Nghiên cứu khả năng xử lý Al, Cr trong nước thải làng nghề tái chế nhôm bằng phương pháp keo tụ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ AL, CR TRONG NƯỚC THẢI
LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BẰNG PHƯƠNG PHÁP KEO TỤ
Đỗ Tiến Anh1
Nguyễn Minh Ngọc, Trần Tị Tu Lan
Hoàng Tị Bích Hoàn, Lê Tị Linh
(2)
TÓM TẮT
Tái chế, tái sử dụng các nguồn rác thải là một trong những giải pháp quan trọng để tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên, BVMT do đó các làng nghề tái chế phát triển mạnh mẽ nhất là làng nghề tái chế kim loại, tái
chế nhựa được xuất hiện rất nhiều ở các vùng nông thôn. Hiện trạng môi trường tại các làng nghề bị ô
nhiễm không khí, nước gây ảnh hưởng đến môi trường sống của dân. Nội dung nghiên cứu của đề tài mã
KC08.20/16-20 là nghiên cứu thu hồi và xử lý khí thải, chất thải rắn, nước thải bằng các công nghệ tiên tiến.
Trong bài báo này chúng tôi đưa kết quả nghiên cứu xử lý nước thải làng nghề tái chế nhôm tại làng Bình Yên,
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định bằng phương pháp keo tụ. Đối tượng nước thải này ô nhiễm kim loại nặng
rất cao đặc trưng là tổng Cr: 53-80 mg/l, Al: 548-900 mg/l, pH: 11,25-12,52. Nghiên cứu tối ưu quá trình để
thu hồi Al, xử lý Cr bằng các chất keo tụ FeCl2, PAC đồng thời thu hồi bông keo làm chất xúc tác quang. Khả
năng thu hồi Al đạt được hiệu suất 98,97% khi điều chỉnh pH= 6,57. Hiệu quả xử lý Cr bằng FeCl2 cao hơn rất
nhiều so với PAC. Hiệu suất xử lý Cr bằng chất keo tụ FeCl2 và PAC lần lượt đạt 81% khi cho FeCl2 250 mg/l,
pH= 6,41 và 13,5 % khi cho PAC 2000 mg/l. Tuy nhiên, nếu không thu hồi Al, khả năng xử lý đồng thời Al và
Cr bằng chất keo tụ FeCl2 250 mg/l đạt hiệu quả xử lý rất cao đối với cả Al và Cr. Không điều chỉnh pH hiệu
quả xử lý Cr đạt 99% trong khi xử lý Al đạt 90%.
Từ khóa: Làng nghề tái chế; xử lý Cr; xử lý Al; keo tụ và hấp phụ.
Nhận bài: 8/10/2020; Sửa chưa: 22/12/2020; uyêt tăng: 2 /12/2020.
1. Mở đầu
Phần lớn các cơ sở tái chế nhỏ và rất nhỏ trong làng
nghề, công nghệ tái chế thường lạc hậu và thủ công,
hiệu suất tái chế thấp, độ chính xác của sản phẩm không
đảm bảo, sản phẩm tái chế thường có chất lượng và độ
an toàn thấp, các thiết bị tái chế chủ yếu nhập từ Trung
Quốc và chế tạo gia công thêm một số tính năng cho
phù hợp với yêu cầu của chủ doanh nghiệp. Hoạt động
tái chế thủ công ở các làng nghề diễn ra một cách tự
phát và được duy trì trong suốt nhiều năm qua với hiện
nay đang có lãi do không phải tuân thủ các tiêu chuẩn
môi trường như đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp.
Phần lớn các cơ sản xuất làng nghề không muốn đầu tư
cho dự án môi trường và cũng không muốn chi phí vận
hành hệ thống xử lý môi trường, cho dù chúng đem lại
ích lợi trực tiếp cho người dân.
eo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, tính đến năm 2019 số làng nghề và làng
có nghề ở nước ta là 5.096 làng nghề, trong đó số làng
nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng
nghề hiện nay của Chính phủ là 2.009 làng nghề. Trong
số đó có đến hơn 100 làng nghề tái chế các loại trên địa
bàn cả nước, trong đó chủ yếu là các làng nghề tái chế
kim loại (chiếm trên 80%)[1]. Tỷ trọng các cơ sở có
quy mô nhỏ chiếm tới trên 90% tỷ số các cơ sở tham gia
ngành tái chế. Với quy mô nhỏ trình độ quản lý, trình
độ công nghệ lạc hậu, thiết bị tự chế hoặc nhập khẩu từ
Trung Quốc tạo ra hiệu suất thấp, chất lượng sản phẩm
tái chế và an toàn của sản phẩm không cao, thường gây
các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như đã
thấy trong rất nhiều nghiên cứu và báo cáo được thực
hiện tại các làng nghề tái chế ở Việt Nam.
eo Nguyễn ị Kim ái và Lương ị Mai
Hương [2], công nghệ sản xuất tại các làng nghề mang
1 Tổng cục Khí tượng thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường
2 Viên Công nghê môi trường, Viên Hàn lâm Khoa học và Công nghê Viêt Nam
8 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
tính thủ công nên mức tiêu hao nguyên nhiên liệu cao, được loại bỏ bằng phương pháp lắng hoặc lọc.
đều lớn và mức thải ra môi trường cũng cao. Các chất
thải, đặc biệt là chất thải rắn và nước thải cũng đã bắt
đầu được quan tâm thu gom tại các làng nghề thông
qua một số các chương trình quốc gia như Chương
trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tuy
nhiên, việc thu gom này mới chỉ tập trung vào chất
thải rắn và nước thải sinh hoạt, chưa tập trung vào các
chất thải từ sản xuất của các làng nghề.
