Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, Hà Nội

226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
CURRENT ASSESSMENT AND RECOMMENDING SOLUTIONS TO  
IMPROVE EFFICIENCY MANAGEMENT OF SOLID WASTE IN CANH NAU  
COMMUNE, THACH THAT DISTRICT, HANOI  
Nguyen Thu Huong*, Tran Thi Ngoc Ha, Nguyen Truong Son  
TNU – University of Sciences  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
The paper focuses on the current situation of domestic solid waste  
management in the area of Canh Nau commune, Thach That district,  
Hanoi city. Research methods are information collection, actual survey  
methods, statistical methods and information processing. The article  
surveyed 359 households out of a total of 3,303 households. The  
average daily daily-life solid waste generation is 0.51 - 0.65 kg/  
person/day and the average amount of solid waste in the whole  
commune is 7.5 tons/day, however, domestic solid waste. In the  
commune, there are only 2 collection times a week and the gathering  
point is only about 500 m2, the amount of waste is regularly stagnant in  
the street. The form of collection and treatment of daily-life solid waste  
in the commune is outdated, there is no incinerator, only burning open  
waste, people's awareness, handling is limited, causing environmental  
pollution. The study also makes recommendations to improve the  
efficiency of local domestic solid waste management and reduce  
environmental pollution.  
Received:  
Revised:  
02/02/2021  
23/02/2021  
28/4/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Solid waste  
Management  
Pollution  
Canh Nau  
Collecting  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO  
HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI XÃ CANH NẬU,  
HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI  
Nguyễn Thu Hường*, Trần Thị Ngọc Hà, Nguyễn Trường Sơn  
Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 02/02/2021  
Ngày hoàn thiện: 23/02/2021  
Ngày đăng: 28/4/2021  
TÓM TẮT  
Bài báo tập trung nghiên cứu về hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh  
hoạt trên địa bàn xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.  
Phương pháp nghiên cứu là thu thập thông tin, phương pháp điều tra  
khảo sát thực tế, phương pháp thống kê và xử lý thông tin. Bài báo đã  
khảo sát 359 hộ dân trên tổng số 3.503 hộ. Với lượng phát sinh chất  
thải rắn sinh hoạt hàng ngày trung bình là 0,51 – 0,65 kg/ người/ ngày  
và lượng rác thải trung bình của của toàn xã là 7,5 tấn/ ngày tuy nhiên  
chất thải rắn sinh hoạt trong xã 1 tuần chỉ có 2 lần thu gom và điểm tập  
kết rác diện tích chỉ đạt khoảng 500 m2, lượng rác thường xuyên ùn ứ  
ra đường. Hình thức thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã còn  
lạc hậu, chưa có lò đốt rác, chỉ đốt rác lộ thiên, ý thức người dân, xử lý  
còn hạn chế, gây ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu cũng đưa ra những  
đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt  
tại địa phương, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.  
TỪ KHÓA  
Chất thải rắn  
Quản lý  
Ô nhiễm  
Canh Nậu  
Thu gom  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
25  
226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh tại khu vực nông thôn có khối lượng ngày càng  
tăng, từ 18.200 tấn/ngày trong năm 2011 lên 28.394 tấn/ngày trong năm 2019 [1]. Khối  
lượng CTRSH phát sinh của khu vực nông thôn chiếm khoảng 45% tổng lượng CTRSH của  
cả nước. Trong số đó có đến 44% CTRSH ở nông thôn chưa được thu gom và xử lý chưa  
đúng quy định. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nông  
thôn [1].  
Hiện nay đã có một số nghiên cứu về vấn đề quản lý CTRSH tại một số khu vực nông thôn  
như huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình [2]; huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình [3]; xã Minh Nghĩa,  
huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa [4], địa bàn tỉnh Bắc Ninh [5]. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu  
nào thực hiện tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội về vấn đề CTRSH để đưa ra  
giải pháp gắn với thực tế đặc trưng làng nghề thủ công mỹ nghệ riêng của địa phương.  
