn tính chính xác không đảm bảo.  
bản đồ hệ số nhám Manning và các bảng tra phụ  
- Việc tra hệ số nhám sườn dốc (n) (phụ trợ, kỹ thuật Viễn thám và mô hình phân tích  
thuộc vào hiện trạng sử dụng đất, tỷ lệ cây cỏ); không gian trong GIS được sử dụng để tận dụng  
Tra hệ số nhám lòng sông (phụ thuộc vào đặc ưu điểm của dữ liệu không gian và khả năng cập  
điểm của lòng sông); Tra hệ số triết giảm do ảnh nhật nhanh những dữ liệu này khi áp dụng thực  
hưởng của ao hồ (diện tích ao hồ đầm lầy). Các tế. Sơ đồ tiếp cận được thể hiện trong hình 2.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
81  
Lựa chọn phương pháp  
- Mô hình quan hệ  
- SCS-CN  
- Hồi quy  
Nghiên cứu điều kiện mặt đệm  
Nghiên cứu đặc trưng mưa  
- Biến động theo  
không gian: hệ số  
CV  
- Tính mưa thiết kế:  
+ Cường độ mưa  
(IDF)  
+ Đường cong lũy  
tích 24h  
Xây dựng và  
phân tích lưu  
vực và đặc  
Xây dựng  
bản đồ  
chỉ số CN  
Xây dựng  
bản đồ hệ  
số dòng  
chảy C  
Xây dựng  
bản đồ hệ  
số nhám  
- Biến động theo  
thời gian: Mann  
Kendall và Sen  
trưng lưu vực  
Manning n  
Tính toán thử nghiệm cho công trình cầu  
Đề xuất áp dụng phương pháp phù hợp cho khu vực nghiên cứu  
Hình 2. Sơ đồ tiếp cận và phương pháp nghiên cứu  
Việc chuyển đổi mưa ngày thành thời đoạn  
3.1.1 Xây dựng cơ sở dữ liệu mưa  
Mưa là đặc trưng quan trọng quyết định sự ngắn là rất cần thiết trong tính lũ thiết kế cho  
hình thành dòng chảy trên lưu vực. Ở Việt Nam, công trình cầu đường (Gupta, V.K. and  
vùng mưa phân trong TCVN 9845:2013 rất rộng Waymire, E, 1990) và xây dựng đường cong  
lớn và khó xác định. Vùng núi phía Bắc và IDF theo phương pháp thống kê xác suất. Do  
Đông Bắc có các công trình thoát nước nằm trên hàm phân phối Gumbel được ứng dụng trên  
địa hình có độ dốc lớn, lượng mưa lớn, thời gian toàn thế giới để tính cho giá trị cực hạn (lũ, kiệt)  
tập trung dòng chảy ngắn, kết hợp với các yếu nên nghiên cứu lựa chọn phân phối Gumbel  
tố dễ hình thành lũ quét dẫn đến chỉ vài giờ mưa (GEV) để xây dựng bộ đường cong IDF cho  
cũng đủ ngập và phá hủy rất nhiều công trình vùng nghiên cứu. Kết quả xây dựng bộ đường  
giao thông.  
1) Xây dựng đường cong IDF:  
cong IDF cho hai trạm Lạng Sơn và Đình Lập  
được thể hiện như hình 3.  
Hình 3. Bộ đường cong IDF và đường cong lũy tích trạm Đình Lập  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
82  
Kết quả xây dựng bộ đường cong IDF cho cho khu vực nghiên cứu như hình 4.  
các tiểu vùng khác nhau trên khu vực nghiên  
cứu là cơ sở để phân vùng và đánh giá sự thay  
đổi của cường độ mưa theo thời gian. Theo đó,  
cường độ mưa là hàm triết giảm theo thời gian  
mưa (thời gian ngắn, cường độ càng lớn).  
2) Xây dựng đường cong tích lũy mưa 24h  
Đường cong lũy tích mưa 24h chính là biểu  
đồ mưa thiết kế được xây dựng cho các tiểu  
vùng khác nhau trong khu vực nghiên cứu dùng  
để thiết kế thoát nước đô thị hoặc các công trình  
thoát nước trên đường giao thông (V.T. Chow,  
et al 1988). Để tiến hành xây dựng đường cong  
tích lũy mưa 24h, nghiên cứu tiến hành chọn các  
trận mưa bất lợi, thuộc hai nhóm: nhóm có  
Hình 4. Bản đồ chỉ số CN tỉnh Bắc Kạn  
và Lạng Sơn  
Kết quả xây dựng bản đồ chỉ số CN cho thấy  
lượng mưa X>100mm và nhóm có lượng mưa ở khu vực nghiên cứu thuộc vùng đồi núi, tỷ lệ  
X<100mm, xây dựng đường cong lũy tích mưa, rừng chỉ chiếm hơn 50% diện tích của 2 tỉnh  
lấy đường bao để xây dựng ra hai dạng đường Bắc Kạn và Lạng Sơn, chỉ số CN chiếm giá trị  
của mỗi trạm đó là đường I và đường II. Kết quả phần lớn từ 70-77. Giá trị CN thường biến đổi  
minh họa như hình 3.  