Cơ chế keo tụ, tạo bông [4]
Mục đích của quá trình keo tụ - tạo bông là giảm thế
zeta, tức là giảm chiều cao của hàng rào năng lượng đến
giá trị giới hạn, sao cho các hạt rắn không đẩy lẫn nhau
bằng cách cho thêm vào các ion có điện tích dương để
phá vỡ sự ổn định của trạng thái keo của các hạt nhờ
trung hòa điện tích. Khả năng dính kết tạo bông keo
tụ tăng lên khi điện tích của hạt giảm xuống và keo tụ
tốt nhất khi điện tích của hạt bằng không. Chính vì vậy
lực tác dụng lẫn nhau giữa các hạt mang điện tích khác
nhau giữ vai trò chủ yếu trong keo tụ. Lực hút phân tử
tăng nhanh khi giảm khoảng cách giữa các hạt bằng
cách tạo nên những chuyển động khác nhau được tạo
ra do quá trình khuấy trộn. Ta có thể làm mất tính ổn
định của các hạt keo bằng các biện pháp:
Nước thải làng nghề tái chế nhôm có đặc trưng là
Al và Cr cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn xả
thải. Tuy nhiên, tại các làng nghề hiện nay vẫn thải trực
tiếp ra môi trường tự nhiên mà không áp dụng phương
pháp xử lý nào. Để giải quyết vấn đề này, cần thu gom
và có phương án xử lý khả thi về mặt kinh tế cũng như
tiêu chuẩn xả thải. Công nghệ xử lý nguồn nước chứa
kim loại nặng nói chung (trong đó có nước thải từ tái
chế kim loại) vẫn được áp dụng theo phương pháp xử
lý hóa lý truyền thống [3]. Ngoài ra, nhiều phương
pháp khác cũng đã được nghiên cứu và áp dụng cho xử
lý như: hấp phụ, lọc màng, quang xúc tác, công nghệ
nano… [4]. Các phương pháp hấp phụ, trao đổi ion
tương đối hiệu quả trong xử lý nước thải chứa kim loại,
tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế đặc biệt là đối với
các làng nghề sản xuất nhỏ lẻ rất khó khăn trong khâu
vận hành và tốn kém. Đối với nước thải làng nghề tái
chế nhôm thì Cr(VI) khó xử lý hơn và cũng là chất rất
độc hại nếu thải ra môi trường. Quá trình keo tụ đã
được các nghiên cứu chứng minh tương đối hiệu quả
xử lý Cr và đặc biệt vận hành đơn giản với chi phí thấp
[5,6]. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá khả
năng thu hồi Al cũng như xử lý Cr bằng hai loại chất
keo tụ là PAC và FeCl . Ngoài ra, các điều kiện keo tụ
tối ưu như pH, hàm lư2ợng chất keo tụ, thời gian khuấy
nhanh cũng được khảo sát để tìm ra điều kiện vận hành
tối ưu nhất cho quá trình keo tụ.
- Nén lớp điện tích kép được hình thành giữa pha
rắn và lỏng bằng cách giảm điện thế bề mặt bằng hấp
phụ và trung hòa điện tích.
- Hình thành các cầu nối giữa các hạt keo.
- Bắt giữ các hạt keo vào bông cặn.
Trung hoa điin ích
• Hấp thụ các ion hay phân tử mang điện tích trái
dấu với điện tích của hạt keo. Liều lượng chất keo tụ tối
ưu cho vào sao cho điện thế zeta bằng 0 mV.
• Giảm thế năng bề mặt tức là giảm điện thế zeta khi
đó sự đẩy tĩnh điện của các hạt keo giảm xuống và có
khả năng kết nối lại nhờ lực tương tác tĩnh điện, khi đó
hệ keo mất đi tính ổn định.
• Tăng hàm lượng chất keo tụ, nếu lượng chất keo tụ
cho vào quá nhiều sẽ gây hiện tượng keo tụ quét bông.
Quá trình này làm tăng hiệu quả keo tụ lên, hệ keo
cũng bị mất ổn định.
Tạo cầu nối
Trong nguồn nước, một phần các hạt thường tồn
tại ở dạng các hạt keo mịn phân tán, kích thước các
hạt thường dao động từ 0,1-10 micromet. Các hạt này
không nổi cũng không lắng, do đó tương đối khó tách
loại. Vì kích thước hạt nhỏ, tỷ số diện tích bề mặt và thể
tích của chúng rất lớn nên hiện tượng hóa học bề mặt
trở nên rất quan trọng.
Những hạt rắn lơ lửng mang điện tích âm trong
nước (keo sét, protein…) sẽ hút các ion dương tạo ra
hai lớp điện tích dương bên trong và bên ngoài. Lớp ion
dương bên ngoài liên kết lỏng lẻo nên có thể dể dàng bị
trượt ra. Như vậy điện tích âm của hạt bị giảm xuống.
ế điện động hay thế zeta bị giảm xuống [6].
Để tăng cường quá trình keo tụ tạo bông người ta
cho thêm vào các hợp chất polymer trợ keo tụ. Các
polymer này tạo sự dính kết giữa các hạt keo lại với
nhau nếu polyme này và các hạt keo trái dấu nhau.
Cơ chế tạo cầu nối xảy ra ở 5 phản ứng:
Phản ứng 1: Hấp phụ ban đầu ở liều lượng polyme
tối ưu. Phân tử polyme dính vào hạt keo.
Nguyên tắc của quá trình keo tụ tạo bông:
- Làm mất tính ổn định của các hệ keo thiên nhiên.
