Ứng dụng mô hình SWAT đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tại tiểu lưu vực sông La Ngà

Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SWAT ĐÁNH GIÁ LƯU LƯỢNG DÒNG CHẢY VÀ  
BỒI LẮNG TẠI TIỂU LƯU VỰC SÔNG LA NGÀ  
Assessment of Water Discharge and Sediment Yield  
in La Nga Sub-Watershed using SWAT  
Nguyễn Kim Lợi(1), Nguyễn Hà Trang(2),  
(1) Khoa Môi trường và Tài nguyên – Đại học Nông Lâm TP.HCM  
(2) Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm – Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM  
ABSTRACT  
The water supply issues in Vietnam are especially acute in the watershed area where unexpected  
drought, soil erosion, nonpoint source pollution, reservoir eutrophication, and inappropriate  
development for stock farming or recreation have continuously lowered the essential level of  
water quality and quantity. On the other hand, the rapid increase of population and the driving  
force of economic growth further accelerate the need for various land uses within the watershed.  
To contemplate the scope of such problems, as experienced in many other developing countries,  
the efforts of pursuing integrated optimal planning to achieve the sustainable uses of these  
watershed resources becomes critical. Many studies have been made of multi-objective land-use  
planning under various conditions, such as those applied in an industrial complex, a watershed.  
However, very few of them focus on the evaluation of the optimal balance between economic  
development and environmental quality within a watershed.  
This study was applied SWAT Model and GIS technique to assess water quality, water discharge  
and sediment yield in La Nga sub-watershed and compare the result of two scenarios. The  
output of SWAT model indicated that land use change and deforestation impacted surface flow  
and sediment yield in La Nga sub-watershed. The year 2007(Scenario 2) less precipitation than  
at year 2002 (Scenario 1) but the surface flow (914.89) at year 2007 about 1.04 times compare  
with surface flow (882.72) at year 2002, and also sediment yield at year 2007 about 14.41 ton/ha  
compare with 11.49 ton/ha at year 2002. This figure is also shown that 15721.43 ha natural  
forest about 10 percent of studied area in 2002 was converted to rubber in 2007 which is cause  
surface flow 1.04 times increasing and also sediment yield in Tri An reservoir 1.25 times  
increasing.  
Keyword: Water quality, La Nga Sub-watershed, SWAT  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
123  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ đã khẳng định vị trí của Việt Nam trên thế giới. Tuy  
nhiên, mặt trái của nó chính là sự ô nhiễm môi trường. Một trong số đó là vấn đề suy thoái lưu  
vực. Sự suy thoái lưu vực là một hiện tượng đã và đang diễn ra trên toàn thế giới. Có rất nhiều  
nguyên nhân làm cho lưu vực suy thoái, nhưng quan trọng nhất là việc sử dụng không hợp lí tài  
nguyên. Hậu quả của sự suy thoái lưu vực là những trận lũ lụt, môi trường bị tác động xấu gây  
ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội của người dân trong vùng. Từ sau giai đoạn nền kinh tế mở  
cửa, phần lớn diện tích của lưu vực sông La Ngà được chuyển đổi sang những loại hình canh tác  
hay phát triển đô thị, mang nhiều lợi ích kinh tế. Chính vì thế, mục đích của nghiên cứu là ứng  
dụng mô hình SWAT và GIS để đánh giá chất lượng nước lưu vực sông La Ngà và cung cấp  
thông tin hỗ trợ cho nhà quản lí lựa chọn phương án quy hoạch tốt.  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
1. Mô hình SWAT  
SWAT (Soil and Water Assessment Tool) là công cụ đánh giá nước và đất. SWAT được  
xây dựng bởi tiến sĩ Jeff Arnold ở Trung tâm phục vụ nghiên cứu nông nghiệp (ARS -  
Agricultural Research Service) thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA - United States  
Department of Agriculture ). SWAT là mô hình dùng để dự báo những ảnh hưởng của sự quản lí  
sử dụng đất đến nước, sự bồi lắng và lượng hóa chất sinh ra từ hoạt động nông nghiệp trên những  
lưu vực rộng lớn và phức tạp trong khoảng thời gian dài. Mô hình là sự tập hợp những giải thuật  
toán để thể hiện mối quan hệ giữa giá trị thông số đầu vào và thông số đầu ra.  
