Hiện trạng quản lý và sử dụng rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG RỪNG NGẬP MẶN
VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
NGUYỄN ĐÌNH ĐÁP,
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Tóm tắt: Vùng ven biển Kim Sơn với hệ sinh thái đa dạng, là bộ phận quan trọng của vùng đệm, vùng
chuyển tiếp của Khu dự trữ sinh quyển thế giới đất ngập nước ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng.
Ngoài ra, rừng ngập mặn Kim Sơn có vai trò quan trọng trong giảm thiểu rủi ro do thiên tai, cải thiện
sinh kế cho cộng đồng. Tuy nhiên, rừng ngập mặn Kim Sơn chịu nhiều tác động của phát triển kinh
tế - xã hội như: chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng ngập mặn để mở rộng diện tích nuôi trồng
thủy sản, khai thác thủy sản thiếu bền vững, ô nhiễm môi trường ven biển... Để công tác bảo vệ rừng
ngập mặn đạt hiệu quả cần sự thay đổi chính sách về quy hoạch sử dụng đất; nâng cao nhận thức và
sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên; tăng cường năng lực thực thi công tác quản lý
rừng ngập mặn; quản lý chặt chẽ các vấn đề môi trường trong hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Từ khóa: rừng ngập mặn, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, dịch vụ hệ sinh thái, Kim Sơn - Ninh
Bình
THE MANAGEMENT AND USE OF MANGROVE FORESTS
IN KIM SON DISTRICT, NINH BINH PROVINCE
Abstract: Kim Son coastal area has diverse ecosystems which are an important buffer and transition
zone for the World Biosphere Reserve in the inter-provincial coastal wetlands of the Red River Delta.
The Kim Son mangrove forest plays an important role in reducing risks caused by natural disasters
and improves the livelihoods of local communities. However, the Kim Son mangrove forest is subject
to many impacts of socio-economic development such as the conversion of the mangroves to expand
aquaculture areas, unsustainable fishing, coastal environmental pollution, etc. An effective protection
of mangrove forests would require a change in land use policies; raising awareness of, and
participation by, the local communities in resource protection; strengthening the capacity and
implementation of mangrove management, and strict management of the environmental impact of
aquaculture activities.
Keywords: mangroves, biodiversity, climate change, ecosystem services, Kim Son - Ninh Binh
1. Đặt vấn đề
thái, kiểm soát xói lở bờ biển, điều tiết nước, ổn
định đất và hấp thụ các bon [2].
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quan trọng có
năng suất sinh học cao ở vùng cửa sông ven biển
nhiệt đới, như là “lá phổi xanh” quan trọng để giữ
gìn môi trường sinh thái. Cũng như các hệ sinh
thái khác, rừng ngập mặn cung cấp nhiều sản
phẩm sử dụng trực tiếp cho sinh kế của người dân
địa phương như cây thuốc, gỗ, củi và thủy hải sản
[1]. Rừng ngập mặn cung cấp các dịch vụ hệ sinh
Việt Nam được đánh giá là một trong những
quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí
hậu, đặc biệt là các khu vực trũng thấp, ven biển.
Mặc dù chỉ chiếm 1,5% tổng diện tích rừng của
Việt Nam (14,4 triệu ha), nhưng rừng ngập mặn
đóng vai trò rất quan trọng trong bảo tồn đa dạng
sinh học, bảo vệ bờ biển, đặc biệt trong giảm nhẹ
43
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
các tác động của biến đổi khí hậu [3]. Trong Kế
trong “Đóng góp do quốc gia tự quyết định
(NDC) của Việt Nam” [3].
hoạch quốc gia thích ứng với Biến đổi khí hậu
giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
(Quyết định số 1055/QĐ-TTg này 20/7/2021),
Chính phủ nhấn mạnh vai trò quan trọng của
rừng ngập mặn thông qua các chính sách, với
cam kết bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn
theo hướng bền vững, đặc biệt tại các vùng ven
biển. Quản lý và phục hồi rừng ngập mặn cũng
được coi là một giải pháp quan trọng được nêu
Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn
được hình thành trên vùng châu thổ cửa sông
Đáy, sông Càn. Nơi đây và toàn bộ vùng đất phía
Nam vĩ tuyến 20 của tỉnh Ninh Bình được
UNESCO công nhận là vùng đệm và vùng
chuyển tiếp của Khu dự trữ sinh quyển châu thổ
sông Hồng với hệ động thực vật đa dạng, độc
đáo, điển hình của rừng ngập mặn [4].
