Rạn nhân tạo và khả năng ứng dụng cho bờ biển Việt Nam
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
RẠN NHÂN TẠO VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHO BỜ BIỂN VIỆT NAM
Nguyễn Thành Luân
Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển
Tóm tắt: Hiện nay có nhiều giải pháp công trình bảo vệ bờ biển chống xói lở như đê biển, kè lát
mái, tường chắn sóng, kè mỏ hàn, đê chắn sóng tách bờ... Đê chắn sóng tách bờ có tác dụng
giảm năng lượng sóng, giảm xói, gây bồi là giải pháp tương đối toàn diện, được đánh giá cao
với các dạng nhô và ngầm. Các kết cấu sử dụng thường là các khối bê tông đúc sẵn, đá đổ, dải
ngầm…Trong đó các các rạn nhân tạo (Artificial Reefs) là dạng công trình đa mục tiêu nhằm để
bảo vệ bờ biển, kích thích hệ sinh thái biển và phát triển du lịch, rất phù hợp với nhiều loại hình
bờ biển Việt Nam hiện nay. Bài báo sẽ cung cấp một số thông tin tổng quan ban đầu nhằm phục
vụ việc nghiên cứu ứng dụng rạn nhân tạo để bảo vệ bờ biển Việt Nam.
Từ khóa: rạn nhân tạo, Reefball, Geotube, đê chắn sóng, xói lở, bồi tụ
Summary: At present, there are many solutions to protect the coast from erosion such as sea
dykes, revetments, seawall, detached breakwater…. Detached breakwater reduces wave, erosion,
accretion whichs is a relatively comprehensive solution, is appreciated with emerged and
submerged form. Structures used are usually prefabricated concrete blocks, paving stones, reefs
... In which Artificial Reefs are multi-purpose structures designed to protect the coast, stimulate
the sea ecosystem and tourism development, very suitable for many types of coastal Vietnam,
today. The article will provide some initial overview information for research on the application
of artificial reefs to protect the coast of Vietnam.
Keywords: artificial reefs, Reefball, Geotube, breakwater, erosion, accretion
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *
trình ven biển) đã góp phần làm thay đổi bờ
biển. Các biện pháp đối phó nhằm kiểm soát
Bờ biển là vùng quá độ giữa lục địa và biển, là
xói lở phụ thuộc vào đặc điểm địa mạo, các
một tổng thể tự nhiên đặc sắc chứa đựng các
quá trình thủy động lực và vận chuyển bùn cát.
tài nguyên vô cùng phong phú. Đồng thời, đây
Khi đó một giải pháp ngay lập tức có thể áp
cũng là nơi chịu các mối nguy hiểm thiên
dụng để ngăn chặn xói lở bờ biển với các kết
nhiên thường xuyên bao gồm: lũ lụt, tác động
cấu cứng như đê chắn sóng, mỏ hàn, kè bảo vệ
của bão và xói lở bờ biển. Tuy vậy, nó liên tục
bờ… Ngày nay, các giải pháp vẫn được áp
điều chỉnh để thay đổi theo các quá trình của
dụng, nhưng đã thay đổi nhiều về hệ kết cấu,
sóng, triều và nguồn bùn cát cung cấp. Hệ quả
vật liệu nhằm tiết kiệm về chi phí xây dựng,
là, có những vị trí bờ biển tiến hoặc thoái lui.
