Nghiên cứu tính chất quặng apatit nghèo và động học quá trình xử lý axít nguyên liệu

NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT QUẶNG APATIT NGHÈO VÀ  
ĐỘNG HỌC QUÁ TRÌNH XỬ LÝ AXÍT NGUYÊN LIỆU  
(1)  
Bùi Đình Nhi*  
Minh ị ảo  
Phạm Đức Anh 1,2  
TÓM TẮT  
ành phần hóa học, tính chất hóa lý của quặng apatit nghèo Lào Cai được nghiên cứu. Các phương  
pháp phân tích hiện đại như SEM-EDX, XRD, TGA/DSC/DTG, BET được sử dụng trong nghiên cứu đã  
xác định được quặng apatit có thành phần P2O5 hữu ích là 13,5%, tạp chất chính là silic đioxit 32,5%, đồng  
thời đã xác định được thành phần pha, quá trình phân hủy nhiệt, diện tích bề mặt cũng như thể tích lỗ xốp  
của mẫu nguyên liệu. Nghiên cứu động học của quá trình phân hủy nguyên liệu bằng axít đã xác định được  
phản ứng có bậc 1, một số thông số tối ưu của quá trình đã được lựa chọn như tốc độ khuấy, nồng độ axít  
và nhiệt độ.  
Từ khóa: Apatit nghèo, động học, tính chất hóa lý, axít.  
Nhận bài: 16/3/2021; Sưa chưa: 24/3/2021; Duyêt đăng: 26/3/2021.  
1. Mở đầu  
phương pháp tách phân đoạn cũng như phương pháp  
tuyển nổi.  
Quặng apatit Việt Nam tập trung ở khu vực tỉnh  
Lào Cai với tổng trữ lượng lên tới hơn 2 tỷ tấn, thời  
gian khai thác khoảng trên 20 năm. Hiện tại, quặng  
apatit không được phép xuất khẩu, chủ yếu cung cấp  
cho sản xuất lân, phốt pho vàng trong nước. Với tình  
hình khai thác và sử dụng như hiện nay, quặng apatit  
giàu sẽ cạn kiệt nhanh chóng. eo đánh giá, trữ lượng  
quặng nghèo chiếm khoảng 60% tổng trữ lượng quặng  
apatit. Nguồn quặng nghèo này trước đây hầu như bỏ  
đi, không sử dụng, trong khi các công ty phải đầu tư  
lớn mua sắm thiết bị, tổ chức khai thác xuống sâu để lấy  
quặng giàu. Vì vậy, cần phải nâng cao năng lực tuyển  
và làm giàu quặng apatit.  
Có nhiều nghiên cứu được tiến hành để có thể làm  
giàu quặng apatit. Dựa trên thực tiễn công nghiệp đã  
chứng minh rằng việc chế biến photphat tự nhiên với  
hàm lượng P O5 ít nhất 28% bằng axít sulfuric và ít nhất  
24% bằng ax2ít nitric là hợp lý về mặt kinh tế trong sản  
xuất phân bón chứa phốtpho [1]. Trong các trường  
hợp khác, cần sử dụng các phương pháp làm tăng hàm  
Tại Việt Nam, nghiên cứu tuyển quặng apatit loại  
III nghèo ở các bãi chứa bằng thuốc tập hợp thế hệ mới  
(dạng Ankyl succinat) của Viện Hóa học Công nghiệp  
Việt Nam chế tạo cho kết quả đạt hàm lượng P O5  
trong tinh quặng ≥32%, thực thu ≥ 70% [2]. Ngh2iên  
cứu lựa chọn sơ đồ hợp lý để tuyển quặng Apatit loại III  
nghèo có hàm lượng P O5 nguyên khai dưới mức thiết  
kế (α <14%) thu được2 sản phẩm quặng tinh đạt tiêu  
chuẩn sản xuất phân bón quy mô phòng thí nghiệm  
được Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam thực hiện [3].  