Hình 1. Sơ đồ rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn [5]
44
Nguyễn Đình Đáp, Nguyễn Thị Thu Hà - Hiện trạng quản lý và sử dụng …
Giá trị nổi bật của khu vực được thể hiện ở
tính đa dạng sinh học cao, các hoạt động kiến
tạo địa chất diễn ra mạnh mẽ tạo thành môi
trường sống của các loài động thực vật. Trong
đó có nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách
đỏ thế giới như: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ
thìa, cò trắng bắc... Sinh cảnh đặc sắc nơi đây là
những cánh rừng ngập mặn, đầm lầy, bãi bồi ven
biển và cửa sông. Những cánh rừng này được ví
như bức tường xanh bảo vệ đê biển, bảo vệ
người dân trước những tác động của nước biển
dâng và cả thảm hoạ sóng thần nếu xảy ra.
Tuy nhiên, hiện nay do tác động của các hoạt
động phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí
hậu, diện tích rừng ngập mặn bị xâm phạm và
đe dọa nghiêm trọng. Trong đó, các hoạt động
ảnh hưởng đến diện tích rừng ngập mặn như
khai phá đất ven biển; chặt phá rừng phòng hộ;
chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang đất ở, đất
sản xuất nông nghiệp; ô nhiễm môi trường do
hoạt động sản xuất và sinh hoạt; phá rừng làm
đầm nuôi trồng thủy sản... [6]. Trước tình trạng
trên, đòi hòi phải có sự gắn kết giữa hệ sinh thái
rừng ngập mặn với phát triển bền vững nhằm
duy trì, phát huy được những chức năng vốn có
của rừng ngập mặn.
3.1. Hiện trạng đa dạng sinh học rừng ngập
mặn Kim Sơn
Như đã đề cập ở trên, giá trị nổi bật của rừng
ngập mặn Kim Sơn được thể hiện ở tính đa dạng
sinh học cao. Theo Báo cáo của Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Ninh Bình, khu vực rừng
ngập mặn Kim Sơn với diện tích trải dài, bãi bồi,
cửa sông là nơi hội tụ của hơn 500 loài động,
thực vật thủy sinh, hơn 50 loài cây ngập mặn,
200 loài chim, trong đó có nhiều loài quý hiếm
đã được ghi vào sách đỏ thế giới [8, 9].
Cây bần chua và cây trang được đánh giá là
cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa vùng bãi
bồi ven biển Kim Sơn. Trong đó, bần chua
thường dùng làm bột giấy, củi, hoa nuôi ong,
quả dùng nấu canh chua, hệ rễ phát triển bám
chắc vào bùn. Vì vậy, cây được trồng ở những
bãi bồi mới hình thành để ổn định đất, chắn
sóng, bảo vệ đê sông, đê biển. Cây trang thường
dùng làm củi, làm các dụng cụ sản xuất muối,
hoa nuôi ong lấy mật. Trụ mầm và vỏ cây có thể
khai thác tannin làm chất nhuộm công nghiệp, lá
cây làm thức ăn chăn nuôi gia súc, ủ phân xanh
giầu đạm.
Ngoài ra, còn có sự xuất hiện của các loài như
sậy (Phragmites australis), cỏ ngạn, rau muống
biển (Ipomoea pes-caprae), cỏ sước, cói
(Cyperaceae)...