đảm bảo mục tiêu giảm sóng, ngăn chặn xói lở
Đây là một quá trình tự nhiên và mong muốn
và thậm chí tăng cường môi trường sinh thái
đường bờ biển cát. Các nhà quản lý bờ biển
ven biển. Rạn nhân tạo (Artificial Reefs) hoặc
thường đối mặt với tình trạng xâm thực, xói lở
dải ngầm là dạng công trình đa mục tiêu nhằm
bờ biển. Các nguyên nhân có thể là các quá
để bảo vệ bờ biển, kích thích hệ sinh thái biển
trình tự nhiên (sóng, thủy triều, dòng chảy…),
và phát triển du lịch. Về mặt nguyên lý thì rạn
tác động của con người (khai thác cát, công
nhân tạo (viết tắt là RNT hoặc ARs) hoạt động
tương tự như đê ngầm giảm sóng, có tác dụng
làm giảm năng lượng sóng ở vùng gần bờ, từ
Ngày nhận bài: 08/01/2019
Ngày thông qua phản biện: 23/02/2019
Ngày duyệt đăng: 26/3/2019
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
1
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
đó hạn chế tác động gây xói lở bãi biển và nhau và chi phí xây dựng là 2 triệu US dollars.
nâng cao sự an toàn cho người tắm biển. RNT Gần đây một kết cấu mới đã được phát triển
có thể được xây dựng bằng nhiều loại vật liệu, với dạng khối cầu rỗng và có khoét các lỗ
cấu kiện khác nhau như đá đổ, khối bê tông, thủng (Reef Ball), được bố trí dưới đáy biển
ống vải địa bơm cát, hay bao tải cát. Trên thế nhằm giảm năng lượng sóng, vận tốc dòng
giới, Rạn nhân tạo được sử dụng từ rất sớm chảy và tạo ra nơi cư trú cho san hô và sinh vật
với nhiều mục đích khác nhau: bảo vệ bờ biển, biển. Rạn dạng cầu này đã được áp dụng ở một
chống giặc ngoại xâm…. Việc sử dụng rạn số nơi như phía nam biển Caribbe, Curacao,
nhân tạo vào phát triển nguồn lợi thủy sản Indonesia,... và đem lại những hiệu quả tích
được Nhật Bản bắt đầu từ những năm 1600. cực tới môi sinh và thu hút thêm khách du lịch.
Sau một thời gian xây dựng rạn san hô nhân
2.1. Hình dạng và kết cấu RNT
tạo bằng cao su và đá tảng để trồng tảo bẹ,
Vật liệu - Đá là vật liệu phổ biến trong kết
người Nhật đã phát hiện ra rằng ngoài tảo bẹ
cấu đê chắn sóng nói chung và RNT nói
phát triển thì mật độ cá ở vùng thả rạn tăng
riêng. Tuy nhiên việc thi công các kết cấu
lên theo thời gian và đây cũng là nền tảng cho
bằng đá ngập dưới nước là rất khó kiểm soát
việc phát triện rạn nhân tạo để bảo vệ và phát
và dễ bị mất ổn định do các tác động của
dòng chảy, sóng tràn vỡ.
triển nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu, ứng dụng rạn nhân tạo được phát
triển từ những năm 1970, cho đến nay đã có Ống địa kỹ thuật (Geotube) được làm từ vải
gần 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới địa kỹ thuật và được đổ đầy cát hoặc sỏi. Một
ứng dụng công nghệ này để bảo vệ bờ biển, kết cấu ống địa kỹ thuật thường có chiều dài
tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản. Nghiên khoảng 20 m, đường kính tương ứng là 3m
cứu này chỉ tập trung vào việc đánh giá tổng được sử dụng ở những vùng có độ sâu tương
quan liên quan đến kết cấu, khả năng giảm đối lớn. Thùng chứa cát bằng vải địa kỹ thuật
sóng gây bồi, bảo vệ bờ biển. Đây là những (GSC - Geotextile sand container) và các túi
nội dung quan trọng giúp các nhà khoa học, địa kỹ thuật rất giống với ống địa kỹ thuật
nhà đầu tư, nhà quản lý có cơ sở để xem xét nhưng có kích thước nhỏ hơn và thường được
áp dụng cho những khu vực cần bảo vệ vùng dùng ở những vùng biển nông gần bờ. Chi phí
ven biển Việt Nam.