Trên thế giới cũng có nhiều phương pháp làm giàu  
quặng photphat được nghiên sử dụng dung dịch axit  
hữu cơ yếu: acetic, citric, formic [4], succinic, lactic  
[5]… Phương pháp công nghệ sinh học – sử dụng dung  
dịch nuôi cấy Candida lipolytica VKM U-160 hòa tan  
chọn lọc canxit [6] thu được một lượng photphat đậm  
đặc (30,5 - 33,4%). Tuy nhiên các phương pháp này  
chưa có ứng dụng thực tế.  
Các phương pháp sử dụng các axít khoáng mạnh  
lượng thành phần mục tiêu bằng cách làm giàu cơ học, như axít sulfuric [7], axít nitric [8], axít photphoric [9],  
rửa, tuyển nổi hoặc nung. Khó khăn của quá trình làm hay các phương pháp kết hợp các axít khoáng mạnh  
giàu nằm ở chỗ các tạp chất đan xen dầy đặc với các như phương pháp axít photphoric-nitric, phương pháp  
khoáng chứa phốtpho, điều này giảm hiệu suất của axít photphorosulfuric, phương pháp axít photphoric  
1 Khoa Công nghê Hóa học và Môi trường, Trường Đại học Công nghiêp Viêt Trì  
2 Trung tâm Tư vấn và Công nghê môi trường – Tổng cục Môi trường  
90 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
amoni [10]…Các phương pháp này cho hiệu quả cao, trình phân hủy bột photphorit được thực hiện ở nhiệt  
thu nhận được các loại phân bón chủng loại và hàm độ 20°C trong 10 phút với lượng dư axít 20% so với  
lượng thành phần đích đa dạng. Tuy nhiên, để thực lượng cân bằng của nó. Axít dư được tính toán có tính  
hiện được các phương pháp này thì yếu tố tiên quyết đến hàm lượng tạp chất canxi và magiê trong thành  
cần phải xác định rõ thành phần, tính chất của nguyên phần bột photphorit. Nồng độ axít ban đầu là 0,1 M.  
liệu đầu vào và cần phải xác định rõ động học của quá Hỗn hợp nguyên liệu được khuấy với tốc độ 180 vòng/  
trình phân hủy, từ đó có thể lựa chọn được các điều phút. Hệ số phân hủy bột photphorit được xác định  
kiện phân hủy cũng như thiết bị phù hợp và đây cũng theo phương pháp đo nồng độ ion (hoặc phương pháp  
là mục tiêu của nghiên cứu.  
trắc quang).  
2. ực nghiệm  
b. Ảnh hưởng của tốc độ khuấy  
Quá trình thực nghiệm được tiến hành theo như  
mục a với việc thay đổi tốc độ khuấy từ 50 - 190 vòng/  
phút.  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng của nghiên cứu là quặng nghèo Lào Cai  
(với hàm lượng P2O5 < 15%).  
Nguyên liệu quặng thô gồm các mảnh không đều  
có kích thước 120 - 150 mm, được nghiền trên máy  
nghiền bi. Tất cả các nghiên cứu tiếp theo được thực  
hiện với quặng đã nghiền nhỏ, chúng ta sẽ gọi một cách  
có điều kiện là “bột photphorit”.  
c. Ảnh hưởng của nồng độ axít  
Quá trình thực nghiệm được tiến hành theo như  
mục a với việc thay đổi nồng độ axít là 0,01, 0,02, 0,1,  
0,2, 0,5 và 1,0 M.  
d. Ảnh hưởng của nhiêt độ  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Quá trình thực nghiệm được tiến hành theo như  
mục a với việc thay đổi nhiệt độ là 20, 30, 40 và 50oC.  
2.2.1. Phương pháp phân tích một số tính chất hóa  
lý của vật liêu  
3. Kết quả và thảo luận  
ành phần nguyên tố và hình thái của mẫu được  
xác định trên hệ thống thiết bị kính hiển vi điện tử  
quét kết hợp phổ tán sắc năng lượng tia X (SEM-EDX)  
(Model JSM - IT200, đầu dò hãng Oxford).  
Phân tích phổ hồng ngoại của mẫu được tiến hành  
trên thiết bị quang phổ hồng ngoại FTIR (Model Cary  
630 Series).  
ành phần pha của mẫu được đo trên máy quang  
phổ nhiễu xạ tia X (Bruker D8 Advance Eco). Các pha  
của mẫu được xác định bằng phần mềm Bruker EVA  
và cơ sở dữ liệu ICDD PDF-2.  