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên
cứu
Các dữ liệu nghiên cứu là một phần kết quả
của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
“Lượng giá một số giá trị kinh tế của rừng ngập
mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh
Bình” do Viện Địa lí nhân văn chủ trì thực hiện.
Trong khuôn khổ bài viết này, phương pháp
chủ yếu được sử dụng là phương pháp tổng hợp
và phân tích tư liệu thứ cấp gồm có tài liệu về
tình hình kinh tế - xã hội, quản lý và khai thác
rừng ngập mặn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Thực vật nổi cũng rất đa dạng ở vùng cửa
sông Càn. Số liệu điều tra của Trung tâm Sinh
thái học và Tài nguyên sinh vật cho thấy có 44
giống
thuộc
4
ngành:
tảo
Khuê
(Bacilariophyta); tảo Giáp (Pyrrophyta); tảo
Lam (Cyanophyta) và tảo Lục (Chlorophyta),
đặc biệt những thực vật ưa mặn xuất hiện nhiều
ở cửa sông Càn [5].
Trong rừng ngập mặn Kim Sơn có 9 loài
lưỡng cư và 21 loài bò sát, xuất hiện một số loài
45
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
vạc (Nycticorax), cò thìa (Platalea), mòng két
được kiến nghị công nhận là khu Ramsar do đáp
ứng các tiêu chí: tập trung nhiều kiểu đất ngập
nước còn khá nguyên trạng đặc trưng cho vùng
cửa sông ven biển Bắc Bộ, là nơi tập trung chim
nước với số lượng gần 28.000 cá thể [10].
3.2. Hiện trạng quản lý, sử dụng và nguyên
nhân gây suy giảm rừng ngập mặn Kim Sơn
Trong giai đoạn 1995 - 2020, Kim Sơn đã
thực hiện rất nhiều chương trình, dự án trồng
rừng ngập mặn như: Dự án “Trồng rừng ngập
mặn - giảm thiểu rủi ro thảm họa” do Hội Chữ
thập đỏ tỉnh Ninh Bình thực hiện; dự án “Trồng
rừng ngập mặn ứng phó biến đổi khí hậu và
chống xói lở bờ biển” do Sở Tài nguyên và Môi
trường thực hiện; dự án “661 trồng mới 5 triệu
ha rừng” do Ban quản lý rừng phòng hộ Kim
Sơn, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh thực hiện, dự án
trồng rừng thay thế từ kinh phí của Quỹ bảo vệ
phát triển rừng tỉnh Ninh Bình [13].
(Anas crecca)...
Có một số loài động vật quý hiếm cần được
bảo tồn như sâm cầm (Fulica atra), diệc xám
(Ardea cinerea rectirostris Gould), bìm bịp lớn
(centropus sinensis intermedius)...
Động vật thuỷ sinh ở khu vực này có nhóm
Chân mái chèo (Copepoda), nhóm Râu ngành
(Cladocera), nhóm Lưỡng túc (Ampipoda),
Trùng bánh xe (Potatoria), Tôm bột và Cá bột.
Trong đó có 2 nhóm Copepoda và Cladocera
xuất hiện nhiều nhưng Copepoda là nhóm quan
trọng nhất vì có số lượng cao và có ưu thế về khả
năng thích nghi theo điều kiện thời tiết.
Trong rừng ngập mặn có nhiều loài ong
trong đó có các loài ong lấy mật (Apis). Ngoài
ra, vùng rừng ngập mặn có nhiều loài thuỷ sinh
vật như tôm, cua, ngao... có giá trị kinh tế, tạo
điều kiện tiềm năng cho các hoạt động ngư
nghiệp.
Đến năm 2019, tổng diện tích rừng ngập mặn
Kim Sơn là 510,81 ha, trong đó: vị trí từ đê Bình
Minh 2 đến đê Bình Minh 3 là 205 ha; ngoài đê
Bình Minh 3 là 305,81 ha… do Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý rừng
phòng hộ huyện Kim Sơn, Hội Chữ thập đỏ tỉnh
và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh quản lý đều phát
triển tốt, phát huy tác dụng trong việc chắn sóng,
chắn gió [13]. Trong đó, Hội Chữ thập đỏ tỉnh
Ninh Bình đã trồng và quản lý khoảng 250 ha
diện tích rừng trang, rừng bần, sú, vẹt dưới sự
hỗ trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản [14].