để xây dựng một RNT bằng các GSC thường
lớn hơn so với các vật liệu khác do việc thi
công khó khăn hơn. GSCs và túi địa kỹ thuật
thường được sử dụng như dạng các công trình
gần bờ: công trình kè hoặc mái dốc hướng ra
biển. Hiện nay không có sẵn các phương pháp
thực nghiệm để phân tích, đánh giá tính ổn
định của công trình mà phải sử dụng kết hợp
phương pháp mô hình toán, mô hình vật lý
với thực tiễn và kinh nghiệm của các công
trình có trước.
2. ĐẶC ĐIỂM CHUNG RẠN NHÂN TẠO
Tùy thuộc vào những mục đích khác nhau, vật
liệu và kết cấu, cũng như các yếu tố về vị trí
khu vực đang được xem xét, tiêu chuẩn thiết
kế cho các dạng công trình này không dễ dàng
xác định sẵn được.
Rạn đá granite Cable Station, xây dựng năm
1999 ở tây Australia, được biết tới là dải ngầm
đầu tiên trên thế giới nhằm cải thiện điều kiện
sóng cho những người lướt ván. Một RNT
khác đã được xây dựng ở bãi biển Gold Coast,
Australia, như một công trình phục vụ duy trì
và ổn định nuôi bãi. Rạn này được cấu tạo bởi
300 bao cát với kích thước và hình dạng khác
Các dạng cấu kiện chế tạo sẵn: Có khá nhiều
loại hình dạng và kết cấu RNT chế tạo sẵn trên
bờ và lắp đặt dưới nước. Các cấu kiện này có
thể được làm bằng thép, gỗ, nhựa, cao su, sợi
thủy tinh... Với độ rỗng lớn, RNT dạng cấu
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
b), c)
kiện này có thể làm cho sóng tới bị vỡ nhào
gây ra những nhiễu động phía trên, trong rạn
ngầm, tạo ra các dòng xoáy, rối. Hầu hết các
cấu kiện RNT được thiết kế để tạo ra khu vực
cư trú cho các loài thủy sinh (O'Leary, 2001).
Một số ví dụ được thể hiện trong Hình 2.
a) Languedoc-Roussillon, Pháp;
Nienhagen, Đức (lỗ, reefball); d), e) Hy Lạp; f)
Sicily, Ý; g) Larvotto Reserve, Monaco; h)
Nordfjorden, Norway; i), j) Algarve, Bồ Đào
Nha; k) Odessa, Ukraine; l) Pool Bay, Anh
Cấu kiện reef ball thường có hình dạng một
bán cầu (Harris, 1995) và thường cao 1-2 m,
chân đế rộng 2 m. Reefball có thể được làm
bằng bêtông cường độ cao hoặc nhựa polyester
kết hợp sợi thủy tinh nên có khả năng chống
ăn mòn tốt. Chúng nhiều lỗ rỗng tạo nên độ
rỗng khá lớn (40-50%), độ nhám cao. Sự thô
ráp và các lỗ rỗng đảm bảo tạo ra một môi
trường thuận lợi cho sự phát triển đa dạng các
loài động, thực vật (Pilarczyk, 2003). Với cấu
trúc đặc biệt, các Reefball có thể tạo ra dòng
chảy rối, xoáy nước và áp lực thẳng đứng làm
suy giảm năng lượng sóng. Dưới sự tác động
sóng bão, hình dạng của reefball có thể làm
giảm tính ổn định bản thân cấu kiện nhưng bù
lại, các lỗ rỗng lại làm giảm tác động của lực
đẩy nổi do sóng gây ra.
Các Reef ball thường được gắn các phao
hơi để di chuyển từ bờ ra vị trí xây dựng,
sau đó làm xẹp phao hơi và đánh chìm
xuống đáy biển.
Hình 1. Một số dạng kết cấu RNT ở
bờ biển Châu ÂU
reef ball
TecnoReef
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
3
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Lốp ôtô cũ
Gạch BT rỗng
Khung BT hình múi.