- Tạo ra hệ keo mới có khả năng kết hợp tạo thành
những bông cặn lớn, lắng nhanh, có hoạt tính bề mặt
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 9
Phản ứng 2: Hình thành bông cặn. Đuôi polyme đã nước dưới dạng chuỗi. Kiểu liên kết này rất thuận lợi
hấp phụ có thể duỗi ra và gắn kết với vị trí trống trên bề cho quá trình hình thành và lắng các bông cặn.
mặt hạt keo khác → hình thành bông cặn.
Các tác nhân keo tụ như PAC, các muối sắt, muối
Phản ứng 3: Hấp phụ lần hai của polyme. Nếu đoạn nhôm... được sử dụng như các tác nhân keo tụ giúp
cuối duỗi ra và không tiếp xúc với vị trí trống trên hạt tạo bông, kết tủa các ion kim loại trong nước thải.
khác và gấp lại → tiếp xúc với mặt khác của chính hạt Khi bổ sung các tác nhân keo tụ vào trong nước thải,
đó → ổn định lại.
chúng phân li tạo thành các cation Al3+, Fe3+, chúng
tham gia vào các phản ứng hình thành các hạt keo
hoặc các hydroxit. Sau khi bổ sung các chất trợ keo
(các polyme mạch dài, cao phân tử), các hạt keo sẽ bị
hấp thụ bởi polyme, kết dính với nhau tạo thành bông
và lắng xuống.
Đối với phèn nhôm, khi pH thấp hơn 6,5 khả năng
hình thành Al(OH)3 kết tủa hầu như không xảy ra. Nếu
hệ cũng chứa những cấu tử mang điện tích dương thì
chúng sẽ không tương tác với nhau. Do đó, quá trình
keo tụ không xảy ra. Trong môi trường kiềm (pH>8),
quá trình tạo thành Al(OH) xảy ra. Nếu các cấu tử
trong hệ mang điện tích âm 4t-hì cũng sẽ không xảy ra
quá trình keo tụ. Do đó, hiệu quả xử lý sẽ thấp.
Đối với các muối sắt, trong môi trường axit sắt tồn
tại chủ yếu ở dạng monomer mang điện tích dương
như Fe3+, Fe(OH)2+. Nếu hệ là huyền phù tích điện
dương thì quá trình keo tụ không diễn ra. Trong môi
trường kiềm, dạng tồn tại chủ yếu của sắt là Fe(OH)4-.
Vì vậy, nếu hệ huyền phù tích điện âm thì quá trình keo
tụ cũng không diễn ra.
Phản ứng 4: khi liều lượng polyme dư. Nếu polyme
thêm vào dư nhiều, bề mặt hạt bão hòa các đoạn polyme
→ không có vị trí trống để hình thành cầu nối → hạt keo
ổn định trở lại.
Phản ứng 5: Vỡ bông cặn, vỡ vụn bông cặn khi xáo
trộn nhiều.
Trong toàn bộ quá trình (5 phản ứng trên), cơ chế
chính là: hấp phụ và tạo cầu nối và cơ chế phụ là: trung
hòa điện tích.
Hóa chất keo tụ [8]
Để thực hiện quá trình keo tụ, người ta cho vào
nước các chất phản ứng thích hợp như: phèn nhôm
Al (SO4)3, phèn sắt FeSO4 hoặc FeCl3. Các loại phèn
nà2y được đưa vào nước dưới dạng dung dịch hòa tan.
Dùng phèn nhôm:
Khi cho phèn nhôm vào nước, chúng phân li tạo ion
Al3+ bị thủy phân tạo thành Al(OH)3.
Ngoài Al(OH)3 là nhân tố quyết định đến hiệu quả
keo tụ tạo thành còn giải phóng ra các ion H+. Các ion
H+ này sẽ được khử bằng độ kiềm tự nhiên của nước
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
–
(được đánh giá bằng HCO3 ).
Nước thải
Trường hợp độ kiềm tự nhiên của nước thấp, không
đủ trung hòa ion H+ thì cần phải kiềm hóa nước. Chất
dùng để kiềm hóa thông dụng là vôi (CaO), sođa
(Na2CO3), hoặc xút (NaOH).
Nước thải sử dụng trong nghiên cứu này là nước
thải từ làng nghề tái chế nhôm tại làng Bình Yên, xã
Nam anh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có đặc
trưng như ở Bảng 1. Nước thải có đặc trưng là pH cao,
Al và Cr(VI) rất cao.
Al3+ + 3H2O → Al(OH)3 + 3H+
Dùng phèn sắt:
Phèn sắt chia làm hai loại là phèn sắt II và phèn sắt
III. Phèn Fe(II) khi cho vào nước phân li thành ion Fe2+
và bị thủy phân thành Fe(OH)2. Phèn Fe(III) khi cho
vào nước phân li thành ion Fe3+ và bị thủy phân thành
Fe(OH)3.
