Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự phát triển thực vật phù du tại hồ Tây
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN
SỰ PHÁT TRIỂN THỰC VẬT PHÙ DU TẠI HỒ TÂY
Nguyễn Trâm Anh 1
Trịnh ị anh 2
Đoàn Hương Mai 3
TÓM TẮT
Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu về diễn biến thành phần thực vật phù du (TVPD) từ năm 1996 - 2018
và thông số pH từ năm 2011 – 2020 nhằm phân tích tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với diễn biến
thành phần TVPD, mối liên hệ giữa hiện trạng thành phần TVPD và chất lượng nước. Kết quả phân tích cho
thấy, các chi/loài tảo có khả năng chịu đựng môi trường ô nhiễm xuất hiện nhiều hơn, vi khuẩn Lam đang là
loài chiếm ưu thế trong quần xã TVPD. Nhiệt độ thúc đẩy tảo phát triển mạnh, làm cho pH tăng dần, là điều
kiện thuận lợi thúc đẩy vi khuẩn Lam phát triển. Đồng thời, khi tảo chết, lại là nguồn hữu cơ gây ô nhiễm
hồ. ông qua cơ chế này, BĐKH (nhiệt độ tăng và nắng nóng kéo dài) sẽ góp phần thay đổi thành phần loài
TVPD với các chi và loài tảo chịu ô nhiễm sẽ xuất hiện nhiều hơn, thúc đẩy vi khuẩn Lam chiếm ưu thế trong
quần xã TVPD.
Từ khóa: Hồ Tây, ực vật phù du, BĐKH.
Nhận bài: 23/2/2021; Sưa chha: 10/3/2021; ;uyêt đtng: 1:/3/2021.
Bảng 1. Vị trí lấy mẫu
TT Mô tả vị trí
1. Đặt vấn đề
Tọa độ
Hồ Tây có vai trò quan trọng trong đời sống kinh
tế - xã hội của Hà Nội và được Tổ chức Môi trường Hồ
quốc tế (ILEC) xếp vào Danh sách các hồ cần bảo tồn
trên thế giới đặc biệt về ĐDSH [9]. Hiện nay, Hồ Tây
đang chịu áp lực lớn do quá trình đô thị hóa cũng như
BĐKH. eo nghiên cứu trước[1], BĐKH trong đó
nhiệt độ tăng có thể làm cho chất lượng nước Hồ Tây
suy giảm theo hướng gia tăng phú dưỡng, hàm lượng
ôxy hòa tan giảm mạnh, ô nhiễm hữu cơ gia tăng.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, khi chất lượng
nước thay đổi sẽ dẫn tới những ảnh hưởng ĐDSH theo
hướng làm thay đổi thành phần và số lượng các loài
sinh vật [12].
Vì vậy, nghiên cứu sẽ tập trung vào tác động của
BĐKH đối với thành phần TVPD tại Hồ Tây, là nhóm
sinh vật quan trọng ở Hồ Tây và đã có nhiều nghiên
cứu về thành phần loài với mục tiêu như sau: (i) Đánh
giá diễn biễn hiện trạng thành phần TVPD tại Hồ Tây;
(ii) Đánh giá và dự báo tác động của BĐKH tới sự phát
triển TVPD tại Hồ Tây.
1
Cống cái (Công viên
nước Hồ Tây)
N 21o04’21’’, E 105o
49’24’’
2
3
Giữa hồ trên
Cống Xuân La
N 21o04’9’’, E 105o49’10’’
N 21o03’38’’, E
105o48’33’’
4
5
6
Cống Trích Sài (phường N 21o02’47’’, E
Bưởi)
105o48’55’’
Cống Đô (ụy Khê)
N 21o02’37’’, E
105o50’33’’
Cống Trúc Bạch
N 21o02’37’’, E
105o50’32’’
7
8
9
Giữa hồ dưới
Khách sạn Sheraton
Quảng An (gần Phủ Tây N 21o03’3’’, E 105o48’5’’
Hồ)
N 21o03’6’’, E 105o50’11’’