Xã Canh Nậu nằm ở Đông Nam huyện Thạch Thất, phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ, phía Tây  
giáp xã Hương Ngải [6], là một xã thuộc thành phố Hà Nội, với tổng diện tích tự nhiên là 50.482  
ha. Trong những năm gần gây, kinh tế của xã ngày càng đi lên nhờ sự phát triển của làng nghề  
thủ công mỹ nghệ (70,4% lao động có thu nhập từ thủ công mỹ nghệ). Nhưng cùng với sự phát  
triển kinh tế, phát triển làng nghề, gia tăng dân số và sự lãng phí tài nguyên thì lượng CTRSH  
càng ngày càng tăng lên.  
Năm 2013, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 16/2013/QĐ-UBND, ngày  
3/6/2013 về việc quy định quản lý chất thải rắn thông thường trên địa bàn thành phố Hà Nội  
[7]. Theo đó, rác thải sinh hoạt được phân loại và thu gom để đưa đến nơi xử lý. Tuy nhiên vấn  
đề này thực hiện còn chưa được triệt để. Thực tiễn ở một số địa phương cũng cho thấy người  
dân chủ động thu gom rác thải của hộ gia đình, xử lý bằng hình thức chôn lấp hoặc tự vận  
chuyển rác đến bãi tập kết chung của xã, thị trấn đã gây nhiều khó khăn cho khâu quản lý và xử  
lý do rác thải chưa được phân tách theo đặc trưng chất thải [8]. Việc quản lý môi trường tại xã  
Canh Nậu hiện còn gặp nhiều khó khăn và chưa hiệu quả do nguồn lực còn hạn chế, người dân  
chưa quan tâm nhiều tới môi trường, vấn đề môi trường chưa được nhìn nhận, đánh giá một  
cách đúng đắn, vẫn còn tình trạng vứt rác bừa bãi, đốt rác lộ thiên gây ô nhiễm môi trường [1].  
Trước thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất giải pháp cho địa phương để  
cải thiện vấn đề môi trường.  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Bài báo tập trung nghiên cứu công tác quản lý CTRSH trên địa bàn xã Canh Nậu, huyện  
Thạch Thất, Hà Nội.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp thu thập tài liệu:  
Trong nghiên cứu này, tác giả đã thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu, số liệu liên quan  
đến nội dung nghiên cứu bài báo  
Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế tại khu vực nghiên cứu  
Tác giả đã đi thực địa để thu thập thông tin, tiến hành điều tra khảo sát theo bảng hỏi để đánh  
giá được thực trạng công tác quản lý, thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu.  
Thông tin sơ cấp:  ác định số đơn vị mẫu cần chọn, cỡ mẫu là 359 phiếu Theo SLovin n =  
N/(1 + Ne2). Tổng số 3.503 hộ [6].  
26  
226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Khái niệm CTRSH và tác động của CTRSH tới môi trường, xã hội  
Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt  
thường ngày của con người [9].  
Tác động nói chung của CTRSH đến môi trường đất, nước, không khí và cảnh quan. Do đặc  
tính về kích thước (thô) và bao gồm cả các thành phần khó phân hủy theo thời gian (bền vững  
trong môi trường tự nhiên) như nhựa, cao su, vải…, tác động dễ nhận biết nhất của CTRSH là  
ảnh hưởng đến cảnh quan. Có thể dễ dàng tìm thấy rất nhiều hình ảnh về các bãi rác lộ thiên gây  
mất mỹ quan tại các đô thị, khu dân cư, khu vực công cộng.  
Ngoài ra, các vụ việc xung đột xã hội có nguyên nhân từ CTRSH vẫn thường xuyên diễn ra,  
chủ yếu phát sinh do việc lưu giữ, vận chuyển, xả thải, chôn lấp CTRSH, điển hình là những vụ  
việc gần đây tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khi dân phản đối do vấn đề ô nhiễm tại các  
cơ sở xử lý CTRSH vẫn diễn ra trong nhiều năm qua.  