Phân tích nhiệt của mẫu được thực hiện trên hệ  
thống thiết bị phân tích nhiệt DTA/DSC/TGA (Model  
TGA PT 1600), với dải nhiệt độ 30 - 1200 oC.  
Đặc điểm kết cấu: Hệ thống thiết bị đo thể tích  
vật liệu Quantachrome Nova 1200e (Quantachrome  
Instruments, USA, phạm vi diện tích đo 0,01 ÷ 2000  
m3/g, phạm vi đường kính lỗ 3,5 ÷ 4000 nm); thiết bị  
đo diện tích bề mặt riêng Sorbi-MS (Dải đo diện tích  
bề mặt riêng 0,1 ÷ 2000 m2/g, khí hấp phụ nitơ, dải áp  
suất riêng phần của khí hấp phụ 0,02 ÷ 0,98Р/Р0, giới  
hạn sai số đo tương đối cho phép 6%, độ tái lập  
0,5%); tạo viên bằng máy ép thủy lực bằng tay (PIKE  
Technologies Inc., USA).  
3.1. Tính chất hóa lý của quặng apatit nghèo  
3.1.1. ành phần nguyên tố và thành phần hóa  
học của bột photphorit  
Để đánh giá sự tổn thất do việc phá hủy các mẫu  
trong quá trình xử lý nhiệt, phương pháp phân tích  
huỳnh quang tia X được tiến hành để xác định thành  
phần nguyên tố của hai thí nghiệm: í nghiệm 1 được  
Bảng 1. ành phần một số nguyên tố của mẫu bột  
photphorit sau sấy khô trong 2h ở nhiệt độ 100°C  
Nguyên  
tố  
Hàm lượng, %  
Mẫu 2  
Giá trị  
trung  
bình, %  
Mẫu 1  
Mẫu 3  
Si  
7,49  
1,02  
9,53  
0,25  
0,20  
0,26  
68,69  
0,82  
0,01  
5,17  
0,52  
2,12  
0,10  
0,68  
7,46  
0,75  
9,69  
0,23  
0,21  
0,34  
70,01  
0,75  
0,01  
4,99  
0,53  
2,08  
0,10  
0,68  
6,72  
0,77  
9,33  
0,39  
0,24  
0,33  
68,76  
0,83  
0,01  
4,90  
0,35  
2,03  
0,10  
0,68  
7.22  
0,85  
9,52  
0,29  
0,22  
0,31  
69,18  
0,80  
0,01  
4,98  
0,47  
2,08  
0,10  
0,68  
Al  
Ca  
Mg  
Na  
K
O
Fe  
F
P
S
C
N
2.2.2. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến  
quá trình phân hủy axít nguyên liêu photphat thô  
a. Ảnh hưởng của kích thước hạt  
Đưa vào bình phản ứng 100g nguyên liệu bột  
photphorit theo các nhóm kích thước khác nhau. Quá  
H
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 91  
Bảng 2. ành phần một số nguyên tố của mẫu bột Bảng 3. Một số thành phần hóa học của mẫu bột photphorit  
photphorit sau nung trong 2h ở nhiệt độ 900 °C sau sấy khô trong 2 h ở nhiệt độ 100 °C  
Nguyên  
tố  
Hàm lượng, %  
Mẫu 2  
Giá trị  
trung  
ành P2O5 CaO  
MgO Fe2O3  
F
SiO2  
phần  
Mẫu 1  
Mẫu 3  
bình, %  
Hàm  
lượng,  
%
13,5  
27,42 0,23 2,07  
0,01 32,50  
Si  
8,34  
1,09  
11,59  
0,49  
0,45  
0,26  
67,54  
1,15  
0,01  
5,70  
0,66  
0,01  
-
7,60  
0,98  
12,48  
0,36  
0,17  
0,28  
65,22  
1,24  
0,01  
5,67  
0,49  
0,01  
-
8,27  
1,19  
11,51  
0,50  
0,17  
0,35  
69,01  
1,71  
0,01  
5,87  
0,59  
0,01  
-
8,07  
1,08  
11,90  
0,45  
0,26  
0,30  
67,30  
1,37  
0,01  
5,75  
0,58  
0,01  
-
Al  
Ca  
Mg  
Na  
K
O
Fe  
F
P
S
C
N
của mẫu bột photphorit, tiến hành phân tích và thu  
nhận giản đồ nhiễu xạ tia X (Hình 1), từ kết quả có  
thể thấy rằng mẫu được nghiên cứu chủ yếu là hai  
pha: pha thứ nhất là hợp chất photphat có cấu trúc  
là hiđroxycarbonatapatit, pha thứ hai là α-thạch anh.  