N 21o03’25’’, E 105o49’27
1Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng
2 Hội Bảo vê iên nhiên và Môi trường Viêt Nam
3 Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 101
2. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu
3. Kết quả nghiên cứu.
3.1. Diễn biến thành phần TVPD tại Hồ Tây
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hồ Tây và hệ vi tảo Hồ Tây:
Hồ Tây nằm ở phía Tây của TP. Hà Nội, với diện
tích tự nhiên năm 2012 là 527,517 ha (Ban quản lý
Hồ Tây, Hà Nội), dung tích khoảng 9 triệu m3; độ sâu
lớn nhất là 3,5m. Hồ có tọa độ địa lý 21o04’ vĩ độ Bắc,
105o50’ kinh độ Đông
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 1996 -
2018 về số lượng loài TVPD được trình bày ở Bảng 2
[2, 3, 5, 7, 8].
Bảng 2. Tổng hợp diễn biến thành phần TVPD từ năm
1996 - 2018
Ngành tảo
1996 2002 2007 2009 2011 2018
Tảo silic -
12
73
19
18
71
12
12
20
12
13
21
21
21
19
15
33
22
23
Bacillariophyta
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Tảo lục -
Chlorophyta
Vi khuẩn
Lam -
Cyanobacteria
Phương pháp phân tích mẫu tảo
Tiến hành thu mẫu TVPD (tảo) tại 9 địa điểm (Bảng
1). Phân tích Chlorophyll - a theo phương pháp của
Lorenzen (1967). Mẫu được lọc qua giấy lọc GF/C với
kích thước lỗ 45µm, sau đó chiết bằng aceton 96%.
Tảo mắt -
7
4
7
4
8
0
10
0
14
3
18
-
Euglenophyta
Đánh giá mức độ ô nhiễm hồ theo chỉ số sinh học
[11]
Sử dụng phương pháp Palmer (1969) để đánh giá
mức độ ô nhiễm của nước hồ dựa vào sự xuất hiện của
một số chi, hoặc loài tảo điển hình. Khung đánh giá
theo Palmer (1969) về các chi, loài tảo chịu ô nhiễm
như sau:
- Chi/ loài tào điểm 0 - 10: chi/loài tảo không chịu
ô nhiễm
- Chi/ loài tảo điểm 11 - 15: chi/loài chịu ô nhiễm
trung bình.
Tảo giáp -
Pyrropphyta
Tổng cộng
115 112
52
65
72
96
Sau hơn 20 năm đa dạng loài TVPD thay đổi như
sau: Ngành tảo Silic tăng từ 12 lên 33 loài, trong khi đó,
ngành tảo Lục giảm đáng kể từ 73 xuống 22 loài. ành
phần loài của ngành tảo Mắt và vi khuẩn Lam cũng
tăng tương ứng từ 7 lên 18 loài và 19 lên 23 loài.
3.2. Đánh giá mối liên quan giữa phân bố tảo với
điều kiện sinh thái
Kết quả về tần suất xuất hiện các chi tảo có khả năng
chịu ô nhiễm tại Hồ Tây được trình bày ở Bảng 3.
- Chi/ loài tảo điểm 16 - 20: chi/loài tảo có thể ô
nhiễm ở mức độ cao.
- Chi/loài tảo trên 21 điểm: chi/loài tảo chắc chắn
chịu ô nhiễm ở mức độ cao
Kết quả Bảng 3 cho thấy, so với năm 2011, vào năm
2018, số lượng loài trong một chi tảo được đánh giá
có khả năng chịu đựng với môi trường ô nhiễm tăng.
Nhiều loài tảo trong các chi tảo được đánh giá có
mức chịu đựng cao nhất đối với môi trường ô nhiễm
đều xuất hiện nhiều hơn trong năm 2018 đó là các
chi Nitzschia, Navicula, Chlorella, Euglena. Đặc biệt,
loài tảo Chlorella vulgaris được đánh giá là một trong
những loài tảo có mức chịu đựng môi trường ô nhiễm
cao nhất đã xuất hiện vào năm 2018. Đồng thời, nhiều
chi Microcystis thuộc ngành vi khuẩn Lam có thể gây
hiện tượng bùng phát tảo và gây độc cho nước cũng
xuất hiện nhiều hơn trong năm 2018. Như vậy, các chi
tảo có khả năng chịu đựng môi trường ô nhiễm xuất
hiện nhiều hơn
Phương pháp đánh giá tương quan: Đánh giá mối
quan hệ giữa 2 đại lượng nhiệt độ nước mặt (x) và hàm
lượng Chlorophyll-a (y) theo hệ số tương quan và kiểm
định độ tin cậy của hệ số tương quan theo Phạm Tiến
Dũng (2006) [4].