SWAT cho phép mô hình hóa nhiều quá trình vật lí trên cùng một lưu vực. Ý nghĩa của  
mô hình SWAT là một lưu vực lớn có thể được chia thành nhiều tiểu lưu vực, mô hình hóa theo  
tiểu lưu vực mang lại lợi ích khi những vùng này tương đồng về đặc điểm sử dụng đất và tính  
chất đất. Sự phân chia này giúp người sử dụng có thể áp dụng kết quả nghiên cứu của một vùng  
này vào một vùng khác khi chúng có sự tương đồng nhất định.  
Thông tin đầu vào đối với mỗi tiểu lưu vực sẽ được tập hợp và phân loại thành những  
nhóm chính sau: khí hậu, HRUs, hồ, nước ngầm, sông chính và nhánh, đường phân thủy. Để dự  
báo một cách chính xác sự di chuyển của thuốc trừ sâu, phù sa và dưỡng chất thì mô hình cần  
phải phù hợp với những diễn biến đang xảy ra trong lưu vực. Mô hình thủy học trong lưu vực  
được phân chia thành hai nhóm chính, chúng có thể tồn tại riêng lẻ: Chu trình thủy văn nước  
ngầm: kiểm soát lượng nước, sự bồi lắng, dinh dưỡng và thuốc trừ sâu được đưa từ trong mỗi tiểu  
lưu vực ra sông chính. Chu trình nước trong hệ thống sông: kiểm soát quá trình di chuyển của  
dòng nước và quá trình bồi lắng diễn ra từ trong hệ thống sông ngòi của lưu vực đến cửa sông.  
2. Khu vực nghiên cứu  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
124  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Sông La Ngà ở thượng lưu có tên là Da R’Gna bắt nguồn từ các suối nhỏ ở vùng cao  
nguyên Di Linh, Bảo Lộc và Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng, chảy về huyện Tánh Linh, Đức Linh tỉnh  
Bình Thuận, các huyện Xuân Lộc, Định Quán tỉnh Đồng Nai rồi đổ vào hồ Trị An. Tổng diện  
tích của khu vực nghiên cứu là 158 931 ha chiếm 26.98% diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng Nai,  
thuộc địa bàn sáu huyện. Trong đó, diện tích thuộc huyện Tân Phú là: 3 800.180 ha; huyện Long  
Khánh: 14 854.460 ha; huyện Thống Nhất: 15206.025 ha; huyện Vĩnh Cửu: 33 751.071 ha;  
huyện Xuân Lộc: 9 345.296 ha; huyện Định Quán: 81 967.995 ha. Khu vực có chứa hồ Trị An,  
nơi đây là hợp lưu của hai sông La Ngà và Đồng Nai nên quá trình thủy văn diễn ra khá phức tạp.  
Phần lớn diện tích ở đây là rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trồng cây công nghiệp, đất trồng hoa  
màu và một số diện tích trồng lúa vì vậy đề tài tập trung vào vấn đề ô nhiễm phân tán gây ra bởi  
quá trình canh tác của con người và các quá trình xảy ra trong tự nhiên. Khu vực nghiên cứu  
được chia thành mười tám tiểu lưu vực.  
Hình 1: Khu vực nghiên cứu  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Hai chức năng chính của SWAT là: đánh giá chất lượng nước và đất tại khu vực nghiên  
cứu từ dữ liệu thực để thể hiện chất lượng môi trường của khu vực tương ứng với điều kiện địa  
hình, khí hậu và hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm nghiên cứu (kịch bản 1, năm 2002); sau khi  
thực hiện (kịch bản 1) sẽ thay thế bản đồ hiện trạng sử dụng đất của khu vực tại thời điểm nghiên  
cứu bằng bản đồ sử dụng đất năm 2007 với những điều kiện còn lại giữ nguyên (kịch bản 2).  
Phương pháp luận và tiến trình thực hiện như đươc trình bày trong Hình 2, 3.  