Khối hộp BT hình chóp cụt
Hình 2. Các loại cấu kiện RNT khác nhau
Loại cấu kiện TecnoReef. được xây dựng từ bê
tông dựa trên các sản phẩm tự nhiên, ít gây tác
động đến hệ sinh thái. Mỗi cấu kiện bao gồm
các tấm hình bát giác có lỗ rỗng. Các cấu kiện
được lắp ghép bằng 3 tấm bát giác tạo nên một
hình dạng kim tự tháp đảm bảo sức bền và ổn
định khi chịu tác động của dòng chảy ngang
bờ và các lực kéo. Chúng có tác dụng làm
giảm dòng chảy ngang bờ, tăng lắng đọng bùn
cát xung quanh, bên trong cấu kiện. Các dòng
chảy phát sinh xung quanh, bên trong cấu kiện
tạo điều kiện di chuyển các chất dinh dưỡng
tạo điều kiện cho các loài động thực vật tồn tại
và phát triển.
sóng nên để tiêu tán sóng bề rộng đỉnh của
RNT nên thiết kế rộng hơn. Để xác định hiệu
chỉnh hiệu quả tiêu tán sóng, các thông số
được đánh giá là chiều cao R từ đỉnh tới mực
nước biển, độ cao sóng H0, chiều dài sóng L0
và bề rộng đỉnh B. Hiệu quả tiêu tán sóng của
RNT được khảo sát bằng mô hình thủy lực và
phương pháp phân tích (Hình 3,4) (Sawaragi
and Deguchi, 1988). Có thể thấy ở Hình 3, nếu
bề rộng định dài gấp đôi chiều dài sóng tới thì
chiều cao sóng truyền qua có thể giảm một nửa
chiều cao sóng tới cho dù sóng vỡ hay không
vỡ bởi rạn nhân tạo.
Hiệu ứng phá sóng tăng lên với độ sâu đỉnh
giảm theo ghi nhận của Yoshioka và cộng sự
(1993) và Ohnaka & Yoshizawa (1994). Ngoài
ra, khoảng cách di chuyển của sóng vỡ dài
hơn, tức là, đỉnh của các rạn càng rộng, hiệu
quả tiêu sóng càng cao, như trong Hình 4a.
2.2. Tiêu tán sóng
Đỉnh của RNT dưới mực nước biển, hiệu quả
tiêu tán sóng tương đối thấp hơn so với đê
chắn sóng tách bờ. Chức năng chính của RNT
phụ thuộc vào tính hiệu quả của sự tiêu tán
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Hình 4a cho thấy ảnh hưởng của tỷ lệ chiều sóng truyền (Ht) và chiều cao sóng nước
rộng đỉnh (B) và chiều dài sóng vùng nước sâu (Ho). F là phần đế (khoảng cách giữa
sâu (Lo) đến hệ số truyền của sóng cao KT. đỉnh của cấu trúc đến mực nước) như trong
Trong hình này, KT là tỷ số giữa chiều cao Hình 4b.
Trường hợp sóng vỡ
Trường hợp sóng không vỡ
Hình 3. Suy giảm chiều cao sóng qua rạn nhân tạo
a)
b)
Hình 4. Đặc điểm truyền sóng của rạn nhân tạo
Hiệu quả truyền sóng
Trong trường hợp RNT được xây dựng bằng
lớp vật liệu đá, d’Angremond đã đề xuất hệ số
truyền sóng Kt theo công thức (1) và (2) theo
tỷ lệ về bề rộng Bc với chiều cao hướng sóng
đến Hsi.