Trong những năm gần đây được sự quan tâm
của các cấp các ngành, các tổ chức phi chính phủ
đầu tư cho việc phát triển rừng, hàng năm huyện
Kim Sơn tiến hành trồng từ 100 - 200 ha rừng,
nhưng diện tích đất chưa có rừng vẫn chiếm tỉ lệ
cao [6, 7].
Rừng ngập mặn có tác dụng bồi cao nền đất,
hình thành nên một bức tường xanh vững chắc
bảo vệ đê biển. Nhờ đó qua các mùa mưa bão,
khi có triều cường, các đoạn đê biển có rừng
ngập mặn che chắn không bị sạt lở; chân đê còn
được bồi tụ thêm đất giúp cho đê ngày càng
vững chắc, giảm đáng kể chi phí tu bổ đê điều
hàng năm, bảo vệ tốt cuộc sống của người dân
vùng thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai.
Như vậy, những cánh rừng ngập mặn ven
biển vừa có tác dụng giảm thiểu rủi ro do thiên
tai, đồng thời cải thiện sinh kế cho cộng đồng.
Với vai trò quan trọng trong bảo vệ thiên
nhiên và đa dạng sinh học, rừng ngập mặn Kim
Sơn được UNESCO công nhận là Khu dự trữ
sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng. Ngoài
ra, khu vực Bãi ngang Kim Sơn được Tổ chức
BirdLife đánh giá là vùng đất ngập nước có tầm
quan trọng ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ,
Nhìn chung công tác quản lý, bảo vệ và sử
dụng rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn trong
46
Nguyễn Đình Đáp, Nguyễn Thị Thu Hà - Hiện trạng quản lý và sử dụng …
những năm gần đây được thực hiện tốt, góp phần
vào việc phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương, đặc biệt là tạo được môi trường sinh
thái, điều hòa nguồn nước, tăng khả năng bồi tụ
và giảm thiểu đáng kể rủi ro do thiên tai và biến
đổi khí hậu [4].
cố tình xây dựng và lấn chiếm trái phép diện tích
rừng ngập mặn...
(2) Khai thác tài nguyên rừng ngập mặn thiếu
bền vững
Vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn nằm kẹp giữa
hai cửa sông Đáy và sông Càn, hàng năm được
bồi đắp phù sa tạo nên vùng biển cạn có nhiều
loại hải sản có giá trị kinh tế cao, thu hút một
lượng lớn người dân các xã ven biển đến khai
thác thuỷ hải sản tự nhiên và đào đầm thuê kiếm
sống [11].
Tuy nhiên, rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn
cũng đang chịu những tác động nghiêm trọng từ
các hoạt động của con người. Nhiều người dân
đã nhận thức được vai trò của rừng ngập mặn
trong vấn đề bảo vệ môi trường, nhưng do
những lợi ích kinh tế trước mắt mà người dân
vẫn có những tác động tiêu cực lên hệ sinh thái
rừng ngập mặn, gây những hậu quả không nhỏ.
Nguyên nhân gây suy giảm rừng ngập mặn
Kim Sơn
Người dân đã khai thác thuỷ hải sản bằng các
hình thức khác nhau như cắm đăng, mò cua,
đánh bắt con dắt bằng lưới thép gắn trên thuyền
có động cơ lớn... tạo nên vùng kinh tế biển sôi
động và phức tạp, luôn là nguy cơ đe doạ đến sự
phát triển và sinh trưởng của những khu vực
rừng mới trồng, trong quá trình đánh bắt người
dân đã làm gãy thân cây mới trồng dẫn đến chết
hàng loạt. Đặc biệt là các diện tích rừng giáp
ranh với các đầm nuôi tôm thường xuyên là mục
tiêu chặt phá, lấn chiếm, di dời cột mốc bảo vệ
khi có thời cơ của các chủ đầm [6].