từ 30 đến 100; giá trị CN càng cao thì khả năng  
thấm càng giảm hay khả năng sinh dòng chảy  
3.1.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu mặt đệm  
1) Xây dựng bản đồ chỉ số CN khu vực mặt (lũ) càng cao. Từ đây có thể thấy vùng  
nghiên cứu nghiên cứu là vùng có khả năng sinh dòng chảy  
Đặc trưng thấm là đại lượng quan trọng thứ lũ từ mưa ở mức trung bình cao.  
hai sau mưa trong tính dòng chảy lũ trên lưu vực. 2) Xây dựng bản đồ hệ số dòng chảy C khu  
Để tính thấm nghiên cứu sử dụng phương pháp vực nghiên cứu  
SCS-CN của Cục bảo vệ thổ nhưỡng Hoa Kỳ  
Bản đồ số hệ số dòng chảy C xây dựng cho  
(SCS, 1972); (SCS, 1996), là phương pháp thực khu vực nghiên cứu dùng để tính lưu lượng thiết  
nghiệm được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế kế theo phương pháp mô hình quan hệ (Rational  
giới. Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng Method – Qmax = CIA/3,6). Hệ số C phụ thuộc  
được bản đồ chỉ số CN (phụ thuộc vào loại đất, vào loại đất (nhóm đất), độ dốc lưu vực và loại  
lượng mưa và độ ẩm của đất). Nghiên cứu đã tiến thảm phủ. Với mỗi loại thảm phủ cho phép tính  
hành thu thập bản đồ đất và bản đồ hiện trạng sử được hệ số dòng chảy Ci cho các lưu vực con,  
dụng đất thuộc hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn, Ctb cho toàn lưu vực. Kết quả xây dựng bản đồ  
ứng dụng thuộc tính phân tích không gian của hệ số dòng chảy C cho khu vực nghiên cứu  
phần mềm ArcGIS xây dựng bản đồ chỉ số CN được thể hiện ở hình 5.  
Hình 5. Bản đồ hệ số dòng chảy và hệ số nhám tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
83  
3) Xây dựng bản đồ hệ số nhám cho khu vực điểm là loại đất, thảm phủ và lưu vực đơn giản  
nghiên cứu  
(thường là một loại đất và một vài loại thảm  
Hệ số nhám (Manning) được dùng để tính phủ) có thể tính toán nhanh được lưu lượng lũ  
thời gian tập trung dòng chảy trên lưu vực. Thực thiết kế;  
tế, để xác định hệ nhám n của lưu vực hay sườn  
- Nhóm thứ hai: các công trình có diện tích  
dốc rất khó, do nó còn phụ thuộc vào hiện trạng lưu vực khống chế khoảng 5-30 km2, chiếm đến  
sử dụng đất. Trong TCVN 9845:2013 có bảng 40% số lượng công trình thoát nước trên đường.  
tra hệ số nhám n, tuy nhiên, do trên một lưu vực Nhóm này phức tạp hơn vì có nhiều loại đất và  
có rất nhiều loại hình sử dụng đất, việc đưa ra thảm phủ.  
một hệ số nhám sẽ khó đặc trưng cho cả lưu  
- Nhóm thứ ba: Các công trình còn lại với  
vực. Để có thể xác định được thời gian tập trung diện tích lớn hơn 30 km2 chiếm số lượng ít. Các  
dòng chảy đoạn chảy tràn và chảy trên sườn lưu vực này có điều kiện về địa chất thảm phủ  
dốc, nghiên cứu tiến hành xây dựng bản đồ hệ phức tạp hơn cần chia thành nhiều lưu vực con  
số nhám Manning dựa trên bản đồ hiện trạng sử để tính các đặc trưng cho phù hợp, mặt khác kết  
dụng đất của khu vực nghiên cứu và được cập hợp các phương pháp khác nhau để tính toán  
nhật thêm từ dữ liệu viễn thám và số liệu điều kiểm nghiệm.  
tra thực địa. Kết quả xây dựng bản đồ hệ số n  
được trình bày trong hình 5.  