3.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Canh Nậu  
3.2.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu  
Dân số xã Canh Nậu năm 2019 là 15.033 người, với mật độ dân số là 2968,2 người/km2, với  
tổng diện tích là 50.482 ha. Xã bao gồm 6 thôn là thôn 1, thôn 2a, thôn 2b, thôn 3, thôn 4a, thôn  
4b [8]. CTRSH trên địa bàn xã Canh Nậu phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có một số  
nguồn phát sinh chính được liệt kê trong bảng 1.  
Bảng 1. Các nguồn phát sinh CTRSH  
TT  
1
2
Các nguồn phát sinh CTRSH  
Tiểu thủ công nghiệp  
Nông nghiệp  
Tỉ lệ (%)  
18,31  
7,80  
3
4
Cơ quan hành chính  
Chợ  
9,40  
5,90  
5
6
7
Khu công cộng  
Khu dân cư  
Trạm y tế  
2,13  
54,70  
1,76  
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2019  
Qua kết quả ở bảng 1 có thể thấy rằng, CTRSH tại xã Canh Nậu có nguồn phát sinh từ khu  
tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, cơ quan hành chính, chợ, khu công cộng, khu dân cư, trạm y  
tế. Trong đó tỉ lệ CTRSH từ khu dân cư chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là CTRSH từ khu tiểu thủ  
công nghiệp. Tỉ lệ CTRSH phát thải ra ít nhất là tại trạm y tế và tiếp đến là khối cơ quan hành  
chính và các khu vực công cộng.  
54,7% CTRSH phát ra từ khu dân cư, con số này cao gần gấp bốn CTRSH phát sinh ra từ khu  
tiểu thủ công nghiệp và cơ quan hành chính chiếm tỉ lệ lần lượt là 18,31% và 9,4%. Mặc dù tại xã  
Canh Nậu, có đến 70,4% lao động có thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp [8], ngành nghề chính là  
đồ gỗ mỹ nghệ nhưng CTRSH từ tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là giấy ráp, lưỡi cưa, vỏ lon sơn  
vecni. Ngoài ra còn có các mẩu gỗ thừa hay mùn cưa nhưng đã được người dân thu gom về đun  
nấu. Khối cơ quan hành chính, chủ yếu là khối công sở ủy ban nhân dân xã, trường học thải ra  
lượng CTRSH là 9,4%: Nguồn thải có thành phần chủ yếu là giấy, bìa carton, nilon, vỏ chai  
nhựa, vỏ lon và một lượng lớn chất hữu cơ có khả năng phân hủy như thực phẩm.  
CTRSH có nguồn gốc từ nông nghiệp chiếm tỉ lệ 7,8% trong đó chủ yếu là bao bì thuốc bảo  
vệ thực vật, tấm lưới bảo vệ lúa, túi nilon bọc hoa quả, rễ cây. Tiếp đến là CTRSH từ chợ chiếm  
5,9%, chất thải rắn từ chợ chiếm một lượng lớn, thành phần chủ yếu là các loại chất hữu cơ rau  
củ quả thừa, thức ăn cũ hỏng, túi nilon, hộp xốp.  
27  
226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
Khu công cộng như nhà văn hóa thôn, CTRSH chiếm 2,31% chủ yếu là xốp, bìa carton. Đó là  
khu vực sân rộng làm chỗ đá bóng cho trẻ con và người lớn, nơi tập trung hàng quán uống nước  
của thanh niên. Nguồn chất thải này có thành phần khá đa dạng như chai lọ nhựa, cành cây, xác  
động thực vật, túi nilon. Và tỷ lệ thấp hơn về lượng CTRSH là 1,76% tại trạm y tế xã, chủ yếu là  
chất thải của cán bộ trong trạm y tế và bệnh nhân đến thăm khám. Lượng CTRSH trong trạm y tế  
được tách riêng với chất thải nguy hại trong bệnh viện còn rác thải từ đồ ăn được bỏ vào thùng  
đựng rác thải sinh hoạt trong trạm y tế.  