(2)
Tuy nhiên, RNT thường được xây dựng với các
loại khối bê tông. Trong trường hợp này Hanzawa
và nnk (1996) đã kiểm tra với nhiều mô hình thủy
lực và đề xuất công thức thực nghiệm sau:
(1)
(3)
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
5
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
cập đến. Trong số đó, Hanazawa (1996) đã
thực hiện các thử nghiệm sóng bất thường và
đề xuất công thức (5) để tính toán giá trị ổn
định của Ns:
(4)
(5)
Trong đó:
W- trọng lượng mỗi lớp phủ
Ht1/3: chiều cao sóng có nghĩa
γs: tỷ trọng của khối
Ss: trọng lượng khối trong nước biển
Hình 6 chỉ ra thông số thiệt hại của khối liên
quan tới thông số chiều cao đỉnh (R/Hi1/3)
dựa trên các tiêu chuẩn được quyết định tùy ý
trong quá trình thử nghiệm mô hình thủy lực
(chẳng hạn như các chú giải trong biểu đồ). Ns
là 1,8 cho tỷ lệ thiệt hại 0% và khoảng 2,3 cho
tỷ lệ thiệt hại 1% khi mực nước biển trên đỉnh
bằng 0, và cũng cho biết các đường xu hướng
hiển thị giới hạn khi thiệt hại trở thành 0%
hoặc 1%. Có thể thấy rằng sự ổn định tăng
mạnh khi mực nước biển trên đỉnh tăng lên,
và, nếu R / Hi1/3 là 0,4, Ns là 2,2 trên tỷ lệ 0%
thiệt hại và tăng lên tới 3,5 trên 1% hư hại.
Hình 5. Mối quan hệ giữa Kt và R/Hi1/3
Giá trị Kt được tính theo công thức (3) và (4)
là ước lượng chiều cao sóng sau công trình và
đây là giá trị hữu ích cho thiết kế. Hình 5 chỉ
ra sự so sánh kết quả của Kt theo thực nghiệm
và tính toán từ công thức (3) và (4).
2.3. Sự ổn định
Đối với thiết kế RNT, tính toán khối lượng ổn
định của lớp đá, khối, hoặc khối tiêu sóng là
một trong những yếu tố quan trọng nhất. Dựa
trên từng mô hình thủy lực thử nghiệm, cho
thấy nên sử dụng công thức thực nghiệm, vì sự
ổn định thay đổi giữa các vật liệu. Trong
trường hợp của một RNT bao gồm lớp đá, yêu
cầu trọng lượng cho đá dăm cuội đã được đánh
giá khác nhau bởi Uda (1990), Nakayama
(1994), và Takeda (1994). Tuy nhiên, có sự
khác biệt giữa các kết quả do độ dốc đáy khác
nhau, điều kiện sóng (cho dù đó là sóng
thường xuyên hoặc sóng bất thường) và tiêu
chuẩn giới hạn độ ổn định trong điều kiện thử
nghiệm mô hình thủy lực.
Hình 6: Mối quan hệ giữa Ns và R/Hi1/3
Đối với trường hợp khối bê tông, các nghiên
cứu của Asakawa (1992), Uda (1993),
Hanazawa (1996), và Tanino (1997) được đề
Bên cạnh các loại khối bê tông tổng thể, khi
lắp đặt một khối bê tông dạng RNT cho một
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
kết cấu đơn vị kết nối với nhau, rất khó để đạt nhất định và cách nhau bằng một khoảng trống
sự ổn định an toàn bởi các khối này khác với (AR). Sóng tới sẽ vỡ trên các dải ngầm làm
các khối bê tông khác. Đối với chiều cao sóng, tăng mực nước phía sau, năng lượng sóng bị
để đảm bảo tính ổn định bằng cách xác minh tiêu hao dẫn đến giảm chiều cao sóng. Các
sức cản sự hoạt động của các cấu trúc đơn vị hình từ 7b đến 7f thể hiện một số cách bố trí
theo số lượng khối.