Trong nghiên cứu này tập trung đánh giá chất lượng môi trường đất nước, cung cấp thông  
tin hỗ trợ cho người quản lí. Dữ liệu đầu ra của SWAT cung cấp rất nhiều thông số: tổng khối  
lượng NO3 (vào/ra), tổng khối lượng NO2 (vào/ra), tổng khối lượng NH4 (vào/ra), tổng khối  
lượng P (vào/ra), lưu lượng dòng vào/ra, tổng khối lượng đất bồi lắng (vào/ra), tổng lượng phân  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
125  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
bón (vào/ra), tổng lượng thuốc trừ sâu (vào/ra)… Trong giới hạn của bài viết này chỉ lựa chọn  
một số thông số để xem xét.  
Hình 2: Phương pháp luận mô hình SWAT  
Hình 3: Sơ đồ tiến trình thực hiện  
1. Dữ liệu đầu vào  
Dữ liệu đầu vào của SWAT được sắp xếp theo từng cấp độ chi tiết: lưu vực, tiểu lưu vực  
hay đơn vị thủy văn. Những đối tượng đơn lẻ như: hồ, nguồn điểm có dữ liệu đặc trưng của đối  
tượng đó, và cũng nằm trong của lưu vực. Phương pháp được lựa chọn để mô hình hóa khả năng  
bốc hơi trực tiếp và gián tiếp sẽ ứng dụng trên tất cả các đơn vị thủy văn (HRU). Dữ liệu ở mức  
độ tiểu lưu vực là những số liệu giống nhau trên tất cả HRUs trong tiểu lưu vực đó nếu dữ liệu  
thuộc một quá trình được mô hình trong HRU. Tương tự với dữ liệu ở cấp HRUs.  
2. Dữ liệu đất và sử dụng đất  
Đề tài sử dụng số liệu đất được cung cấp từ Trung tâm nghiên cứu đất, phân và môi  
trường khu vực phía Nam. Bản đồ đất được trình bày trong Hình 5.  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
126  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 4: Qui trình xử lí dữ liệu đất  
Hình 5: Bản đồ đất khu vực nghiên cứu  
3. Dữ liệu sử dụng đất  
Các loại hình sử dụng đất tại tiểu lưu vực La Ngà trong năm 2002 và 2007 như được trình  
bày trong Bảng 1 và Hình 6 và 7.  
Bảng 1: Bảng mã sử dụng đất trong SWAT  
STT Tên loại hình sử dụng đất Mã trong SWAT  
Diện tích (ha)  
Năm 2002 (Sce 1) Năm 2007 (Sce 2)  
1
2
3
4
5
Rừng trồng  
Dân cư  
FRSD  
URBN  
RUBR  
WATR  
RNGB  
2201,863  
8846,573  
2201,863  
8980,665  
Cao su  
13828,220  
10557,930  
18833,600  
35917,800  
10557,930  
18325,560  
Sông, suối  
Đất trống  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
127  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
6
7
8
Đất mầu  
AGRR  
RICE  
FRST  
38123,710  
23052,240  
43486,860  
158931  
32129,500  
23052,240  
27765,430  
158931  
Đất chuyên lúa  
Rừng tự nhiên  
Hình 6: Bản đồ sử dụng đất lưu vực  
sông La Ngà năm 2002  
Hình 7: Bản đồ sử dụng đất lưu vực  
sông La Ngà năm 2007  
4. Dữ liệu thời tiết  
Dữ liệu thời tiết bao gồm các thành phần: Trạm đo, lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm  
không khí tương đối, năng lượng bức xạ mặt trời, tốc độ gió, cấu trúc tổng thể dữ lieu thời tiết  
được trình bày như trong Hình 8.  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
128  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 8: Cấu trúc tổng thể dữ liệu thời tiết  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Chất lượng môi trường của tiểu lưu vực La Ngà trong giai đoạn 2002 – 2007  
Kết quả từ mô hình SWAT được trình bày trong Bảng 2, 3, 4. Chúng tôi nhân thấy rằng  
tổng lượng nước trong 2 năm của lưu vực tương ứng với kịch bản 1 (2002) và kịch bản 2 (2007)  
là 4.00845x109 m3, 3.99456x109 m3. Lương đất bị xói mòn trong 2 năm tương ứng với dữ liệu sử  
dụng đất nắm 2002 và dữ liệu sử dụng đất năm 2007 là 3,606 triệu tấn, 4,364 triệu tấn. Tốc độ  
rửa trôi NO3 trung bình hằng năm tương ứng của 2 kịch bản 2002 và 2007 là 26,479 kg/ha,  
26,912 kg/ha.  