Bảng 2. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt  
Khối lượng rác thải  
Số phiếu  
Tỷ lệ (%)  
(kg/ người/ ngày)  
0,2 - 0,3  
0,3 - 0,4  
0,4 - 0,5  
0,5 - 0,6  
0,6 – 0,7  
> 0,7  
7
15  
26  
98  
173  
40  
1,95  
4,18  
7,24  
27,30  
48,20  
11,13  
100  
Tổng  
359  
Nguồn: Kết quả điều tra năm 2019  
Theo kết quả điều tra ở bảng 2 cho thấy, trên địa bàn toàn xã, trung bình mỗi người mỗi ngày  
thải ra môi trường khoảng 0,51-0,65 kg CTRSH. Trong đó có gần một nửa số hộ (48,2%) trung  
bình thải mỗi ngày từ 0,6-0,7 kg rác thải, tỉ lệ số hộ thải ra lượng rác thải cao hơn trung bình này,  
chiếm tỉ lệ cao nhất. Như vậy, với tổng số dân là 15.033 người thì tổng khối lượng CTRSH phát  
sinh trên địa bàn xã Canh Nậu khoảng 7,5 tấn CTRSH/ ngày. Ngoài ra còn một lượng lớn CTR  
phát sinh từ các khu chợ, khu công cộng, khu hành chính, trường học. Theo số liệu thống kê của  
UBND xã thì lượng CTRSH phát sinh từ các nguồn đó chiếm khoảng 2,1 tấn/ ngày [1].  
0.2%  
Chất hữu cơ  
24.3%  
Có thể tái chế, tái sử dụng  
Vô cơ  
58.4%  
17.1%  
Chất thải Nguy hại  
Hình 1. Thành phần CTRSH phát sinh tại xã Canh Nậu  
Từ kết quả ở hình 1 có thể thấy, CTRSH là chất hữu cơ dễ phân hủy (thức ăn thừa, vỏ hoa  
quả...) chiếm tỉ lệ cao nhất đạt 58,4% trong tổng số CTRSH. Tiếp đến là CTR vô cơ (cát, sỏi, vải  
sợi, đồ da,...) và CTR tái chế tái sử dụng (giấy, kim loại, nhựa) chiếm tỉ lệ lần lượt là 24,3% và  
17,1%. Chất thải nguy hại tuy chiếm tỉ lệ thấp nhất nhưng mà rất cần được quan tâm nhiều, đó là  
vỏ thuốc bảo vệ thực vật hiện vẫn chưa được thu gom hết và người dân vẫn vứt bừa bãi vỏ thuốc  
bảo vệ thực vật ngoài đồng.  
28  
226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
3.2.2. Hiện trạng phân loại và quản lý CTRSH tại nguồn  
Mặc dù thành phố Hà Nội đã triển khai chương trình phân loại tại nguồn nhưng theo kết quả  
điều tra thực tế tại 359 hộ về sự hiểu biết và cần thiết phải phân loại CTRSH thì có 13% người  
dân cho rằng cần phân loại và mục đích phân loại của họ là để tận dụng, tái sử dụng ngay trong  
gia đình với những CTRSH có thể tiếp tục sử dụng như giấy, báo, chai thủy tinh, chai lọ nhựa.  
Hơn 87% người dân cho rằng không cần phải phân loại vì phân loại mất thời gian hơn nữa khi  
phân loại xong, người đi thu gom chỉ cho chung vào một xe to nên việc phân loại gần như không  
có tác dụng. Nên phần lớn người dân không phân loại rác tại nguồn.  