Phương pháp đánh giá tác động BĐKH: Đánh giá
tác động của BĐKH đối với thành phần TVPD được
thực hiện theo phương pháp định tính, trong đó công
cụ chính là ma trận đánh giá. Phương pháp và công cụ
theo Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của BĐKH
và xác định các giải pháp thích ứng của Viện Khí tượng
ủy văn BĐKH (2011) [6].
Phương pháp hồi cứu tài liêu: Tổng hợp, đúc rút và
kế thừa, áp dụng kinh nghiệm trên thế giới và trong
nước được thực hiện trước đó về nghiên cứu HST Hồ
Tây, dựa trên các số liệu thứ cấp như số liệu về thành
phần các loài TVPD được thu thập từ những nghiên
cứu thực hiện từ năm 1996 - 2018.
Xem xét mật độ tế bào sẽ cho thấy loài chiếm ưu thế
trong quần xã TVPD. Dựa trên kết quả một số nghiên
cứu thực hiện từ năm 1960 - 2018 về mật độ tế bào của
quần xã TVPD tại Hồ Tây để đánh giá diễn biến mật độ
TVPD, từ đó đánh giá diễn biến loài có mật độ chiếm
ưu thế. Kết quả trình bày ở Bảng 4.
102 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
Bảng 3. Tần suất xuất hiện các chi tảo có khả năng chịu ô nhiễm tại Hồ Tây
Ngành
Chi
Điểm đánh giá
Số loài xuất hiện
2011
2018
6
3
Tảo silic -
Bacillariophyta
Nitzschia
Cymbella
Fragilaria
Synedra
Achnanthes
Navicula
Melorisa
Tổng số
98
24
33
58
19
92
51
3
2
-
3
2
-
3
2
3
4
14
3
1
4
1
1
4
4
25
2
2
4
2
1
Tảo lục - Chlorophyta Pediastrum
35
24
112
57
Coelastrum
Scenedesmus
Ankistrodesmus
Actinastrum
24
Chlorella
Oocystis
Chodatella
Tổng số
Microcystis
Oscillatoria
Spirulina
Euglena
112
28
-
-
-
10
1
3
2
8
2
1
2
1
15
4
3
3
10
4
Vi khuẩn Lam
-Cynobacteria
49
161
25
172
57
Phacus
Tổng số
16
40
24
64
Tổng cộng
Bảng 4. Diễn biến mật độ thực vật nổi ở Hồ Tây
ời gian 1960 - 1970 1997
Mật độ tế bào 3 - 200 triệu tb /l 600.000 - 10.600.000 tb/l
Ghi chú
2012
2018
98.400.000 -104.780.000 tb/l 122.700 -153.700 tb/l
Vi khuẩn Lam Vi khuẩn Lam chỉ chiếm Vi khuẩn Lam có mật độ rất Vi khuẩn Lam chiếm
chiếm 60 - 90% 40,3% về số lượng;
mật độ
lớn chiếm tới 60% tổng số trên 90%; tảo lục chiếm
5% và các nhóm khác có
Tảo Silíc lại chiếm ưu thế, TVPD
đạt 65,5% về khối lượng
mật độ không đáng kể
Kết quả cho thấy, mật độ TVPD tại Hồ Tây biến động
Kết quả phân tích về tương quan giữa nhiệt độ nước
khá lớn phụ thuộc vào mùa trong năm. Tuy nhiên, mật độ Hồ Tây và hàm lượng Chl.a cho thấy, hệ số tương quan
của vi khuẩn Lam tăng dần, vào năm 1997, vi khuẩn Lam giữa nhiệt độ và hàm lượng Chl.a là r*=0.9451 ở mức ý
chỉ chiếm 40,3%, đến năm 2012, chiếm 60% và đến 2018 nghĩa 0,05. eo kết quả này (0,9 ≤ r ≤ 1) cho thấy, hai đại
chiếm 90%. Điều này cho thấy, hiện vi khuẩn Lam đang lượng có mối quan hệ rất chặt chẽ.
là loài ưu thế của quần xã TVPD tại Hồ Tây. Đồng thời,
trong thành phần vi khuẩn Lam có nhiều chi có thể gây
bùng nổ như các chi Microcystis, Anabaene.