Bảng 2: Kết quả tổng hợp của toàn bộ lưu vực nghiên cứu – kịch bản 1  
Năm Lượng  
mưa  
Nước  
mặt  
Trữ  
lượng  
nước  
Bồi  
lắng  
NO3  
NO3  
NO3  
NO3  
N
P
bề mặt LATQ PERC CROP (Kg/ha) (Kg/ha)  
(mm)  
(mm)  
(tấn/ha)  
(Kg/ha) (Kg/ha) (Kg/ha) (Kg/ha)  
(mm)  
2002 2096.30 821.03 1139.05  
2007 2088.87 1008.75 1383.08  
11.20  
11.49  
3.79  
4.31  
0.18  
0.14  
41.03  
27.83  
12.96  
12.58  
39.43  
24.85  
4.82  
3.04  
Bảng 3: Kết quả tổng hợp của toàn bộ lưu vực nghiên cứu – kịch bản 2  
Năm Lượng Nước  
Trữ  
lượng  
nước  
Bồi  
lắng  
NO3  
NO3  
NO3  
NO3  
N
P
mưa  
mặt  
bề mặt LATQ PERC CROP (Kg/ha) (Kg/ha)  
(mm)  
(mm)  
(tấn/ha)  
(Kg/ha) (Kg/ha) (Kg/ha) (Kg/ha)  
(mm)  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
129  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
2002 2096.30 788.69 1132.95  
2007 2088.87 976.75 1380.44  
13.05  
14.41  
3.49  
4.04  
0.25  
0.17  
42.63  
24.12  
10.82  
9.98  
41.17  
25.79  
5.04  
3.16  
Bảng 4: Trung bình hằng năm của toàn lưu vực  
STT  
Thông số  
Đơn vị  
Kết quả  
Kịch bản 1  
(2002)  
Kịch bản 2  
(2007)  
1
2
3
4
5
6
Lương mưa  
mm  
2096,30  
882,72  
2088,87  
914,89  
Dòng chảy mặt  
Nước ngầm  
mm  
mm  
350,04  
330,64  
Tổng lượng nước  
Tổng bồi lắng  
mm  
1256,69  
11,343  
1261,07  
13,726  
tấn/ha  
Kg/ha  
Lượng NO3 rửa trôi  
46,029  
46,027  
Hình 9: Tiểu lưu vực 14  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
130  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 10: Đồ thị lượng mưa ở tiểu lưu vực 14  
Hình 11: Đồ thị lượng nước mặt và nước ngầm ở tiểu lưu vực 14  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
131  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 12: Đồ thị lượng xói mòn ở tiểu lưu vực 14  
Hình 13: Đồ thị lượng N hữu cơ ở tiểu lưu vực 14  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
132  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 14: Đồ thị lượng P hữu cơ ở tiểu lưu vực 14  
Hình 15: Đồ thị hàm lượng NO3 trong nước dưới bề mặt và nước ngầm ở tiểu lưu vực 14  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
133  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 16: Đồ thị lưu lượng dòng vào/ ra đoạn sông 14  
Hình 17: Đồ thị hàm lượng phù sa trong đoạn sông 14  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
134  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 18: Đồ thị lượng P vô cơ trong đoạn sông 14  
Hình 19: Đồ thị lượng NO3 trong đoạn sông 14  
Trong lưu vực sông La Ngà có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Nhìn chung mùa  
mưa thường kéo dài từ hạ tuần tháng tư – thượng tuần tháng năm đến thượng - trung tuần tháng  
mười một. Hình 12 cho thấy mùa mưa nơi tập trung nhiều từ tháng sáu đến hết tháng mười, đỉnh  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
135  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
điểm thường vào tháng 10. Lượng mưa là một trong những yếu tố quyết định đến chế độ thủy văn  
của lưu vực. Khí hậu lưu vực có hai mùa chính (mùa mưa và mùa khô) nên chế độ dòng chảy ở  
lưu vực cũng hình thành hai chế độ tương ứng: chế độ dòng chảy mùa mưa và chế độ dòng chảy  
mùa kiệt. Sự biến đổi dòng chảy hai mùa rất tương phản nhau.  