3.2.2 Kiến nghị phương pháp tính lũ thiết kế  
Nghiên cứu đã tiến hành tính toán thử  
Các kết quả dữ liệu thu được từ mưa và mặt nghiệm cho trên 40 công trình cầu thuộc khu  
đệm sẽ được sử dụng cho việc tính toán lũ thiết vực nghiên cứu theo 3 phương pháp đề xuất  
kế cho các công trình giao thông khu vực trên. Các kết quả tính toán cho thấy:  
nghiên cứu.  
3.2 Kiến nghị phương pháp tính lũ thiết kế  
khu vực nghiên cứu  
3.2.1 Cơ sở phân nhóm công trình thoát  
nước trong tính lũ thiết kế  
Đối với nhóm có diện tích khống chế bé  
(A<5km2) thường có ít loại đất và hiện trạng sử  
dụng đất không nhiều nên việc tính các đặc  
trưng, các thông số dễ dàng, thời gian tập trung  
dòng chảy (D<60 phút) phù hợp với tính theo  
Để có thể phân chia các nhóm phương pháp phương pháp mô hình quan hệ (Rational  
tính nghiên cứu căn cứ vào một số nội dung sau: Method–Qmaxp = CIpA/3,6). Các công trình loại  
+ Căn cứ vào điều kiện áp dụng: Phương pháp này có số lượng lớn nên cần tính nhanh và đơn  
mô hình quan hệ được áp dụng khi diện tích lưu giản. Các thông số được xác định sẵn bởi cường  
vực A< 65 km2; Phương pháp SCS có giới hạn độ Ip (được tra trên bộ đường cong IDF đã được  
từ 2-500 km2; Phương pháp hồi quy vùng sẽ tùy xây dựng cho các khu vực khác nhau trong vùng  
vào mức độ chi tiết số liệu đầu vào để xây dựng nghiên cứu); C (hệ số dòng chảy đã được thành  
phương trình; + Căn cứ vào kết quả thu thập dữ lập theo bản độ dốc và từng loại đất). A (được  
liệu công trình (vị trí, tuyến, số lượng); + Căn tính rất đơn giản từ ứng dụng của GIS từ  
cứ vào các thông số tính toán (nhóm đất, loại DEM90/30m).  
thảm phủ, hệ số CN, hệ số dòng chảy và đặc  
Đối với nhóm có diện tích khống chế  
trưng nhám, độ dốc lưu vực), cho thấy cỡ lưu trung bình (A=5-30 km2) tính theo Mô hình  
vực tương ứng với mức độ phức tạp trong tính Quan hệ cũng cho kết quả tốt và các bước rất  
các đặc trưng về mưa và mặt đệm.  
tiện dụng, tuy nhiên có thể dùng thêm phương  
Từ các căn cứ trên nghiên cứu tiến hành phân pháp SCS để xây dựng quá trình lũ trên lưu vực;  
chia nhóm công trình tính lũ thiết kế như sau:  
Đối với nhóm công trình có diện tích  
- Nhóm thứ nhất: các công trình có diện tích khống chế từ 30-100 km2, tính lũ bằng phương  
lưu vực khống chế bé (A<5km2) bao gồm các pháp SCS-CN cho kết quả tốt, có thể sử dụng  
cống, cầu nhỏ chiếm khoảng 50% số lượng công thêm phương pháp hồi quy vùng trong trường  
trình thoát nước trên đường. Nhóm này có đặc hợp cần tính nhanh lưu lượng thiết kế (các  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
84  
phương trình hồi quy vùng cũng đã được nghiên vực thoát nước có diện tích nhỏ hơn 400 km2 vì  
cứu xây dựng cho các khu vực khác nhau thuộc với diện tích lớn hơn thì mức độ chính xác  
vùng nghiên cứu).  
không cao và thường dùng trong bài toán quy  
Đối với nhóm công trình có diện tích lớn hoạch.  
(A>100 km2) cần tính bằng SCS và phương  
Phương pháp tính toán lũ thiết kế cho các  
trình hồi quy vùng. Tuy nhiên phương trình hồi công trình giao thông khu vực nghiên cứu có thể  
quy vùng cũng chỉ áp dụng được cho các lưu được tóm tắt và tổng kết như trong bảng 1.  