Đồng thời, do độ kết tinh cao của hai pha trên nên  
không thể xác định được aluminosilicat và các tạp chất  
có chứa sắt, mặc dù tổng hàm lượng Fe2O3 và Al2O3 đạt  
~ 3%.  
Khi hòa bột photphorit này vào trong axit tạo ra  
huyền phù có độ nhớt cao, tốc độ dịch chuyển thấp.  
Nguyên nhân của điều này là do trong thành phần của  
photphorit nghiên cứu có lẫn tạp chất của khoáng sét.  
Trường hợp này cho phép chúng tôi giả định rằng các  
tạp chất sắt và nhôm silicat có trong bột photphorit  
được đại diện bởi khoáng sét bentonit, thành phần  
chính của nó là montmorillonite, tương ứng với công  
thức chung (K,Na)x(Mg,Fe,Al) (S O )(OH)2.nH O,  
trong đó x <1. Tính năng đặc trưn2g ciủ4 a 1n0ó là trương2nở  
trong môi trường nước, dẫn đến thay đổi độ nhớt và  
cấu trúc của huyền phù.  
Cấu trúc tương tự của huyền phù nước dựa  
trên khoáng vật tự nhiên đất sét bentonit chứa 42%  
montmorillonite đã được ghi nhận khi sử dụng làm  
chất phụ gia điều chỉnh cho amoni nitrat nhằm mục  
đích tăng tính chất thương mại của nó: độ bền của hạt,  
pha và độ ổn định nhiệt [11].  
Giản đồ XRD của các mẫu bột photphorit khô  
và ngâm trong nước 12 giờ ở nhiệt độ 25 °C là giống  
hệt nhau (Hình 2), ngoại trừ hai pic biến mất trong  
quá trình ngâm trong vùng có góc nhỏ 2θ = 8 ÷ 10.  
Đây cũng là một dấu hiệu gián tiếp cho thấy sự hiện  
diện của montomorillonite trong thành phần của  
mẫu phosphorit được nghiên cứu. Một số tác giả  
H
0,15  
0,15  
0,15  
0,15  
sấy khô trong 2 h ở nhiệt độ 100°C và thí nghiệm 2  
được nung trong 2 giờ ở nhiệt độ 900°C. Các kết quả  
thu được về thành phần nguyên tố của thí nghiệm 1 và  
2 từ ba mẫu song song được trình bày tương ứng trong  
Bảng 1 và 2.  
Việc nung một mẫu bột photphorit cho thấy khả  
năng loại bỏ gần như hoàn toàn các tạp chất hữu cơ  
nitơ và các bon khỏi nó, điều này sẽ tránh tạo bọt trong  
quá trình xử lý axít nguyên liệu.  
ành phần hóa học của một mẫu bột photphorit  
được xác định bằng cách sử dụng các phương pháp  
phân tích theo TCVN. Kết quả thu được (Bảng 3) cho  
thấy mẫu nghiên cứu thuộc loại nguyên liệu nghèo  
photphat - thành phần P O hữu ích là 13,5%, tạp chất  
chính là silic đioxit ở cuố2i q5uá trình là 32,5%.  
3.1.2. ành phần pha của bột photphorit  
Vì nguyên liệu khoáng là hỗn hợp của nhiều pha  
nên thông tin về thành phần hóa học trung bình của  
các mẫu là không đủ. Để xác định thành phần pha  
▲Hình 2. Giản đồ XRD của bột photphorit khô và sau ngâm  
nước 12h  
▲Hình 1. Giản đồ XRD của bột photphorit  
92 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
[12] cũng chỉ ra sự xuất hiện của đỉnh trong vùng các hợp này, cacbonat apatit chuyển thành tricalcium  
góc tán xạ nhỏ (2θ ≈ 8) khi có sự hiện diện của pha phosphate.  
montmorillonite.  