mẫu đối với các RNT theo dạng chữ V hoặc
chữ Y ngược. Loại bố trí này thường gồm 2
cánh xiên tạo nên một góc nhọn tập trung tại
đới sóng vỡ hình thành một khu vực sóng vỡ
lan tức là những con sóng bắt đầu vỡ từ một
điểm trung tâm và tản ra hai bên làm cho năng
lượng sóng bị suy giảm nhanh chóng, hạn chế
tác động trực tiếp vào bờ, chống xói lở. Kiểu
bố trí như trong hình 7d và 7f thể hiện là có
một đoạn thẳng song song với bờ nên cơ chế
phá sóng sẽ là tổ hợp của loại bố trí truyền
Tuy nhiên, độ dài liên quan đến số khối yêu
cầu có thể trở thành chiều rộng đỉnh của một
rạn nhân tạo. Trong trường hợp lắp đặt rạn
nhân tạo, độ dốc đáy, điều kiện sóng, và điều
kiện độ sâu của khu vực dự kiến đặt cần được
xác nhận việc xác định chiều rộng đỉnh yêu
cầu bằng cách sử dụng thử nghiệm mô hình
thủy lực hai chiều.
2.4. Bố trí mặt bằng
Có rất nhiều cách phối hợp áp dụng cho RNT, thống với loại bố trí dạng chữ V hoặc chữ Y
đặc biệt là đối với những rạn được làm từ vải ngược. Với kiểu bố trí 7e và 7f, có một khoảng
địa kỹ thuật, tùy thuộc vào chức năng chính trống giữa hai cánh xiên với một kết cấu thấp
của nó. Từ mục tiêu công trình có thể chọn ra hơn hoặc không có tạo nên một đường rãnh
cách bố trí mặt bằng thích hợp (xem hình 7).
làm giảm cường cộ dòng rip, tăng an toàn cho
người lướt sóng.
2.5. Mặt cắt ngang RNT
Có nhiều hình dạng mặt cắt ngang kết cấu RNT
tùy vào vật liệu và chức năng chính.
Hình 8 minh họa một số cắt ngang của rạn dạng
như các bar chắn ngầm. Trong đó: Hình 8a thể
hiện rạn được xếp bằng các túi địa kỹ thuật
chứa cát; hình 8b thể hiện rạn bằng các ống địa
kỹ thuật chứa cát với các ống ở giữa được đặt
dọc theo bờ biển, các ống phủ ngoài ngắn và
bố trí theo phương ngang bờ; hình 8c thể hiện
rạn bằng đá đổ phủ khối Aquareef để tăng
cường tiêu giảm năng lượng sóng. Đây là loại
kết cấu khá phổ biến ở Nhật Bản; hình 8d thể
hiện rạn có lõi bằng túi, ống địa kỹ thuật bên
ngoài phủ đá
Khác với TGS, chiều rộng của rạn thường
khá lớn để tăng khả năng tiêu giảm năng
lượng sóng đồng thời mái dốc phía biển và
phía bờ đều lớn để giảm khối lượng và chi
phí xây dựng.
Hình 7. Các hình thức bố trí các RNT
Hình 7a là dạng bố trí truyền thống với các rạn
bằng đá đổ đặt song song cách bờ một khoảng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
7
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Hình 8. Một số dạng mặt cắt ngang điển hình của RNT
hơn hẳn so với chỉ riêng kè lát mái. Tuy
nhiên do hạn chế về kinh phí, kinh nghiệm
thực tế nên đến nay cũng mới chỉ có hai
công trình này. Giải pháp công trình kè mỏ
hàn có tác dụng gây bồi, tái tạo được đoạn
đường bờ đã xói nhưng cũng có hạn chế là
ngăn chặn gần như hoàn toàn dòng bùn cát
dọc bờ (longshore sediment transport), do đó
gây mất cân bằng bùn cát ven bờ, gây xói lở
mạnh ở phía hạ lưu công trình. Đối với khu
vực du lịch, loại công trình này phân chia bãi
biển thành các ô nhỏ và làm giảm mỹ quan
chung. Bên cạnh đó một nhược điểm nửa của
kè mỏ hàn là khả năng giữ dòng bùn cát
vuông góc với bờ kém, đặc biệt đối với