Bảng 1. Tành phần của nước thải làng nghề tái chế Al sử
dụng trong nghiên cứu
Tông số
pH
Khoảng dao động
11,25 – 12,52
30,3 – 50,3
10,3 – 20,4
53 – 80,3
Phản ứng thủy phân:
Cr(VI) (mg/l)
Cr(III) (mg/l)
Crtổng (mg/l)
Al (mg/l)
Sắt (mg/l)
Zn (mg/l)
Pb (mg/l)
Fe2+ + 2H2O → Fe(OH)2 + 2H+
Fe3+ + 3H2O → Fe(OH)3 + 3H+
Hiệu quả keo tụ phụ thuộc vào nhiệt độ của nước,
hàm lượng và tính chất của cặn. Ngoài ra người ta có thể
dùng các chất trợ đông tụ tổng hợp như podyacrynat,
polyacryamil. Trong một vài trường hợp dioxit silic
hoạt tính, plyacrynat, polyacryamil được dùng làm chất
keo tụ thay phèn. Khác với keo tụ bằng chất điện li hoặc
bằng hệ keo ngược dấu, cơ chế phản ứng ở đây chủ yếu
là các tương tác hoá học. Do kích thước lớn và dài nên
các hợp chất cao phân tử keo tụ các hạt cặn bẩn trong
548 – 900
0,74 – 1,1
1,2 – 1,8
0,111 – 0,5
Chất keo tụ, trợ keo: Các dung dịch keo tụ gốc được
pha với nồng độ 50 g/l từ các chất keo tụ PAC (giải
nghiên cứu từ 250 mg/l; 500 mg/l; 750 mg/l; 1000 mg/l;
10 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
1250 mg/l; 1500 mg/l; 1750 mg/l), FeCl2 (giải nghiên hóa hoàn toàn và phân hủy hết pesunfat dư vì nếu dư
cứu từ 250 mg/l; 500 mg/l; 750 mg/l; 1000 mg/l; 1250 pesunfat sẽ ngăn cản quá trình xác định sau này). Để
mg/l) tinh khiết phân tích. Dung dịch dùng hàng ngày nguội rồi chuyển tất cả vào bình định mức 50 ml và tiếp
được pha loãng hoặc lấy trực tiếp từ dung dịch gốc. tục tiến hành như quy trình xác định Cr(VI).
Chất trợ keo loại anion được pha với nồng độ 1 g/l (mỗi
thí nghiệm được bổ sung 1ml chất trợ keo).
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. u hồi Al, Cr
í nghiệm nghiên cứu thu hồi Al và Cr
a. u hồi Al
í nghiệm được tiến hành hành trên thiết bị Jartest
JLT6 (VELP, Ý) như sau: Lấy 400 ml mẫu nước thải vào
cốc thuỷ tinh có thể tích 1000 ml sau đó điều chỉnh pH
trong các giải nghiên cứu từ 4 - 9, khuấy nhanh (150
vòng/phút) trong vòng 3 phút sau đó để lắng 30 phút,
tách phần nước trong ở trên bằng cách lọc qua giấy lọc
với bộ hút chân không, thu được kết tủa trắng đó chính
là Al(OH) . Nước sau lọc được điều chỉnh pH trong
giải từ 2 - 38 sau đó bổ sung nồng độ Na2SO nồng độ
100 mg/l, sau đó nâng pH lên từ 7 - 8. Sau đ3ó tách kết
tủa và lấy phần sau lọc để phân tích Cr tổng.
Nước thải của làng nghề tái chế Al có hàm lượng
Al rất cao (theo kết quả khảo sát hàm lượng Al dao
động trong khoảng từ 548 - 900 mg/l), do đó chúng tôi
thử nghiệm thu hồi Al trước khi xử lý Cr(VI). Dựa vào
trạng thái tồn tại cũng như khả năng kết tủa của Al nên
trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát các điều kiện
pH trong khoảng 4 - 9 sau đó cho vào khuấy nhanh 3
phút thu hồi kết tủa Al trắng ở phía dưới đáy bình. Kết
quả được thể hiện trên Hình 1.
í nghiệm nghiên cứu chất keo tụ để loại bỏ đồng
thời Al và Cr
í nghiệm được tiến hành trên thiết bị Jartest JLT6
(VELP, Ý) như sau: Lấy 200 ml mẫu nước thải vào cốc
thủy tinh có thể tích 1000 ml, bổ sung chất keo tụ với
các nồng độ khác nhau và chỉnh pH (đối với chất keo
tụ là PAC thì giải pH được khảo sát từ 4 - 9, đồi với
chất keo tụ là FeCl2 thì pH được nghiên cứu trong giải
2 - 11) từ của mẫu nước đến giá trị xác định trước (nếu
cần thiết), khuấy nhanh (150 vòng/phút) trong vòng 1
- 5 phút, sau đó khuấy nhẹ (50 vòng/phút) trong vòng 5
phút. Để lắng tự nhiên 30 phút rồi lấy mẫu nước trong
ở trên, xác định các chỉ số pH, Cr(VI), Cr (III), Cr tổng,
Al.
▲Hình 1. Ảnh hưởng pH đến hiêu suất xử lý Al
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu hồi Al tối ưu ở pH
từ 6-7, Al thu hồi đạt 99 - 95%. u hồi nhôm khi pH ở
trung tính, pH=9 thì hiệu quả thu hồi Al thấp đạt 39%.
Khả năng thu hồi Al tương đối cao nên đây cũng là một
hướng giúp giảm thất thoát nhôm ra môi trường.
Phương pháp phân tích
a. Xác định hàm lượng Cr(VI) theo tiêu chuẩn
TCVN 6658 : 2000
Lấy 25 ml mẫu (mẫu được lấy phần trong ở trên cốc
phản ứng) vào cốc 50 ml. êm vào đó 0,5 ml dung
dịch đệm photphat rồi điều chỉnh pH trong khoảng
7,5 ÷ 8 bằng dung dịch H SO4 hoặc NaOH. Sau đó
thêm vào 0,1ml dung dịch n2hôm sunfat, lắc đều và lọc.
Dịch lọc thu được cho vào bình định mức 50 ml rồi
thêm 1 ml dung dịch H PO4 (7:3) và 1 ml dung dịch
điphenylcacbazit. êm 3nước cất tới vạch mức và lắc
đều. Để yên khoảng 10 phút, đo mật độ quang ở 541nm
và áp vào đường chuẩn để xác định hàm lượng Cr(VI)
trong mẫu phân tích.