(1) Vấn đề quản lý và chuyển đổi mục đích sử
dụng đất rừng ngập mặn
Do tác động của nền kinh tế thị trường tới
vùng kinh tế biển giàu tiềm năng như ven biển
Kim Sơn đã ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích giữa
nuôi trồng thuỷ sản và phát triển rừng ngập mặn.
Từ những năm 2000 khi phong trào nuôi trồng
thuỷ sản phát triển không có kế hoạch, rừng
ngập mặn ven biển Kim Sơn bị nhiều hộ dân
chặt phá rừng làm đầm nuôi tôm. Từ chỗ toàn
vùng có gần 600 ha rừng, sau thời gian ngắn chỉ
còn hơn 100ha là khu rừng được giao cho Hội
chữ thập đỏ quản lý nghiêm ngặt [1, 12].
Theo Báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Kim Sơn, huyện xác định được 96
trường hợp vi phạm ở vùng bãi bồi. Phổ biến là
lấn chiếm đất năm 2019, làm biến dạng mặt
bằng khu vực bãi bồi ven biển từ đê Bình Minh
II đến Cồn Nổi [8]. Việc tùy tiện xây dựng nhà
ở, cầu cống ngăn cản dòng chảy, xây công trình
nuôi trồng thủy sản ở vùng bãi bồi ven biển
huyện Kim Sơn đang diễn biến rất phức tạp,
nhiều chủ đầm nuôi giống hàu, ngao rất lớn đã
Các hoạt động đánh bắt như dùng xung điện
hay các lưới vây mắt nhỏ... mang tính chất huỷ
diệt làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn
kiệt, đặc biệt về nguồn giống. Trong vùng rừng
ngập mặn còn có hiện tượng người dân tiến hành
săn bắn trái phép, giăng lưới bẫy chim... làm suy
giảm đa dạng sinh học, đặc biệt nguy hiểm đối
với những loài động vật quý hiếm đang cần được
bảo tồn. Ngoài ra, trong vùng vẫn có một số
người dân thường xuyên đi chặt trộm cây ngập
mặn làm củi cũng làm mất môi trường sống của
các loài động vật trong rừng.
Do vậy các hình thức này cần phải được ngăn
chặn và phải có các chính sách hỗ trợ, đầu tư để
phát triển các loại hình kinh tế phù hợp với địa
47
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
phương và đảm bảo bền vững trong bảo tồn phát
Không ít hộ nuôi trồng thủy sản ở ngoài vùng
quy hoạch dẫn đến nhiều hệ lụy như: ảnh hưởng
việc cấp thoát nước của các ao nuôi tôm công
nghiệp, công nghiệp công nghệ cao; không tuân
thủ quy định về sử dụng đất, môi trường, an toàn
dịch bệnh...
triển và sử dụng tài nguyên ven biển.
(3) Năng lực quản lý và bảo vệ rừng ngập
mặn còn hạn chế
Trong công tác quản lý, còn một số hạn chế
và khó khăn nhất định như: Sự phối hợp giữa
các cấp, các ngành trong việc quản lý và lập kế
hoạch sử dụng đất cũng như nguồn tài nguyên
thiên nhiên cho vùng ven biển, bãi bồi chưa chặt
chẽ, dẫn đến sự chồng chéo trong công tác quản
lý, sử dụng và phát triển; một số cán bộ chính
quyền địa phương chưa hiểu rõ về vai trò của hệ
sinh thái rừng ngập mặn do đó các kế hoạch sản
xuất mới chú ý tới lợi ích trước mắt mà chưa chú
ý đến những tác động xấu, lâu dài tới môi trường
và tài nguyên khi không còn rừng [8].