Hàm lượng NO3 _ N trong nước sông phụ thuộc rất nhiều vào lượng mưa và tốc độ dòng  
chảy tràn bề mặt. NO3 _ N trong nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ lượng phân bón hóa học mà cây  
trồng chưa sử dụng hết, nó bị rửa trôi và được đưa về sông chính, NO3 cũng có thể phát sinh từ  
sinh khối của thực vật thông qua quá trình phân hủy. NO3 gây ra những tác hại không tốt đến sức  
khỏe của con người. Tuy nhiên, nếu so sánh kết quả nồng độ NO3 _ N được tính bằng mô hình  
với tiêu chuẩn TCVN 5942 – 1995: Giá trị giới hạn cho phép của các thông số và nồng độ các  
chất ô nhiễm trong nước mặt - Nồng độ NO3 _ N: loại A(10 mg/l), loại B (15 mg/l), thì vẫn đạt  
được tiêu chuẩn.  
Hàm lượng đất bồi lắng phụ thuộc vào lượng mưa và lưu lượng dòng chảy, sự biểu diễn  
của hai đồ thị lưu lượng dòng chảy và hàm lượng bồi lắng tại cùng thời điểm tuân theo qui luật  
tương tự nhau. Lượng đất xói mòn/ bồi lắng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước và đất. Hàm  
lượng bồi lắng càng lớn tương ứng với lượng đất xói mòn càng cao và chất lượng nước càng  
thấp. Khi bị mất lớp bề mặt, đất trở nên cằn cỗi thiếu dinh dưỡng để canh tác, dẫn tới chi phí sản  
xuất tăng cao để có thể canh tác mà năng suất không cao.  
Về mặt môi trường, kịch bản 2 không tốt bằng kịch bản 1. Trữ lượng nước giảm, lượng  
xói mòn tăng, tốc độ rửa trôi tăng…Do kịch bản 2, diện tích rừng tự nhiên giảm thay vào đó là  
trồng cao su, diện tích đô thị tăng. Khả năng che phủ của cây cao su thấp hơn rừng tự nhiên. Đặc  
điểm canh tác cây cao su là trồng theo dãy và được làm cỏ sạch ở bề mặt đất.  
Trong đỉnh mùa mưa, vùng có khả năng xói mòn cao nhất là:  
Kịch bản 1: 12/10/2002  
Kịch bản 2: 12/10/2002  
2. Đánh giá mô hình  
2.1 Phân tích độ tin cậy của mô hình đối với (P)  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
136  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
R_squared = 8.47404%  
Standard error Est = 0.000137787  
Mean absolute error = 0.0000848831  
Durbin – Watson statistic = 2.47003  
P(est) = 0.000180583 - 0.00143244*obs  
Hình 20: Đồ thị xác định độ tin cậy của mô hình đối với (P)  
2.2 Phân tích độ tin cậy của mô hình đối với (NO3)  
R_squared = 26.3259%  
Standard error Est = 0.00199912  
Mean absolute error = 0.00160494  
Durbin – Watson statistic = 1.08319  
NO3 (est) = -0.000273 + 0.007765 *obs  
Hình 21: Đồ thị xác định độ tin cậy của mô hình đối với (NO3)  
Chúng tôi nhân thấy rằng, độ tin cậy của mô hình không cao là do các nguyên nhân sau:  
Mô hình SWAT mô phỏng chi tiết cho từng loại cây trồng, loại hình sử dụng đất, nhưng mức độ  
chi tiết của bản đồ hiện trạng sử dụng đất mà đề tài sử dụng chưa cao. Do điều kiện không cho  
phép nên nghiên cứu này chỉ xem xét đến ô nhiễm phân tán mà bỏ qua ô nhiễm tập trung (ô  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
137  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
nhiễm điểm). Điều này đã gây ra sai số khá lớn. Trong những nghiên cứu tiếp theo sẽ kết hợp ô  
nhiễm điểm hy vọng sẽ cải thiện được sai số của mô hình. Hơn nữa, do điều kiện kinh phí có hạn,  
nghiên cứu không thể tiến hành thu thập mẫu và tiến hành thí nghiệm để xác định các thông số  
của đất, việc sử dụng bảng tra gây ra sai số khá lớn. Mô hình SWAT là mô hình tích hợp, sử dụng  
và kế thừa nhiều mô hình trước đó. Mô hình SWAT có thể mô phỏng và xem xét tổng hợp các  
mối quan hệ của các quá trình diễn ra trong tự nhiên, để giải quyết bài toán môi trường, SWAT  
đòi hỏi số lượng dữ liệu đầu vào rất lớn. Đây cũng là điều kiện để nâng cao độ chính xác cho mô  
hình. Tuy nhiên, đặc thù ở Việt Nam, cơ sở dữ liệu nền còn rất thiếu, lại rải rác đã gây ra khó  
khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Trong quá trình sử dụng Mô hình SWAT đã nảy sinh  
một số vấn đề chưa tương thích với điều kiện ở Việt Nam.  