Sau khi điều chỉnh pH, hàm lượng Cr tổng hầu như
không thay đổi. Tiến hành keo tụ Cr bằng các tác nhân
keo tụ khác nhau. Ngoài ra, các điều kiện keo tụ tối
ưu (pH, lượng chất keo tụ, thời gian khuấy nhanh) đã
được khảo sát.
b. u hồi Cr sau quá trình tách Al
Sau quá trình thu hồi nhôm, tiếp tục tiến hành thu
hồi Cr với các điều kiện pH khác nhau từ 2-8. Giá trị
pH có thể ảnh hưởng lớn đến dạng Cr(VI) hay Cr(III)
và sản phẩm thủy phân của chất đông tụ. Như được
trình bày trong Hình 2, khi nồng độ ban đầu của kim
loại nặng không đổi nhận thấy lượng kim loại nặng đầu
ra thay đổi rõ rệt, chỉ ra pH có ảnh hưởng đáng kể đến
việc loại bỏ kim loại trong nước thải. Đối với Cr(VI),
khi khử Cr(VI) thành Cr(III) ở điều kiện axit, điều này
đã cung cấp đủ Cr (III) cho phản ứng tạo kết tủa ở phản
ứng sau.
b. Xác định tổng hàm lượng crom tổng theo tiêu
chuẩn TCVN 4574:1988
Lấy 25 ml mẫu nước cần phân tích cho vào cốc cỡ 50
ml. Trung hòa bằng dung dịch H2SO4 hoặc NaOH. Sau
đó thêm 0,5 ml dung dịch H2SO 1N, 5 ml dung dịch
kali pesunfat. Đun sôi dung dịch425 ÷ 30 phút (để oxy
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 11
▲Hình 2. Ảnh hưởng pH đến hiêu suất xử lý Cr
▲Hình 3. Ảnh hưởng của pH đến hiêu suất xử lý Cr bằng PAC
Tuy nhiên, khi pH quá thấp thì Cr(OH) và các hạt
keo hydroxit sắt gần như không hình thành,3do đó hiệu
quả đông tụ kém và hiệu quả thu Cr tổng là thấp và
không được như mong muốn. Khi pH của nước thô
cao hơn 8, nó có xu hướng tạo ra các chất keo hydroxit
sắt, dẫn đến ảnh hưởng xấu đến phản ứng khử Cr(VI)
trong điều kiện kiềm, do đó không đủ Cr(III) để tạo
Cr(OH)3.
+ Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả keo tụ bằng FeCl2
Cố định hàm lượng chất keo tụ FeCl2 là 750 mg/l,
thay đổi pH trong dải từ 5-11. Kết quả nghiên cứu ảnh
hưởng của pH đến hiệu quả xử lý Cr được thể hiện
trên Hình 4. Từ kết quả thực nghiệm cho ta thấy pH
có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả xử lý Cr. Ở pH axit
hoặc trung tính hiệu quả xử lý Cr thấp hơn so với môi
trường kiềm. Nhận thấy pH tối ưu trong xử lý Cr bằng
Kết luận: Khi pH từ 2-6 thì hiệu quả loại bỏ Cr(VI) FeCl2 là trong khoảng 9-10. Do trong nước thải nghiên
2-
có thể đạt từ 98-94.5% nhưng hiệu suất thu hồi Cr tổng cứu chứa chủ yếu Cr(VI) ở dạng Crommat CrO4 , khi
lại tối ưu ở điều kiện pH từ 6-7. Cho thấy điều kiện loại trong môi trường kiềm với H+ rất nhỏ mà OH- rất cao
bỏ Cr tổng tối ưu trong khoảng pH từ 6-7 là hiệu quả sẽ có phản ứng :
2-
CrO4 + 4H2O + 3e- = Cr[OH]3↓ + 5OH-
nhất. Kết quả cũng đúng với lý thuyết về quá trình khử
Cr(VI) về Cr(III) và quá trình tạo keo Cr(OH)3.
Và khi thêm muối Fe(II) vào dung dịch thì trong
3.2. Xử lý đồng thời Cr và Al bằng phương pháp môi trường kiềm, sắt sẽ tồn tại chủ yếu ở 2 dạng kết tủa
keo tụ
hydroxyt và bán phản ứng oxi hóa khử có thể xảy ra là:
Fe(OH)3↓ + e- = Fe(OH)2↓
a. Ảnh hưởng của pH đến hiêu quả xử lý Cr
Mặc dù giá trị pH rõ ràng là một thông số quan
trọng trong quá trình keo tụ, nhưng nhiều khi nó đã bị
bỏ qua trong các nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu chỉ xác
định hàm lượng tối ưu của chất keo tụ ở độ pH nhất
định mà bỏ qua ảnh hưởng của pH. Tuy nhiên, nếu
không xác định được giá trị pH tối ưu thì sẽ chưa thể
hiện rõ được hiệu quả thực sự của quá trình keo tụ có
đạt hay không. Do đó, việc xác định được khoảng pH
tối ưu trong quá trình keo tụ là rất cần thiết bởi vì giá trị
pH ảnh hưởng đến điện tích bề mặt giữa loại chất keo
tụ và tạp chất được loại bỏ.
▲Hình 4. Ảnh hưởng của pH đến hiêu suất xử lý Cr bằng FeCl2
+ Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả keo tụ bằng PAC
Bên cạnh phản ứng oxi hóa khử vừa nêu trên thì
thực tế khi thêm Fe(II) vào hệ dung dịch nước thải có
môi trường kiềm còn gần như đồng thời tạo ra các kết
tủa hydroxyt Fe(OH)3, Al(OH)3 và Cr(OH)3 rất ít tan.