3.3. Kiến nghị một số giải pháp quản lý, bảo
vệ rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn
Thời gian tới, công tác quản lý, bảo vệ và
phát triển rừng ngập mặn cần được đẩy mạnh
hơn với các nhiệm vụ như: Tiếp tục tuyên truyền
phổ biến pháp luật lâm nghiệp và các quy định
của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ
rừng tới các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư
vùng ven biển có rừng ngập mặn, quản lý tốt hệ
sinh thái rừng ngập mặn dựa trên các quy hoạch
có tính pháp lý và khoa học, cương quyết ngăn
chặn các hoạt động phá rừng ngập mặn để nuôi
trồng thuỷ sản hoặc sử dụng vào các mục đích
khác [4]. Các giải pháp cụ thể:
Lực lượng bảo vệ rừng mỏng, năng lực hạn
chế, công cụ phục vụ cho công tác bảo vệ rừng
thiếu thốn, diện tích rừng trải dài... dẫn đến
nhiều khó khăn trong công tác quản lý, nhất là
trong trường hợp đối tượng vi phạm là người
ngoài xã, ngoài tỉnh thì khả năng ngăn chặn và
xử lý rất khó khăn [1].
1) Quy hoạch, quản lý hiệu quả đất rừng
ngập mặn
Việc bảo vệ rừng ngập mặn hiệu quả đòi hỏi
có sự thay đổi chính sách về quy hoạch sử dụng
đất nhằm giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của
mất rừng và suy thoái rừng. Phải coi đây là quy
hoạch liên ngành, cần tăng cường phối hợp liên
ngành trong quản lý, sử dụng và khôi phục phát
triển rừng ngập mặn của các tỉnh ven biển.
Tiến hành ngay việc rà soát và đánh giá lại
quy hoạch, xác định rõ lâm phận ổn định giữa
các xã, giữa các loại rừng, rà soát lại việc quản
lý và sử dụng đất lâm nghiệp giữa quy hoạch và
thực tế. Kiểm soát chặt chẽ các dự án có sử dụng
đất đã quy hoạch cho lâm nghiệp. Hạn chế tối đa
việc chuyển đổi rừng sang mục đích khác không
phải là lâm nghiệp. Kiên quyết đình chỉ, thu hồi
(4) Tác động môi trường do hoạt động nuôi
trồng thủy sản
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh
Ninh Bình [8], chất lượng nước ven biển có dấu
hiệu bị ô nhiễm, ô nhiễm nước biển ven bờ tại
khu vực Bình Minh - Kim Sơn chủ yếu do nước
sông Đáy, sông Càn.
Theo kết quả giám sát bảo vệ môi trường tại
Kim Sơn, hệ thống công trình ao nuôi của một
số hộ chưa bảo đảm yêu cầu kỹ thuật; việc thu
gom, xử lý chất thải trong khu sản xuất, khu
ương dưỡng giống chưa triệt để; môi trường bị
ô nhiễm; khả năng kiểm soát, ngăn chặn mầm
bệnh lây lan qua nguồn nước rất hạn chế [8].
48
Nguyễn Đình Đáp, Nguyễn Thị Thu Hà - Hiện trạng quản lý và sử dụng …
đất đối với các dự án chuyển đổi mục đích sử
dụng đất rừng có sai phạm hoặc có nguy cơ gây
thiệt hại lớn về rừng, môi trường sinh thái, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và
đời sống người dân vùng dự án.
chuyên ngành và liên ngành về đất và rừng ngập
mặn từ việc xây dựng đê điều, trồng và bảo vệ
rừng ngập mặn, nuôi trồng thuỷ sản...
Phối hợp liên ngành cần được tăng cường để
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Ngoài các
hỗ trợ và khuyến khích người dân và cộng đồng
tham gia phục hồi rừng ngập mặn, cần có các
chính sách hỗ trợ và khuyến khích phù hợp để
người dân tham gia đồng quản lý diện tích rừng
ngập mặn hiện có.