Bảng 1. Kiến nghị phương pháp tính lũ cho công trình giao thông  
TT  
1
Công trình  
Diện tích lưu vực Công thức  
(km2)  
Các nội dung thực hiện  
- Tra bản đồ C  
Cống thoát  
nước nhỏ  
- Tra diện tích A từ bản đồ lưu vực;  
- Tính Tc từ đặc trưng lưu vực  
- Tra I từ bộ đường cong IDF  
A<5  
CIA  
SCS  
- Tra CN từ bản đồ CN đã xây dựng;  
- Tra diện tích A từ bản đồ lưu vực  
- Tính Tc từ các đặc trưng lưu vực  
- Tính C theo trọng số  
Cầu nhỏ và  
cống  
2
5 <A< 30  
CIA  
SCS  
- Tra I tính IDF của trạm  
- Tc tính từ các đặc trưng lưu vực  
- Tra CN từ bản đồ CN đã xây dựng;  
- Tra diện tích A từ bản đồ lưu vực  
- Tính Tc từ các đặc trưng lưu vực  
- Tra CN từ bản đồ CN đã xây dựng;  
- Tra diện tích A từ bản đồ lưu vực  
- Tính Tc từ các đặc trưng lưu vực  
- Tra A từ bản đồ lưu vực (chỉ áp dụng cho A  
<400)  
3
4
Cầu trung  
Cầu lớn  
30<A<100  
A>100  
SCS  
Q = f(A)  
trình hồi quy cho các khu vực khác nhau trong  
4. KẾT LUẬN  
Thông qua thử nghiệm tính toán cho nhiều vùng nghiên cứu. Bộ dữ liệu này sẽ giúp cho  
công trình cầu và cống trong khu vực Đông Bắc, việc tính toán lũ thiết kế được nhanh chóng,  
bài báo đã đề xuất được phương pháp tính lũ thuận tiện.  
thiết kế phụ hợp cho các đối tượng công trình  
Để tiếp tục nâng cao độ chính xác của việc  
khác nhau. Bên cạnh đó nghiên cứu đã xây dựng tính toán, nghiên cứu cần tiếp tục cập nhập dữ  
được bộ cơ sở dữ liệu bao gồm: các bản đồ (chỉ liệu, xây dựng phần mềm tính tính toán lũ thiết  
số CN, hệ số dòng chảy, hệ số Cv, cường độ kế, cho phép áp dụng các kỹ thuật và công nghệ  
mưa, đặc trưng hình thái), biểu đồ (các họ tiên tiến, đặc biệt khi tính toán chi tiết cho công  
đường cong IDF), các bảng tra, các phương trình lớn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Chow, V, (1964), Handbook of Applied Hydrology.  
Bộ GTVT,(2013, Tiêu chuẩn tính toán các đặc trưng dòng chảy lũ, TCVN 9845:2013.  
Gupta, V.K. and Waymire, E, (1990), Multiscaling properties of spatial rainfall and river flow  
distributions. Journal of Geophysical Research, 95 (D3), pp.  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
85  
Bộ Thủy Lợi, (1977), Quy phạm tính toán các đặc trưng thiết kế. QP.TL.C-6-77. Hà Nội.  
Richard H. McCuen, et al (2002), Highway Hydrology. National Highway Institute.  
SCS, (1972), Soil Conservation Service National Engineering Handbook. Section 4, Hydrology,  
U.S. Department of Agriculture, Soil Conservation Service, Washington, D.C.  
SCS, (1996), Urban hydrology for small watersheds, Tech Release No.Soil Conservation Service.  
U.S.D.A., Washington D.C.  
V.T. Chow, et al (1988), Applied Hydrology. Hydrology-572 pages.  
Abstract:  
RESEARCH FOR RECOMMENDATION OF DESIGNED FLOOD CALCULATION  
METHODS FOR TRANSPORATION IN THE NORTH – EAST REGION OF VIETNAM  
Methods for calculation of designed flood for transportation in Vietnam are based on criterias and  
standard as results from Soviet Union studies with supporting curves and tables developed from  
limited data in Vietnam; thus culculated results may have unexpected bias and are based on  
engineers‘ experiences. This article reviews and summarizes some current limitations of these  
methods and recommend suitable methods for calculation of designed flood for transportation in  
the North – East Region of Vietnam.  
Keywords: North – East, Transportion, Designed Flood, Methods.  
BBT nhận bài: 11/5/2016  
Phản biện xong: 07/6/2016  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THỦY LỢI VÀ MÔI TRƯỜNG - SỐ 53 (6/2016)  
86  
pdf 7 trang yennguyen 14080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đề xuất phương pháp tính lũ thiết kế công trình giao thông vùng Đông Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_de_xuat_phuong_phap_tinh_lu_thiet_ke_cong_trinh_g.pdf