Cố định hàm lượng chất keo tụ PAC 1250 mg/l,
thay đổi pH trong dải từ 5 - 9. Kết quả nghiên cứu ảnh
hưởng của pH đến hiệu quả xử lý Cr được thể hiện
trên Hình 3. Từ kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả
xử lý Cr bằng PAC là không cao, tuy nhiên pH cũng
có ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý. pH tối ưu cho xử
lý Cr là trong môi trường axit rất nhẹ đến trung tính
từ 6 - 7. Kết quả nghiên cứu này tương đối phù hợp
với lý thuyết. Ở môi trường axit không xảy ra sự hình
thành kết tủa Al(OH)3, còn ở môi trường kiềm xảy ra
2-
CrO4 + 3Fe2+ + 4H2O = Cr(OH)3↓ + Fe(OH)3↓ + 2OH-
Sắt(II) bị oxi không khí oxi hóa dễ dàng trong môi
trường kiềm:
4Fe2+ + O2 + 8OH- + 2H2O = Fe(OH)3↓
Nhôm từ dạng Aluminat tan trong môi trường kiềm
mạnh chuyển thành kết tủa dạng hydroxyt do độ kiềm
giảm (phản ứng này xảy ra khi có phản ứng của sắt(II)
ở trên):
-
quá trình tạo thành aluminat Al(OH) tan, vì vậy hiệu
quả keo tụ của muối nhôm ở môi trườ4 ng axit hay môi
trường kiềm đều thấp.
AlO2- + 3H2O = 2Al(OH)3↓
12 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
Trong 3 hydroxyt này, Fe(OH) và Al(OH) là tụ FeCl tương ứng trong khoảng 250; 500; 750; 1000
những dạng kết tủa rất dễ đông tụ lắ3ng xuống rồi 3kéo và 12502mg/l. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hàm
theo Cr(OH)3 và đồng thời có thể khi hình thành lắng lượng chất trợ keo đến hiệu quả xử lý Cr được thể hiện
xuống chúng sẽ giữ thêm những chất khác có trong trên Hình 6.
dung dịch và “làm trong” dung dịch.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến hiệu quả
keo tụ Cr bằng FeCl2 trong nghiên cứu này phù hợp với
lý thuyết và các nghiên cứu tương tự [6,7]. Nước thải
làng nghề tái chế Al có pH rất cao trong khoảng 11,
vì vậy nếu không thu hồi Al, keo tụ bằng FeCl là môi
trường kiềm sẽ thuận lợi hơn, giảm được lượng 2axit cần
thiết để điều chỉnh pH.
b. Ảnh hưởng của hàm lượng chất keo tụ đến hiêu
quả xử lý Cr
▲Hình 6. Ảnh hưởng của hàm lượng FeCl2 đến hiêu quả xử
+ Ảnh hưởng của hàm lượng chất keo tụ PAC đến
lý Cr
hiệu quả xử lý Cr
Kết quả Hình 6 cho thấy, hàm lượng FeCl2 ảnh
Tiến hành thí nghiệm trong điều kiện pH tối ưu đã
hưởng rõ rệt đến hiệu quả xử lý Cr. Với hàm lượng
xác định được ở nghiên cứu trên (đối với PAC pH tối
chất keo tụ là 250 mg/l, hiệu quả xử lý Cr thấp nhất đạt
ưu là 6 - 7), khuấy nhanh trong 5 phút, khuấy chậm
45,15%. Khi tăng hàm lượng chất keo tụ lên 500 mg/l
trong 15 phút, để lắng 30 phút, hàm lượng chất trợ keo
thì hiệu suất đã tăng lên rất cao đạt 92,3%. Hiệu suất xử
thêm vào là 1 mg/l, chỉ thay đổi hàm lượng chất keo
lý Cr đạt cực đại khi hàm lượng chất keo tụ FeCl là 750
mg/l (đạt 96,7%), sau đó tăng hàm lượng chất2keo tụ
tụ PAC tương ứng trong khoảng 250; 500; 750; 1000;
1250; 1500 và 1750 mg/l.
lên nhưng hiệu suất vẫn không tăng thêm nữa.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng chất
Về bản chất quá trình xử lý Cr(VI) bằng FeCl2 thực
keo tụ đến hiệu quả xử lý Cr được thể hiện trên Hình 5.
chất là quá trình khử Cr(VI) xuống Cr(III), sau đó
Kết quả chỉ ra hàm lượng PAC có ảnh hưởng đến hiệu
Cr(III) sẽ lắng hoặc xảy ra quá trình keo tụ với phèn sắt
quả xử lý Cr. Hiệu suất xử lý tăng dần khi tăng hàm
đưa vào. Khi Fe(II) bị oxi hóa thành Fe(III) trong sự có
lượng PAC, hiệu suất xử lý đạt cao nhất khi tăng hàm
mặt của Cr(III) sẽ tạo thành phức dạng crom hidroxit
lượng PAC lên đến 1500 mg/l, hiệu suất xử lý Cr đạt
CrxFe1-x(OH) . Khi đó Fe(III) cũng hoạt động như chất
keo tụ và có3khả năng cải thiện độ lắng. Cơ chế này
13,02%. Nhìn chung từ kết quả thí nghiệm cho thấy,
hiệu suất xử lý Cr bằng keo tụ với PAC là rất thấp.