2) Nâng cao nhận thức và sự tham gia của
cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên
Thực tế cho thấy việc diện tích rừng bị suy
giảm về số lượng và chất lượng do một bộ phận
người dân không nhận thức được tầm quan trọng
của rừng ngập mặn. Vì vậy cần tuyên truyền cho
các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư vùng ven
biển có rừng ngập mặn về vai trò và giá trị của
hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng như tầm quan
trọng của việc quản lý, sử dụng bền vững rừng
ngập mặn vì lợi ích trước mắt và lâu dài.
Việc giới thiệu về sử dụng tài nguyên bền
vững và lên án các hành vi khai thác mang tính
tận diệt, thiếu bền vững phải trở thành một phần
trong các hoạt động giáo dục cộng đồng. Đồng
thời có các chế tài cụ thể cho từng thôn xóm
thông qua các hoạt động văn hoá hay các hương
ước, qui ước để mọi người có trách nhiệm bảo
vệ và sử dụng rừng ngập mặn một cách bền
vững. Thông qua các hoạt động truyền thông
nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò
của rừng ngập mặn.
4) Quản lý các vấn đề môi trường trong hoạt
động nuôi trồng thủy sản
Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý chất
thải, đặc biệt là chất thải từ hoạt động nuôi trồng
thủy sản; ngăn chặn các hành vi khai thác thủy
sản mang tính hủy diệt, các hành vi gây ô nhiễm
môi trường biển; đẩy mạnh phong trào làm sạch
môi trường, làm sạch biển, hạn chế sử dụng túi
nilon khó phân hủy.
Ngoài ra, cần xây dựng các mô hình kinh tế
kết hợp giữa quản lý, bảo vệ rừng và nuôi trồng
thủy sản; tạo sinh kế ổn định lâu dài cho người
dân sống ven rừng, áp dụng khoa học công nghệ
tiên tiến trong nuôi trồng thủy sản. Xây dựng
vườn ươm cây giống nhằm giảm giá thành sản
phẩm và giảm được các rủi ro khi trồng rừng
bằng quả, các chủ rừng có thêm thu nhập nhờ
vào bán cây giống để có thêm kinh phí bảo vệ
rừng.
Tăng cường sự tham gia của người dân và
cộng đồng địa phương trong bảo vệ và phát triển
rừng ngập mặn đảm bảo các điều kiện cần thiết
để thực hiện; ví dụ như các chính sách được thực
thi tốt, chia sẻ lợi ích minh bạch, việc ra quyết
định có cân nhắc đầy đủ sự tham gia của các bên
liên quan và áp dụng phương thức chi trả bằng
cả hiện vật và tiền mặt.
4. Kết luận
Rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn có vai trò
quan trọng trong bảo tồn thiên nhiên và đa dạng
sinh học, cải thiện sinh kế và ứng phó với biến
đổi khí hậu. Tuy nhiên, rừng ngập mặn ven biển
Kim Sơn đang chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực do
tác động của con người như chặt phá rừng,
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác thủy
sản và rừng ngập mặn mang tính tận diệt, ô
nhiễm môi trường...
3) Tăng cường năng lực thực thi công tác
quản lý
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ
quan đầu mối, phối hợp với các sở, ban ngành
liên quan (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế
hoạch và Đầu tư...) giải quyết những vấn đề
Trong công tác quản lý, vẫn còn một số hạn
chế trong việc lập kế hoạch sử dụng đất cũng
như tài nguyên thiên nhiên cho vùng ven biển,
49
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
nhận thức của cán bộ quản lý, chính quyền và
người dân về giá trị và các giải pháp bảo tồn
rừng ngập mặn còn yếu...
có các cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp để cộng
đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng ngập
mặn. Đồng thời cần ứng dụng các mô hình sinh
kế bền vững gắn với bảo vệ và phát triển rừng
nhằm đa dạng sinh kế cho cộng đồng địa phương
tạo điều kiện cho quản lý và sử dụng bền vững
rừng ngập mặn huyện Kim Sơn.