Như vậy, có thể thấy, nhiệt độ có ảnh hưởng rất rõ rệt
lên sinh khối TVPD, làm tăng cường sinh khối của TVPD
tại hồ, nhưng lại làm tăng ô nhiễm hữu cơ khi tảo chuyển
sang pha suy vong.
3.3. Tác động của BĐKH đến sự phát triển TVPD
b. Ảnh hưởng của BĐKH đến sự phát triển vi khuẩn
Lam ở Hồ Tây
a. Nhận diên mối quan hê giha nhiêt độ và hàm
lượng Chlorophyll a
Khí hậu nóng lên và pH thay đổi theo hướng axit
hóa, hoặc kiềm hóa là những vấn đề được quan tâm, làm
thay đổi HST nước ngọt. Tảo Lục với các chi Closterium,
Cosmarium… được coi là một loài đặc trưng của ao hồ
Hàm lượng Chlorophyll-a (Chl.a) được coi là chỉ thị
cho mật độ tảo, giá trị Chl.a càng cao chứng tỏ sinh khối
của tảo càng lớn.
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 103
▲Hình 1. Mối quan hê giha nhiêt độ và hàm lượng Chl.a
▲Hình 2. Đồ thị diễn biến thông số pH của nước Hồ Tây giai
đoạn 2010 - 2020
nói chung trong điều kiện dinh dưỡng ổn định và không (lớn hơn 7) liên tục trong 10 năm và có xu hướng tăng lên
ô nhiễm. Tuy nhiên, khi có sự thay đổi nhiệt độ và môi trong thời gian 2016 - 2020. pH cao là hệ quả của việc tảo
trường sống, thành phần tảo biến đổi nhanh chóng. eo phát triển mạnh do quá trình quang hợp mạnh mẽ của tảo
Jingwen Yang, sự cạnh tranh giữa vi khuẩn Lam và tảo đã tiêu thụ một lượng đáng kể CO2 khiến cho cân bằng
2
Lục đã ảnh hưởng đến diễn thế của TVPD quyết định loài CO2 trong nước chuyển dịch về phía tạo ra ion CO3- làm
nào chiếm ưu thế trong quần xã TVPD [13].
tăng pH của nước. pH tăng cao lại là điều kiện thuận lợi
thúc đẩy vi khuẩn Lam phát triển, đặc biệt là các chi gây
độc. Kết hợp với điều kiện nhiệt độ cao, nhất là trong các
giai đoạn nắng nóng kéo dài, đây là điều kiện thuận lợi để
vi khuẩn Lam với các chi như Microcystis phát triển.
ĐểđánhgiásựcạnhtranhgiữatảoLụcvàvikhuẩnLam
trong các điều kiện môi trưởng thay đổi, một nghiên cứu
thực nghiệm đã được thực hiện với Microcystis aeruginosa
và Scenedesmus Obquus ở nhiệt độ từ 15 - 35°C và khoảng
pH từ 5 - 9. Kết quả cho thấy, Scenedesmus Obquus cạnh
tranh cao hơn ở 15°C. Ở nhiệt độ 20 - 30°C, quần thể của vi khuẩn Lam phát triển và chiếm ưu thế trong quần thể
Scenedesmus và Microcystis đều bị ức chế bởi sự hiện diện TVPD ở Hồ Tây như sau:
Như vậy, quá trình mà BĐKH (nhiệt độ tăng) đã làm
của nhau. Trong giai đoạn ban đầu, Scenedesmus Obquus
đã thống trị cạnh tranh, nhưng cuối cùng đã bị thay thế
bởi M. aeruginosa. Microcystis giữ lợi thế cạnh tranh ở
35°C. Trong khi Scenedesmus vượt qua Microcystis ở
điều kiện axit (pH ≤ 6) thì các điều kiện trung tính và kiềm
yếu (pH 7 - 9) đã hỗ trợ việc thay thế sự thống trị cạnh
tranh từ Scenedesmus thành Microcystis. Nghiên cứu cho
thấy, sự ấm lên của khí hậu có thể đẩy nhanh quá trình kế
thừa từ tảo Lục sang vi khuẩn Lam cùng với sự nở hoa của
vi khuẩn Lam. Đồng thời, quá trình kiềm hóa nước khiến
Microcystis càng trở thành một đối thủ cạnh tranh mạnh
hơn lấn át tảo Lục [13].