được làm sáng tỏ trong nghiên cứu xử lý Cr(VI) trên
quy mô pilot [5].
c. Ảnh hưởng của thời gian khuấy nhanh đến hiêu
quả xử lý Cr
Trong các thông số ảnh hưởng đến quá trình keo
tụ thì quá trình khuấy nhanh cũng là một trong những
thông số cần xác định để giảm thời gian cũng như điện
năng tiêu thụ cho quá trình keo tụ. Quá trình khuấy
nhanh nhằm hòa trộn giữa dung dịch keo tụ và nước
thải, làm mất ổn định các phân tử trong đó và quá trình
khuấy chậm thúc đẩy sự va chạm giữa các hạt bất ổn đó
và có sự tương tác giữa các lực hút trái dấu tạo nên các
hạt keo. ông thường quá trình khuấy nhanh thường
▲Hình 5. Ảnh hưởng của hàm lượng PAC đến khả năng xử
tiến hành trong khoảng 10-30 phút [9]. Tuy nhiên,
lý Cr
cũng tùy thuộc vào sự tương tác giữa chất keo tụ và
chất có trong nước thải mà quá trình khuấy nhanh xảy
ra nhanh hay chậm. í nghiệm được tiến hành trong
điều kiện hàm lượng chất keo tụ FeCl là 750 mg/l, pH
trong khoảng 9, thay đổi thời gian kh2uấy nhanh trong
dải 1; 3; 5; 7; 10; 15 phút. Kết quả thí nghiệm được thể
hiện trên Hình 7. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời
gian khuấy nhanh ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý Cr.
+ Ảnh hưởng của hàm lượng chất keo tụ FeCl2 đến
hiệu quả xử lý Cr.
Tiến hành thí nghiệm trong điều kiện pH tối ưu đã
xác định được ở nghiên cứu trên (đối với FeCl2, pH tối
ưu là 9 - 10), khuấy nhanh trong 5 phút, khuấy chậm
trong 15 phút, để lắng 30 phút, hàm lượng chất trợ keo
thêm vào là 1 mg/l, chỉ thay đổi hàm lượng chất keo
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 13
Nếu thời gian khuấy ngắn quá (khoảng 1 phút) thì quá
trình khuấy trộn chưa đủ để tao ra sự đồng nhất giữa
dung dịch chất keo tụ mới đưa vào nước thải. ời gian
khuấy nhanh tăng lên thì hiệu suất cũng tăng theo. Khi
thời gian khuấy nhanh từ 5 phút trở lên thì hiệu suất
xử lý đạt ổn định và đạt trên 97%. Khi tăng thời gian
khuấy nhanh từ 5 - 15 phút, hiệu suất xử lý có tăng lên
nhưng không đáng kể (97,1% so với 97,6%). Do vậy để
tiết kiệm điện năng nên chọn thời gian khuấy nhanh là
khoảng 5-7 phút.
Nếu duy trì pH trong khoảng trung tính thì khả
năng xử lý Al rất cao (99,97%), tuy nhiên khả năng
xử lý Cr chưa phải là tối ưu. Nếu pH trong khoảng
10 thì khả năng xử lý Cr lên đến 98%, khả năng xử lý
Al gần 96%. Tuy nhiên, Cr(VI) là dạng độc nhất, gây
ung thư và gây đột biến gen cho sinh vật sống nên cần
phải xử lý trước khi thải vào các hệ thống thải chung.
Tiêu chuẩn thải đối với Cr cột B chỉ là 0,5 mg/l (QCVN
52:2013/BTNMT đối với nước thải công nghiệp sản
xuất thép), cho nên cần ưu tiên xử lý Cr trước khi thải
ra môi trường.
Từ các kết quả nghiên cứu ta thấy, phương án hạ pH
thu hồi Al, sau đó tăng pH lên để xử lý Cr vừa đạt hiệu
quả về mặt hiệu quả xử lý và vừa kinh tế có thể thu hồi
Al. Al được thu hồi có thể tái dùng để sản xuất chất keo
tụ phèn nhôm, sử dụng cho quá trình xử lý nước thải.
4. Kết luận
▲Hình 7. Ảnh hưởng của thời gian khuấy nhanh đến hiêu
Đối với nước thải làng nghề tái chế Al, hàm lượng
Al trong nước thải đầu ra là rất cao, do vậy nên thu hồi
Al trước khi xử lý các thông số ô nhiễm khác. Khả năng
thu hồi Al rất cao đạt 99,97% khi hạ pH xuống khoảng
6 - 7.
Các điều kiện vận hành thích hợp đối với từng loại
chất keo tụ đã được xác định: Môi trường pH của quá
trình keo tụ thích hợp đối với PAC là môi trường trung
tính (pH = 6,0 - 7,0) và đối với FeCl là môi trường
kiềm, pH = 9 - 10. Hàm lượng chất ke2o PAC tối ưu là
1250 mg/l, trong khi đó đối với FeCl hàm lượng thích
hợp thấp hơn rất nhiều 750 mg/l. 2ời gian khuấy
nhanh chỉ cần thực hiện trong khoảng 5 - 7 phút là đạt
suất xử lý Cr
3.3. Keo tụ đồng thời Al và Cr(VI)
Để tạo kết tủa và thu hồi Al có trong nước thải làng
nghề tái chế đầu tiên phải hạ pH xuống khoảng 6 - 7.
Sau đó tiến hành keo tụ để xử lý Cr. Như kết quả đã
trình bày ở trên, hiệu quả keo tụ bằng FeCl2 rất cao so
với PAC (tương ứng với 96,7 % so với 13,02%) cho nên
trong các nghiên cứu tiếp theo chỉ dùng FeCl2 để keo
tụ xử lý Cr. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra
pH tối ưu để thực hiện quá trình keo tụ với FeCl là pH
trong khoảng kiềm (9-10) cho nên nếu thu hồi A2l trước
thì phải hạ pH xuống 6-7 sau đó lại chỉnh pH lên 9-10
để thực hiện quá trình keo tụ. Do vậy, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu khả năng keo tụ đồng thời Al và Cr. được hiệu quả xử lý Cr cao nhất.