Ở giai đoạn thứ tư, trong khoảng 1490 - 1569 °C,  
Do đó, bằng các dấu hiệu gián tiếp, sự hiện diện mẫu mất 2,64% trọng lượng ban đầu. Hiệu ứng quan  
của pha thứ ba, montmorillonite, đã được tiết lộ trong sát được trong khoảng 1516 - 1542 °С với cực đại ở  
thành phần của bột phosphorit nghiên cứu. eo kết 1534 °C, tương ứng với việc giảm một phần thành phần  
quả phân tích nhiễu xạ tia X, khoáng photphat của photphat của mẫu với cacbon khi có mặt thạch anh theo  
quặng nghiên cứu có cấu trúc hiđroxycacbonatapatit phản ứng 2Ca5(PO4)3F + 15C + 6SiO2 = 3P + 15CO +  
thuộc hệ lục phương với các thông số ô đơn vị là a = b 3(3CaO.2SiO2) + CaF , phù hợp với kết qu2ả phân tích  
= 9,38 Å, c = 6,89 Å. Tạp chất chính là α-thạch anh có thành phần nguyên tố2theo phổ tán xạ năng lượng tia X  
cấu trúc tam giác, thông số ô đơn vị là a = 4,9133Å, c và kết quả phân tích CHNS của bột photphorit.  
= 5,4053Å.  
Việc không có hiệu ứng thu nhiệt rõ rệt trong phần  
nhiệt độ cao của giản đồ nhiệt cho thấy α-thạch anh  
(thành phần của bột photphorit) nóng chảy ở nhiệt độ  
trên 1600 °C.  
Ảnh hưởng của quá trình phân hủy nhiệt đến các  
đặc điểm cấu trúc của bột photphorit được đưa ra ở  
Bảng 4.  
3.1.3. ành phần pha của bột photphorit  
Để xác nhận kết quả phân tích pha XRD, tiến hành  
thực hiện phân tích nhiệt mẫu bột photphorit, khối  
lượng đã cân được nung trong chén bạch kim trong  
môi trường Argon đến nhiệt độ 1.600 °C với tốc độ gia  
nhiệt tuyến tính 20°/phút. Các đường cong kết quả thể  
hiện trong Hình 3 minh họa bốn giai đoạn giảm trọng  
lượng đối với mẫu bột phosphorit.  
Ở giai đoạn đầu, trong khoảng nhiệt độ 30 - 220  
°C, mẫu mất 0,64% khối lượng, kèm theo hiệu ứng thu  
nhiệt với đỉnh ở 94 °C. Việc giảm trọng lượng không  
đáng kể là do việc loại bỏ nước hấp phụ và nước liên kết  
có trong mẫu, kết quả cũng cho thấy khả năng hút ẩm  
thấp của bột photphorit.  
Bảng 4. Sự thay đổi đặc điểm cấu trúc của bột photphorit  
theo nhiệt độ phân hủy  
Nhiệt độ, oC  
Diện tích bề mặt, ể tích lỗ xốp,  
m2/g  
8,51  
9,40  
9,49  
10,5  
8,23  
cm3/g  
0,0137  
0,0147  
0,0151  
0,0170  
00140  
100  
200  
300  
400  
600  
Với việc tăng nhiệt độ phân hủy từ 100 - 400oC dẫn  
đến việc tăng diện tích bề mặt từ 8,51 lên 10,5 m2/g và  
thể tích lỗ xốp từ 0,0137 lên 0,0170 cm3/g. Điều này  
được giải thích là do khi tăng nhiệt độ đến 400oC dẫn  
đến việc loại bỏ nước hấp phụ và nước liên kết ra khỏi  
mẫu nguyên liệu. Sau đó nếu tiếp tục tăng nhiệt độ phân  
hủy lên 600oC thì diện tích bề mặt và thể tích lỗ xốp  
giảm xuống còn 8,23 m2/g và 0,0140 cm3/g tương ứng.  