những vùng có hướng sóng chính vuông góc
với đường bờ, năng lượng sóng lớn. Gần
đây, trước tình hình cấp bách, một số tỉnh
như Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Huế đã
mạnh dạn thử nghiệm giải pháp đê chắn sóng
mềm bằng túi cát theo công nghệ Stabiplage
để bảo vệ bờ biển nhưng cho đến nay, giải
pháp này đã bộc lộ quá nhiều nhược điểm,
như chi phí xây dựng không thấp hơn so với
giải pháp công trình cứng, nhanh chóng bị
hư hỏng. Với những ưu điểm, khả năng ứng
dụng như đã phân tích ở trên, có thể thấy rạn
nhân tạo là giải pháp tương đối toàn diện,
3. ỨNG DỤNG RẠN NHÂN TẠO CHO
BẢO VỆ BỜ BIỂN Ở VIỆT NAM
Những đánh giá trên đây cho thấy, RNT là
một trong những kết cấu có thể áp dụng rất
linh hoạt ở các dạng bờ biển, độ dốc bãi biển
khác nhau. RNT như một đê ngầm giảm sóng
là dạng công trình chủ động được nhiều
nước phát triển trên thế giới ứng dụng để bảo
vệ bờ biển do hiệu quả mang lại vượt trội cả
về kinh tế và kỹ thuật so với các công trình
khác như mỏ hàn, kè biển..Giải pháp này
hiện nay được xem là đáp ứng được tiêu chí
đa mục tiêu như giảm sóng, giữ và phục hồi
rừng ngập mặn, hệ sinh thái… đồng thời
giảm thiểu tối đa được các tác động tiêu cực
đến môi trường tự nhiên sau khi xây dựng
công trình. Ở Việt Nam, nói chung cũng
đang có xu hướng chuyển đổi các công trình
bảo vệ bờ có tính truyền thống như kè mái
nghiêng sang các dạng công trình giảm sóng
với nhiều loại hình vật liệu và kết cấu khác
nhau để bảo vệ bờ biển bị xói lở. Một số năm
gần đây, đã mạnh dạn thử nghiệm loại hình
công trình kè mỏ hàn (groins) kết hợp với kè
lát mái như hệ thống kè mỏ hàn ở đê Thanh
Niên - Nam Định, hệ thống kè mỏ hàn bảo
vệ bờ biển Cần Giờ - thành phố Hồ Chí
Minh. Các công trình này có hiệu quả cao
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
khắc phục được những hạn chế của các giải Đây là loại công trình chưa từng được áp
pháp khác và đã được ứng dụng nhiều ở các dụng ở Việt Nam cho mục đích bảo vệ bờ
nước trên thế giới. Việc nghiên cứu áp dụng biển, tuy nhiên đội ngũ cơ quan nghiên cứu,
giải pháp này để bảo vệ bờ biển ở Việt Nam tư vấn thiết kế công trình biển hiện nay có
là rất khả thi, cụ thể:
đủ khả năng tiếp cận các vấn đề về lý thuyết
về loại công trình này để vận dụng vào điều
kiện Việt Nam. Bên cạnh đó, kết cấu công
trình không phức tạp như các dạng kết cấu
của đê chắn sóng tách bờ bảo vệ bể cảng, đê
ngăn sóng, giảm cát chống bồi lấp cửa sông,
kè mỏ hàn bảo vệ bờ biển đã được xây dựng
khá nhiều ở Việt Nam như đê chắn sóng
cảng Vũng Áng, cảng Dung Quất, đê ngăn
cát giảm sóng cửa Lò - Nghệ An, cửa sông
Cà Ty - Bình Thuận ... nên năng lực và trình
độ thi công của nhiều công ty xây dựng hiện
nay là đáp ứng được. Hơn nữa, ở Việt Nam
có đầy đủ các công cụ tính toán mô phỏng
như hệ thống bể sóng, triều kết hợp của
Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về
động lực học sông biển, đây là những bể
sóng hiện đại đáp ứng việc thực hiện các thí
nghiệm kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảm
sóng phục vụ công tác thiết kế.