í nghiệm được thực hiện ở điều kiện hàm lượng chất
keo tụ 750 mg/l, khuấy nhanh 5 phút, khuấy chậm 15
phút, thay đổi giá trị pH trong khoảng 7 và khoảng 10.
Kết quả thí nghiệm được thể hiện trên Bảng 2.
Dùng chất keo tụ FeCl2 xử lý Cr hiệu quả hơn rất
nhiều so với dùng chất keo tụ PAC (hiệu quả xử lý
tương ứng ở điều kiện vận hành tối ưu nhất là 96,7%
so với 13,02%).
Keo tụ đồng thời Al và Cr bằng chất keo tụ FeCl2
cũng đạt được hiệu suất rất cao.
Bảng 2. Kết quả keo tụ đồng thời Al và Cr bằng chất keo
tụ FeCl2
Lời cảm ơn: Công trình này được hoàn thành với sự
hỗ trợ về kinh phí của đề tài cấp nhà nước KC.08.20/16-
20. Các nghiên cứu được thực hiện tại Viện Khoa học
Khí tượng ủy văn và Biến đổi khí hậu, Viện Công
nghệ môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam, thời gian thực hiện năm 2018 - 2019■
pH
Đối với xử lý Al
Al đầu Al sau Hiệu Cr đầu Cr sau Hiệu
vào xử lý suất vào xử lý suất
(mg/l) (mg/l) (%) (mg/l) (mg/l) (%)
Đối với xử lý Cr
trước
keo tụ
6,97
9,85
901
901
0,26
39,2
99,97
95,65
69
69
13
1,07
81,15
98,45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
phế liêu và đề xuất các giải pháp quản lý. Tạp chí Khoa học
Công nghê Xây dựng, (2011).
3. Wang, Z., Li, H., Ye, Y., Wang, Z. A model analysis on
the pulse-jet cleaning performance of electrostatically
stimulated fabric filtration. Powder Technol, 291, (2016),
pp. 499-505.
1. Bộ NN&PTNT (2014), Báo cáo thống kê làng nghề Viêt
Nam
2. Nguyễn ị Kim ái, Lương ị Mai Hương. Đánh giá
thực trạng quản lý chất thải rắn tại các làng nghề tái chế
14 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
4. Azimi, A., Azari, A., Rezakazemi, M., Ansarpour, M. 7. Stumm W. and Morggan J. J. Chemical Aspects of
Removal of Heavy Metals from Industrial Wastewaters: A
Review. ChemBioEng Rev, 4, (1), (2017), pp. 1–24.
Coagulation. J. American Wks Ass, 58, (8), (1962), pp.
971-994.
5. Nathaniel P. Homan, Peter G. Green, omas M. Young. 8. Jana Naceradska, Lenka Pivokonska and Martin Pivokonsky.
Evaluating ferrous chloride for removal of chromium from
On the importance of pH value in coagulation. Journal of
Water Supply: Research and Technology, (2019).
9. Bache, D. H. & Gregory, R. Flocs and separation processes
in drinking water treatment: a review. Journal of Water
Supply: Research and Technology–AQUA , 59, (1), (2010),
pp.16–30.
ion-exchange waste brines. Journal Awwa, (2017), pp. 43–
54.
6. Gang Qin, Michael J. Mcguire, Nicole K. Blute, Chad
Seidel, Leighton Fong. Hexavalent chromium removal by
reduction with ferrous sulfate, coagulation and filtration :
A pilot-scale study. Environ. Sci. Technol., 39, (2005), pp.
6321–6327.
APPLICATION OF FLOCCULATION PROCESS FOR ALUMINUM
RECYCLING VILLAGE WASTEWATER TREATMENT- A CASE STUDY
Do Tien Anh
Vietnam Meteorological and Hydrological Administration
Nguyen Minh Ngoc, Tran Ti Tu Lan, Hoang Ti Bich Hoan, Le Ti Linh
Institute of Environmental Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
ABSTRACT
Metal recycling villages are quite popular in Vietnam. Wastewater from the recycling activities in these
villages contains heavy metals such as Al3+, Cr3+, Cr6+ and discharged without treatment to natural reservoirs,
posing great threats to human and environment. Flocculation process is reported in many literatures as one
of the most popular methodologies for heavy metal treatment in wastewater. is study research a case study
of using flocculation methods for wastewater treatment in Binh Yen, an aluminum recycling village in Nam
Dinh province in Vietnam. Also, the precipitation from the flocculation process which contains Al and Cr
would be captured to make photo catalyst used in wastewater treatment. e concentration of Al and Cr in
the wastewater in Binh Yen is 548-900 mg/L and 52-80 mg/L, respectively. e results of the research showed
that the removal efficiencies of Al and Cr in wastewater would be achieved at 99% and 90% with FeCl as
flocculation agent which are much higher than using PAC as flocculation agent. It is proved that at condit2ion
of pH = 6.47 for Al and 6.57 for Cr, the precipitation from flocculation process could be used for photo
catalyst production. e aluminum recovery rate for photo catalyst production could be achieved at 98,97%.
Key words: Recycling village, heavy metal treatment, flocculation, adsorption .
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 15
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu khả năng xử lý Al, Cr trong nước thải làng nghề tái chế nhôm bằng phương pháp keo tụ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_kha_nang_xu_ly_al_cr_trong_nuoc_thai_lang_nghe_ta.pdf