3.2.3. Hiện trạng thu gom và vận chuyển CTRSH tại xã Canh Nậu  
Hiện trạng thu gom  
Trên địa bàn xã có 6 thôn nhưng hiện nay chỉ 1 địa điểm tập kết CTRSH tại Tây Ninh với diện  
tích 500 m2. UBND xã có ký kết thu gom vệ sinh môi trường với công ty TNHHDV Môi trường  
Thành Công để thu gom rác cho nhân dân nhưng việc thu gom và vận chuyển rác của công ty từ  
bãi tập kết đi xử lý là 2 lần/tuần với tổng lượng rác chuyển đi xử lý theo quy định chỉ là 3.500  
tấn. Có thể thấy rằng tỉ lệ rác thải được thu gom so với tổng số rác thải người dân thải ra hàng  
ngày vẫn còn thấp.  
Hình 2. Quy trình thu gom, xử lý CTRSH tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất  
Hình 2 thể hiện quy trình thu gom CTRSH tại xã Canh Nậu. CTRSH ở những nơi là trục  
đường to, sẽ có xe của công ty đến thu gom, các hộ gia đình cho rác vào túi nilon hoặc bao dứa to  
để trước cửa nhà. Còn những hộ gia đình ở trong ngõ nhỏ, xe của công ty không vào được, người  
dân sẽ phải tập kết rác ra đầu ngõ để xe thu gom rác đến lấy trở đi. Một số gia đình nếu tiện  
đường đi qua khu vực tập kết rác hoặc có quá nhiều rác sau 2, 3 ngày thì có thể tự chở ra tới nơi  
29  
226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
tập kết. Với CTR ở chợ, có 2 hình thức thu gom rác chính tùy vào đặc điểm chợ lớn hay chợ nhỏ.  
Với khu vực chợ nhỏ ở Điếm Bàng, những người bán hàng ở chợ sau mỗi buổi sẽ tự thu gom và  
chở rác đến nơi tập kết CTRSH tại cống Tây Ninh. Còn khu vực chợ lớn hơn ở thôn 2, những  
người bán hàng sẽ nộp tiền cho 1 người, người này có nhiệm vụ quét dọn chợ sau mỗi buổi và  
chở CTR tới cống Tây Ninh để đổ rác.  
Đối với CTR nông nghiệp, qua điều tra khảo sát cho thấy, rơm rạ sau khi thu hoạch được  
người dân đốt để vệ sinh đồng ruộng chuẩn bị cho vụ tiếp theo, đồng thời lượng tro sau khi đốt  
được sử dụng để làm phân bón cho ruộng. Kết quả điều tra cho thấy 93,12% các hộ gia đình có  
ruộng làm nông nghiệp đều có xu hướng giữ nguyên thói quen đốt rơm rạ này mặc dù họ biết  
rằng đốt như vậy sẽ gây ô nhiễm môi trường, phát thải khí có hại nhưng nếu mang rơm rạ về sẽ  
không có chỗ cất, đem về gia đình không làm gì mà có thể gây cháy nên bà con đốt ngay tại  
ruộng để làm phân bón sinh học cho vụ tiếp theo. Ngoài ra những chai, lọ, bao bì thuốc bảo vệ  
thực vật không được thu gom và vứt trực tiếp ở đồng ruộng, dưới mương, bờ đê cũng làm ô  
nhiễm môi trường nước, đất.  
Công tác vận chuyển CTRSH  
Qua kết quả khảo sát, 100% người dân cho rằng xe thu gom CTR sẽ đến thu gom 2 ngày/ tuần  
vào thứ 3 và thứ 7 hàng tuần, họ thường đi thu rác vào buổi chiều thời gian từ 15h đến 17h30.  
Qua quan sát, trao đổi trực tiếp với cán bộ trong xã cho thấy việc thu gom rác mỗi buổi như vậy  
có 1 công nhân vừa lái xe vừa thu rác. Người dân được thông báo về lịch cố định thời gian thu  
rác nên người dân mang rác tới điểm tập kết, sau đó sẽ có công nhân mang rác đi. Tuy nhiên, một  
số gia đình vì một số lý do riêng đã đưa rác đến nơi tập kết chậm giờ, xe rác đã đi qua, người dân  
vẫn để rác tại đó, làm mất mỹ quan và gây ô nhiễm môi trường.  