Điều này là do tăng nhiệt độ đến 600oC sẽ dẫn đến phá  
hủy các mao quản của thành phần khoáng sét trong  
mẫu nguyên liệu. Kết quả thu được cũng tương đồng  
với kết quả phân tích nhiệt TGA/DSC/DTG ở trên.  
▲Hình3. GiảnđồnhiêtTGA/DSC/DTGcủabộtphotphorit  
3.2. Phân hủy axít nguyên liệu bột photphorit  
Ở giai đoạn thứ hai, trong khoảng 251 - 584 °C, khối  
lượng hao hụt là 2,71% khối lượng mẫu. Hiệu ứng tương  
ứng với điểm uốn ở nhiệt độ 447 °C có liên quan đến sự  
phân hủy các tạp chất chứa nitơ và canxi hiđroxit trong  
cấu trúc của hiđroxycacbonat apatit thành ôxít canxi và  
nước, và sự chuyển đổi của nó thành apatit cacbonat.  
Ở giai đoạn thứ ba, trong khoảng 675 - 1145 °C  
với đỉnh ở 836 °C, mẫu có độ hao hụt lớn nhất, lên tới  
5,23% khối lượng mẫu. Nguyên nhân là do, ở giai đoạn  
này, sự phân hủy các tạp chất cacbonat xảy ra và loại bỏ  
sản phẩm phân hủy (CO2) vào pha khí. Trong trường  
3.2.1. Ảnh hưởng của kích thước hạt và chế độ thủy  
động học đến quá trình phân hủy axít bột photphorit  
Tiêu chí để lựa chọn chế độ khuấy trộn thủy động  
lực học là sự phân bố đồng đều các hạt rắn của nguyên  
liệu khoáng trong thể tích của huyền phù. Các nhóm  
nguyên liệu phân chia theo kích thước tiến hành phân  
hủy bằng axít ở các điều kiện giống nhau với tốc độ  
khuấy thay đổi từ 50 - 190 vòng/phút. Quá trình phân  
hủy bột photphorit được thực hiện ở nhiệt độ 20°C  
trong 10 phút với lượng dư axít nitric 20% so với lượng  
cân bằng của nó. Axít dư được tính toán có tính đến  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 93  
hàm lượng tạp chất canxi và magiê trong thành phần  
Từ đồ thị hình 5, dựa vào phương trình các đường  
bột photphorit. Nồng độ axít ban đầu là 0,1 M. Sự phụ thẳng với hằng số tương quan R > 0,999 có thể xác định  
thuộc hệ số phân hủy axit bột phosphorit (Кр) vào tốc được hằng số tốc độ phản ứng quá trình phân hủy axít  
độ khuấy được đưa ra ở Hình 4 cho hai nhóm nguyên bột photphorit phụ thuộc vào nồng độ axít (Bảng 5).  
liệu: nhóm 2 (kích thước 0,5 - 1,0 mm) và nhóm 5 (0,09  
Bảng 5. Ảnh hưởng của nồng độ axit nitric đến hằng số tốc  
- 0,18 mm).  
độ phản ứng phân hủy bột photphorit  
Kết quả từ Hình 4 cho thấy, hệ số phân hủy của mẫu  
Nồng độ axít nitric, M  
Hằng số tốc độ phản ứng  
thử thực tế không phụ thuộc vào cỡ hạt trong phạm vi  
nghiên cứu và giá trị đó gần như là tương đồng ở tốc  
độ khuấy huyền phù khoảng 170 - 190 vòng/phút. Do  
đó, tất cả các nghiên cứu sâu hơn về sự phân hủy bột  
photphorit sẽ được tiến hành ở tốc độ khuấy 180 vòng/  
phút để đảm bảo chế độ thủy động lực học của quá  
trình phân hủy.  