KẾT LUẬN  
Mô hình SWAT là mô hình tích hợp, có thể mô phỏng các quá trình diễn ra trong môi  
trường đất và nước. SWAT xem xét nhiều mối quan hệ, nhiều biến khi giải quyết bài toán môi  
trường. Điều này giúp người sử dụng có thế đánh giá chất lượng nước và đất trong thời gian dài  
trên khu vực rộng lớn và phức tạp. Đặc biệt, SWAT có thể mô phỏng sự lan truyền ô nhiễm điểm  
và ô nhiễm phân tán trong đất và nước. Mô hình SWAT là công cụ hỗ trợ đắc lực cho người ra  
quyết định để thực hiện bài toán quy hoạch, giúp dự báo những ảnh hưởng về mặt môi trường khi  
thay đổi quy hoạch sử dụng đất.  
Tuy nhiên, SWAT là một mô hình còn khá mới nên cơ sở dữ liệu sẵn có của chương trình  
vẫn chưa đáp ứng cho nhu cầu ứng dụng thực tiễn vào từng khu vực và từng nước cụ thể. Một  
vấn đề gặp phải khi sử dụng SWAT là mô hình đòi hỏi cần hệ thống dữ liệu đầu vào rất lớn, điều  
này gây khó khăn cho việc nghiên cứu SWAT ở Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
(1) Ann, V. G 2005. Sensitivity, auto-calibration, uncertainty and model evaluation in  
SWAT2005.  
(2) Arnold. J. nnk, 2008. Soil and Water Assessment Tool (SWAT) Global Applications.  
(3) Bulut, E. 2005. Assessment of management policies for lake Uluabat Basin using  
AVSWAT. The degree of master of science in environmental engineering – Middle East  
Technical University.  
(4) Loi, N.K., Reyes, M., Srinivasan, R., Ha, D.T., Nhat. T.T., and Trang, N.H. 2009. Assessing  
the Impacts of Vegetable Agroforestry System using SWAT: Nghia Trung Sub-watershed,  
Vietnam. Paper presented in the 5th International SWAT Conference in Boulder, Colorado  
on 3-7 August,2009.  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
138  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
(5) Neitsch, S.L. 2005. Soil and Water Assessment Tool Theoretical Documentation version  
2005. Grassland, Soil and Water research laboratory (Agricultural Research Service) Texas;  
Blackland research center (Texas Agricultural Experiment Station)  
(6) Neitsch, S.L. 2004. Input/ Output file documentation version 2005  
(7) Nguyễn Kim Lợi, 2006. Ứng dụng GIS trong quản lý tài nguyên thiên nhiện. NXB Nông  
nghiệp.  
(8) Nguyễn Kim Lợi, Trần Thống Nhất. 2007. Hệ thống thông tin địa lý phần mềm Arcview  
3.3. NXB Nông nghiệp  
(9) Trần Kông Tấu, 2005. Tài nguyên đất. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
(10) Sirinivasan. R. 2005. ArcSWAT, ArcGIS Interface for Soil and Water Assessment Tool  
(11) Winchell, M. 2007. ArcSWAT Interface for SWAT 2005 (User’s Gu  
__________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng mô hình Swat đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tiểu lưu vực sông La Ngà  
Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Hà Trang – ĐH Nông Lâm Tp. HCM, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Tp. HCM  
139  
pdf 17 trang yennguyen 18460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình SWAT đánh giá lưu lượng dòng chảy và bồi lắng tại tiểu lưu vực sông La Ngà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mo_hinh_swat_danh_gia_luu_luong_dong_chay_va_boi_la.pdf