Về phương tiện thu gom:  e thu gom được sử dụng là loại xe cải tiến to được gắn vào xe máy,  
không có nắp che đậy nên có mùi hôi thối, ngoài ra nước rỉ rác cũng chảy ra dọc đường tạo nên  
mùi rất khó chịu và đường xá bị bẩn, có ruồi nhặng.  
Về phí thu gom rác thải: Người dân phải đóng số tiền là 7.000 đồng/ người/ tháng, với số tiền  
phải đóng này, những hộ gia đình ở mặt đường có xe thu gom rác đi qua để thu gom rác trực tiếp  
thì cho rằng đó là số tiền hợp lý. Còn những hộ gia đình phải tự mang rác ra đầu ngõ hoặc tự  
mang rác tới điểm tập kết thì cho rằng số tiền đó chưa phù hợp, cần giảm đi một chút.  
Khi đi thu gom, rác sẽ được tập kết tại điểm tập kết rác tại cống Tây Ninh của Xã. Tại đây,  
vẫn tồn tại hình thức đốt rác lộ thiên điều này làm gây ô nhiễm môi trường không khí xung  
quanh, môi trường đất, nước của Xã. Nguyên nhân của việc đốt rác trực tiếp tại nơi tập kết rác là  
do 1 tháng có 3-4 đợt xe tải chở rác đi xử lý nên lượng tác ứ đọng tại đó khá nhiều. Có những  
khoảng thời gian rác được tập kết tại đó quá lâu ngày mà chưa được chở đi, dẫn đến tình trạng  
quá tải bãi chứa CTRSH, CTRSH còn bị đổ tràn ra đường, ảnh hưởng đến người dân đi qua lại  
khu vực này, ảnh hưởng tới mỹ quan và môi trường sống xung quanh. Ngày nay khi lượng chất  
thải phát sinh ngày càng lớn, diện tích các bãi rác chưa được mở rộng nên thường xuyên vẫn xảy  
ra tình trạng bãi rác quá tải, gây bức xúc cho người dân..  
Sau khi rác đã được đốt lộ thiên tại bãi tập kết thì lượng rác sẽ chỉ còn khoảng 1/3 so với ban  
đầu. Số lượng rác còn lại này sẽ được chở tới Khu xử lý chất thải rắn  uân Sơn, thị xã Sơn Tây  
để xử lý theo quy định.  
3.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Canh  
Nậu, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội  
3.3.1. Giải pháp tuyên truyền giáo dục  
Ở các thôn nên đầu tư, hướng dẫn người dân vệ sinh môi trường, phân loại CTR sinh hoạt tại  
nguồn thành 2 loại là vô cơ và hữu cơ.  
30  
226(08): 25 - 31  
TNU Journal of Science and Technology  
Thành lập các chi hội phụ nữ tự quản thi đua, nhắc nhở các thành viên trong chi hội giữ gìn  
làng xóm trong lành, không bỏ rác ra ngoài đường quá sớm, nên căn chuẩn giờ xe chở CTR đi  
qua thì bỏ rác.  
3.3.2. Giải pháp trong công tác thu gom, vận chuyển CTRSH  
Cần tăng cường thêm số lượng công nhân thu gom rác để có thể đi vào thu gom trực tiếp tại  
các ngõ nhỏ. Đồng thời đầu tư các loại xe chuyên dụng, có nắp thùng chứa để giảm ô nhiễm ra  
môi trường xung quanh.  
3.3.3. Giải pháp về quy hoạch  
Nên mở rộng thêm một vài bãi tập kết rác để tiện cho việc tập kết rác cũng như giảm thiểu rác  
tràn ra đường nhựa, mất mỹ quan.  