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra khi nhiệt
độ trong khoảng 20oC sẽ tạo ra sự cạnh tranh đáng kể giữa
vi khuẩn Lam với các loài tảo Lục và tảo bám, nhưng khi
nhiệt độ trên 25oC thì sẽ thúc đẩy trực tiếp sự sinh trưởng
của vi khuẩn Lam so với các loài tảo khác. Đồng thời, vi
khuẩn Lam sẽ trở nên ưu thế trong tập hợp các loài TVPD
trong môi trường phú dưỡng, đặc biệt là các giai đoạn ấm
nhất trong năm [10].
(i) Nhiệt độ kết hợp với nồng độ CO2 cao trực tiếp thúc
đẩy sinh trưởng của tảo.
(ii) Sinh khối TVPD tăng lên, làm cho pH tăng dần do
quá trình quang hợp tảo sử dụng nhiều CO2 dẫn đến dịch
chuyển cân bằng pH trong nước theo hướng kiềm hóa.
pH tăng cao là điều kiện thuận lợi thúc đẩy vi khuẩn Lam
phát triển, đặc biệt là các chi gây độc và hiện tượng bùng
phát tảo.
c. Dự báo tác động của BĐKH đến sự phát triển
TVPD và vi khuẩn Lam
Đánh giá và dự báo tác động BĐKH (nhiệt độ, cực
đoan thời tiết) đến sự phát triển TVPD được trình bày ở
Bảng 5.
4. Kết luận
ứ nhất, thành phần loài TVPD ở Hồ Tây đã có sự
thay đổi đáng kể ngành tảo Silic tăng lên, tảo Lục giảm đi,
vi khuẩn Lam tăng lên; các loài chịu ô nhiễm xuất hiện
nhiều hơn.
ứ hai, nhiệt độ thúc đẩy tảo phát triển mạnh làm
cho pH tăng dần. pH tăng cao lại là điều kiện thuận lợi
thúc đẩy vi khuẩn Lam phát triển, đặc biệt là các chi gây
Các nghiên cứu trên đã lý giải quá trình chuyển đổi ưu
thế của vi khuẩn Lam ở Hồ Tây.
eo kết quả trên Hình 2, pH của Hồ Tây khá cao
Bảng 5. Đánh giá và dự báo ảnh hưởng của BĐKH đến sự phát triển TVPD
Những tác động chính Đánh giá tác động của Những rủi ro và thiệt Dự báo
của BĐKH
BĐKH đối với TVPD
hại có thể xảy ra
Ô nhiễm gia tăng
pH tăng
Nhiệt độ tăng, các hiện Tảo phát triển mạnh
tượng thời tiết cực đoan,
nắng nóng kỷ lục kéo dài
hơn
ay đổi thành phần loài TVPD: Các loài
chịu ô nhiễm cao, các chi tảo gây độc và
nở hoa xuất hiện nhiều hơn.
Vi khuẩn Lam phát triển mạnh và ngày
càng chiếm ưu thế trong quần xã TVPD.
104 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
độc và hiện tượng bùng phát tảo. Vi khuẩn Lam đang dần
ứ ba, BĐKH (nhiệt độ tăng và nắng nóng kéo dài) sẽ
trở thành loài có mật độ chiếm ưu thế trong hệ TVPD ở góp phần thay đổi thành phần loài TVPD, với các chi và
Hồ Tây.
loài tảo chịu ô nhiễm sẽ xuất hiện nhiều hơn và vi khuẩn
Lam tiếp tục chiếm ưu thế trong quần xã TVPD■
thái lòng Hồ Tây; đề xuất các biên pháp giảm thiểu ô nhiễm
và khai thác sư dụng hợp lý Hồ Tây" do UBND quận Tây
Hồ và Ban quản lý Hồ Tây quản lý và thực hiên, Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Trâm Anh (2018), Tác động của BĐKH đến chất
lượng nước hồ: Nghiên cứu điến hình cho Hồ Tây, Hà Nội,
Tạp chí Khoa học BĐKH, số 5, tr.11-19.