- Về điều kiện áp dụng:
Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3260km,
có nhiều vịnh và bãi biển được xếp vào hàng
đẹp nhất thế giới như vịnh Hạ Long, vịnh
Nha Trang, bãi biển Đà Nẵng, bãi biển Mũi
Né - Bình Thuận, bãi biển Vũng Tàu v.v. Ở
những bãi biển này, những năm gần đây do
nhiều nguyên nhân khác nhau đã dẫn đến xói
lở bờ, gây ảnh hưởng đến hoạt động du lịch.
Điển hình như bãi biển Mũi Né, Phan Thiết –
Bình Thuận, Nha Trang- Khánh Hòa, bãi
Thuỳ Vân – Vũng Tàu, Hội An- Quảng Nam.
Bên cạnh đó có những khu vực thường
xuyên phải đối phó với hiện tượng biển xâm
thực mạnh như Hải Phòng, Nam Định, Huế,
Tiền Giang, Cà Mau ... gây ảnh hưởng rất
lớn đến sự ổn định phát triển dân sinh – kinh
tế. Các giải pháp đã được ứng dụng ở những
khu vực này có hiệu quả bảo vệ bờ thấp, vẫn
phải thường xuyên tu sửa và tính thẩm mỹ ở
những khu vực du lịch đô thị không cao. Do
đó việc áp dụng giải pháp mới là hoàn toàn
phù hợp.
4. KẾT LUẬN
Rạn nhân tạo đang được xem là loại công
trình khá hữu hiệu trong việc bảo vệ, duy trì
ổn định bờ biển hiện nay hiệu quả nhất hiện
naytrong các giải pháp bảo vệ bờ biển . Hiện
nay đã có hàng nghìn công trình loại này
được xây dựng trên khắp các bờ biển trên thế
giới, điển hình như Anh với 35.000 đơn vị
rạn, Philipin bắt đầu xây dựng rạn từ 1977
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chiều rộng
đỉnh đê đối với đê ngầm rất thấp dạng
ngưỡng ngầm nhân tạo (artificial reef) có
ảnh hưởng rất đáng kể đến hiệu quả giảm
sóng sau đê. Tuy nhiên xét thực tế điều kiện
Việt Nam nói chung có thể nhận thấy: đến nay có trên 100.000 đơn vị rạn, v.v.
Ngưỡng ngầm dù có ưu điểm vừa phát huy
hiệu quả giảm sóng, gây bồi vừa giảm ảnh
hưởng của công trình đối với cảnh quan
vùng biển du lịch, thân thiện với môi trường,
chi phí thấp (Pilarczyk, 2003).
Riêng ở Việt Nam chưa có loại công trình
này cho mục đích bảo vệ bờ biển. Cần có
nhiều nghiên cứu đầy đủ dưới góc độ kỹ
thuật - kinh tế để có thể ứng dụng rạn nhân
tạo trong việc bảo vệ bờ biển ở Việt Nam,
đặc biệt ở những khu vực bãi biển du lịch.
- Về kinh nghiệm thiết kế, thi công:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
9
CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Gianna Fabi và nnk, 2011, Overview on artificial reefs in Europe, Brazilian, Journal of
oceangraphy
[2] K. d’Angremond, J. W. van der Meer, and R. T. de Jong, Water transmission at
lowcrested structures, Coastal Eng. 2418–2426 (1996)
[3] T. Uda, Function and design methods of artificial reef (in Japanese), Ministry of
Construction, Japan (1988).
[4] K. Yoshioka, T. Kawakami, S. Tanaka, M. Koarai, and T. Uda, Design manual for
artificial reefs, in Coastlines of Japan. In Coastal Zone’93 (ASCE, 1993).
[5] T. Sawaragi, I. Deguchi, and S. K. Park, Reduction of wave overtopping rate by the use
of artificial reef. In Proc. 21st Int. Conf. Coastal Eng. ASCE (1988).
10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 53 - 2019
Bạn đang xem tài liệu "Rạn nhân tạo và khả năng ứng dụng cho bờ biển Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ran_nhan_tao_va_kha_nang_ung_dung_cho_bo_bien_viet_nam.pdf