Để bảo vệ rừng ngập mặn hiệu quả, đòi hỏi
có sự thay đổi chính sách về quy hoạch sử dụng
đất, tăng cường sự phối hợp liên ngành để nâng
cao hiệu quả thực thi pháp luật. Bên cạnh đó cần
Bài báo này là sản phẩm của đề tài khoa học cấp cơ sở “Lượng giá một số giá trị kinh tế của rừng
ngập mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” do Viện Địa lí nhân văn chủ trì, ThS. Nguyễn
Thị Thu Hà làm chủ nhiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hoàng Trí (1999), Sinh thá i học rừng ngập mặn Việt Nam, Nhà xuất bản Nô ng Nghiệp, 1999.
2. Viện Chiến lược và Chí nh sá ch Tài nguyên và Môi trường (2017), Giới thiệu về lượng giá kinh tế dịch vụ hệ sinh thá i,
Nhà xuất bản Hồng Đức, 2017.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam (NDP) - Bản cập nhật năm
2020.
4. Sở Nô ng nghiệp và Phá t triển nô ng thô n Ninh Bì nh (2020), Quản lý, bảo vệ và phá t triển rừng ngập mặn Kim Sơn,
Bá o cá o cô ng tá c quản lý tài nguyên rừng tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 - 2020.
5. Nguyễn Thị Vâ n (2014), Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn xã Kim Hải, huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bì nh, Luận văn thạc sỹ Quản lý tài nguyên và mô i trường, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2014.
6. Sở Nô ng nghiệp và Phá t triển nô ng thô n Ninh Bì nh (2018), Bá o cá o thực hiện chương trình mục tiêu phá t triển lâ m
nghiệp bền vững tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2018-2020.
7. Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam (2011), Dự á n quy hoạch tổng thể phá t triển kinh tế -xã hội vùng ven biển Kim Sơn
tỉnh Ninh Bình đến năm 2020.
8. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bì nh (2019), Bá o cá o giá m sá t hiện trạng bảo vệ môi trường bã i bồi ven biển
huyện Kim Sơn.
9. Ủy ban nhâ n dâ n tỉnh Ninh Bì nh (2016),Quyết định phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phá t triển cá c khu rừng đặc dụng
tỉnh Ninh Bình đến năm 2020.
10. Cifor (2019), Cơ hội và thá ch thức trong quản lý rừng ngập mặn của Việt Nam, Báo cáo chuyên đề Tổ chức Lâ m
nghiệp quốc tế, 2019.
11. Tô Văn Vượng (2009), Nghiên cứu một số cơ sở khoa học nhằm đề xuất cá c giải pháp kĩ thuật gâ y trồng rừng ngập
mặn cho vùng bã i bồi ven biển, huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bì nh, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâ m nghiệp, Trường Đại
học Nô ng lâ m Thá i Nguyên, 2009.
12. Cục Thống kê tỉnh Ninh Bì nh (2020), Tì nh hì nh phá t triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình năm 2020.
13. Phò ng Nô ng nghiệp & PTNT huyện Kim Sơn (2020),Kim Sơn phát triển nô ng nghiệp toàn diện và hiệu quả, bá o Ninh
Bì nh, 2020.
14. Hạnh Chi (2018), Hội Chữ thập đỏ Ninh Bì nh: trồng, chăm sóc thành công trên 250 ha rừng ngập mặn. Bá o Ninh Bì nh,
2018.
Thông tin tác giả:
Nhật ký tòa soạn
Nguyễn Đình Đáp, Nguyễn Thị Thu Hà - Viện Địa lí nhân văn,
Viện Hàn lâ m Khoa học xã hội Việt Nam
Ngày nhận bài: 08-01-2021
Biên tập:03-2021
Địa chỉ: Số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội
Email: [email protected]; ĐT: 0903285940
50
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng quản lý và sử dụng rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hien_trang_quan_ly_va_su_dung_rung_ngap_man_ven_bien_huyen_k.pdf