2. Lưu Lan Hương (2007), Mô hình hóa hê sinh thái ở Hồ Tây
- Hà Nội nhằm bảo vê và phát triển bền vhng, Đề tài đặc
biêt cấp ĐHQG, Mã số: QG - 06-35.
3. Lưu Lan Hương (2010), Xác định năng suất sơ cấp và năng
suất thứ cấp cho Hồ Tây, Hà Nội (bằng mô hình toán), Đề
tài đặc biêt cấp ĐHQG, mã số: QG-09-19.
9. Mai Đình Yên (2009), Prelimenary impacts of assessment
of Alien quatic animals/ fishes on Auqatic Biodiversity and
native fishes in Quaculture of Vietnam – sugestions the
measures of management them.13th world lake conference
China Wuham 2009.
10. Johnk K. D., Huisman J., Sharples J., Sommeijer B., Visser
P. M., Stroom J. M. (2008), Summer heatwaves promote
blooms of harmful cyanobacteria, Global Change Biology,
14, pp. 495-512.
4. Nguyễn ị Lan, Phạm Tiến Dũng (2006), Giáo trình
phương pháp thí nghiêm, NXB Nông Nghiêp, Hà Nội.
5. Dương Đức Tiến, nnk (1991), "Hiên trạng nước và vi tảo
(Microalgae) trong các thủy vực ở Hà Nội", Tạp chí Sinh
học, 15 (4).
11. Palmer C. M. (1969), A composite rating of algae tolerating
organic pollution, Journal of Phycology, 5 (1), pp. 78-82.
6. Viên Khí tượng ủy văn BĐKH (2011), Tài liêu hướng
dẫn: Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải
pháp thích ứng, NXB Tài nguyên môi trường và bản đồ
Viêt Nam, Hà Nội.
7. Viên Khoa học và Công nghê Môi trường, Đại học Bách
khoa Hà Nội (2018), Báo cáo đánh giá tác động môi trường
Dự án nạo vét bùn, bổ cập nước và xây dựng cột phun nước
cho Hồ Tây, Hà Nội.
12. SecretariatoftheConventiononBiologicalDiversity(2009),
Connecting Biodiversity ad Climate Change mitigation
and adaptation, report of the Second Ad hoc Technical
Expert group on Biodiversity and Climate Change.
13. Yang J., Tang H., Zhang X., Zhu X., Huang Y., Yang Z.
(2018), "High temperature and pH favor Microcystis
aeruginosa to outcompete Scenedesmus obliquus",
Environmental Science and Pollution Research, 25 (5), pp.
4794-4802.
8. Viên Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (2011), Đề án ''Điều
tra đánh giá hiên trạng ô nhiễm môi trường nước, hê sinh
RESEARCH ON THE IMPACT OF CLIMATE CHANGE ON THE
PHYTOPLANKTON IN HO TAY
Nguyen Tram Anh
Centre for environment and community research
Trinh i anh
Vietnam Association for Conservation of Nature and Environment
Doan Huong Mai
Faculty of Biology, VNU University of Sciences
ABSTRACT
Using a series of data on changes in phytoplankton components from 1996 to 2018, a series of data on some
water quality parameters (pH) from 2010 to 2020 to analyze the impacts of climate change on phytoplankton
portion and the relationship between current phytoplankton composition and water quality parameters. e
analysis results show that the genera/ species of algae that can tolerate environmental pollution appear more,
Cyanobacteria is the dominant species in the phytoplankton community. Temperature promotes algae bloom,
making pH increase gradually, create a favorable condition to promote the growth of Cyanobacteria. At the
same time, when algae die, it is an organic source that pollutes the lake. rough this mechanism, climate
change (increased temperature and extreme heat) will contribute to changing phytoplankton composition
with more tolerant algae genus and promoting Cyanobacteria to be dominant in phytoplankton communities.
Key words: Ho Tay, Phytoplantonk, Climate change.
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 105
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sự phát triển thực vật phù du tại hồ Tây", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_anh_huong_cua_bien_doi_khi_hau_den_su_phat_trien.pdf