3.3.4. Giải pháp về xử lý CTRSH  
Cần sử dụng các hình thức tổng hợp vườn, ao chuồng, thùng rác, hầm chứa rác, hố chứa rác tự  
phân huỷ, hố ủ phân trát bùn tại các hộ gia đình để xử lý chất thải rắn từ sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi.  
Hiện tại  ã chưa có lò đốt rác hợp tiêu chuẩn, trước mắt có thể đầu tư lò đốt rác với công suất  
lò đốt khí tự nhiên Nfi-05 để đốt rác thải, bớt ô nhiễm môi trường. Các loại chất thải hữu cơ có  
thể sử dụng công nghệ chế biến phân hữu cơ, đốt và kết hợp chôn lấp hợp vệ sinh.  
4. Kết luận  
CTRSH của xã Canh Nậu chủ yếu là chất thải từ các khu dân cư, lượng rác thải phát sinh từ  
khu dân cư chiếm tỷ lệ cao nhất là 57,7%. Tỷ lệ số hộ trung bình thải từ 0,6-0,7 kg/ người/ ngày  
là 48,2%, đây là con số chiếm tỷ lệ cao nhất và cũng cao hơn mức thải trung bình bình quân của  
xã chỉ là 0,599 kg/ người/ ngày. CTR từ hoạt động tiểu thủ công nghiệp như gỗ, mùn cưa đã được  
người dân thu gom là củi đốt bếp. CTR trong đó chủ yếu là chất hữu cơ chiếm 58,6%. Lượng rác  
thải của xã thải ra môi trường nhiều tuy nhiên một tuần chỉ có 2 lượt đi thu gom rác/ tuần. Dẫn  
tới tình trạng một số hộ dân khi rác trong nhà có quá nhiều, họ phải tự đem rác tới nơi tập kết.  
Mặc dù bãi chứa rác của cả xã nhưng diện tích nhỏ chỉ khoảng 500 m2, rác thường xuyên bị ngập  
ra đường, gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trường.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] Ministry of Natural Resources and Environment, National environmental status report, 2019.  
[2] O. T. T. Pham, “Assessment on management of domestic solid wastes and solutions in Dong Hung  
district, Thai Binh,” TNU Journal of Science and Technology, vol. 225, no. 6, pp. 528-535, 2020.  
[3] H. V. Tran, T. H. Hoang, and H. C. Vo, “Household solid waste generation and management in Tien Hai  
district, Thai Binh province,” TNU Journal of Science and Technology, vol. 225, no 8, pp. 91- 97, 2020.  
[4] H. T. Tran, and T. T. Dau, “Assessment of current status and proposal of solutions for improving solid  
wastes management at Minh Nghia village, Nong Cong town, Thanh Hoa province,” VNU Journal of  
Science Earth and Environmental Sciences, vol. 32, no. 1S, pp. 173-178, 2016.  
[5] T. N. T. Nguyen, “Evaluating current status and proposing solutions for domestic solid wastes  
management in BacNinh province”, TNU Journal of Science and Technology, vol. 225, no. 6, pp.  
355-361, 2020.  
[6] People's Committee of Canh Nau Commune, Report of implementing socio-economic development  
tasks in 2019; Orientations and objectives of the 2020 economic goal, 2020.  
[7] Hanoi People's Committee, Decision 16/2013, Regulation on common solid management in Hanoi  
city, 2013.  
[8] H. T. Nguyen, T. N. H. Tran, T. B. H. Nguyen, and T. B. Lien Nguyen, “Current situation of air  
environment by the production process of fine art furniture village in Canh Nau commune, Thach That  
district, Ha Noi,” TNU Journal of Science and Technology, vol. 225, no. 07/3, pp. 491-497, 2020.  
[9] Vietnam Government, Decree on waste and scrap management, No 38/2015 dated 24/4/2015.  
31  
pdf 7 trang yennguyen 18060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hien_trang_va_de_xuat_giai_phap_nham_nang_cao_hieu.pdf