k, s-1  
0,01  
0,02  
0,1  
0,2  
0,5  
2,76.10-3  
4,56.10-3  
7,97.10-3  
8,01.10-3  
7,32.10-3  
6,14.10-3  
1,0  
Dựa vào kết quả thu được có thể thấy rằng khi tăng  
nồng độ axít từ 0,01 - 0,1M thì hằng số tốc độ phản ứng  
tăng mạnh từ 2,76.10-3 s-1 lên 7,97.10-3 s-1, sau đó tiếp  
tục tăng nồng độ axit lên 0,2M thì hằng số tốc độ phản  
ứng tăng rất ít, thậm chí còn giảm nếu tiếp tục tăng  
nồng độ lên 0,5 và 1,0M. Điều này có thể là do khi nồng  
độ axít tăng lên quá cao sẽ dẫn đến việc hòa tan các tạp  
chất có trong bột photphorit. Để chứng minh cho việc  
khi tăng nồng độ axít sẽ dẫn đến việc hòa tan thêm các  
tạp chất có trong bột photphorit, tiến hành nghiên cứu  
xác định hàm lượng ôxít sắt và nhôm được hòa tan vào  
▲Hình 4. Sự phụ thuộc hê số phân hủy bột photphorit kích  
thước khác nhau vào tốc độ khuấy (Nhóm 2 - kích thước 0,5 - trong dung dịch phản ứng với các nồng độ axit nitric  
1,0 mm; Nhóm 5 - kích thước 0,09 - 0,18 mm)  
khác nhau, kết quả được đưa ra ở Hình 6.  
3.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ axít và nhiêt độ đến  
quá trình phân hủy bột photphorit  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ axít đến tốc  
độ phân hủy bột photphorit, tiến hành phân hủy nguyên  
liệu với lượng dư 20% axít nitric có nồng độ 0,01 M, 0,02  
M, 0,1 M, 0,2 M, 0,5 M và 1 M ở nhiệt độ 20°C. Bằng  
phương pháp đồ thị có thể xác định phản ứng phân hủy  
axít bột photphorit có bậc 1 khi sự phụ thuộc ln(CH0+/  
CH+) = f(τ) là một đường thẳng (Hình 5).  
▲Hình 6. Ảnh hưởng của nồng độ axít nitric đến sự hòa tan  
oxit nhôm và sắt ở nhiêt độ 30oC  
Dựa vào kết quả Hình 6 cho thấy, trong khoảng 300  
giây kể từ khi bắt đầu phân hủy photphorit bằng axit  
nitric 0,1 M, việc hòa tan ôxít sắt và nhôm trên thực  
tế đã hoàn thành, nồng độ của chúng trong pha lỏng  
tương ứng không vượt quá 15% và 17% hàm lượng ban  
đầu của chúng trong nguyên liệu thô. Khi nồng độ axít  
nitric tăng lên 5 M, quá trình tách tạp chất được tăng  
cường, nồng độ của oxit sắt và nhôm trong pha lỏng  
trong cùng một thời gian (300 giây) là 25% và 27%  
tương ứng, sau đó nó tiếp tục tăng nhẹ và đến cuối quá  
trình tách chiết P2O5 (1200 giây) tiệm cận 28% và 31%.  
▲Hình 5. Sự phụ thuộc ln(C +/CH+) vào thời gian trong  
khoảng nồng độ axít nitric 0,01H-0 1,0M ở nhiêt độ 20°C  
94 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
Như vậy, khi tăng nồng độ axit sẽ dẫn đến việc tăng  
hàm lượng tạp chất trong dung dịch, từ đó ảnh hưởng  
đến hằng số tốc độ phản ứng, như vậy nồng độ axít  
nitric là 0,10M được lựa chọn cho quá trình phân hủy  
bột photphorit.  
Để nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ  
phân hủy bột photphorit, tiến hành phân hủy nguyên  
liệu với lượng dư 20% axít nitric có nồng độ 0,1 M ở  
nhiệt độ 20 - 50°C.  
Hằng số tốc độ phản ứng quá trình phân hủy axít  
bột photphorit phụ thuộc vào nhiệt độ được đưa ra ở  
bảng 6. Dựa vào kết quả thu được có thể thấy rằng khi  
phân hủy bột photphorit bằng axít nitric nhiệt độ tăng  
sẽ làm tăng hằng số tốc độ phản ứng. Hằng số tốc độ  
phản ứng tăng mạnh từ 7,97.10-3 lên 22,3.10-3 khi tăng  
nhiệt độ từ 20 oC lên 30 oC, sau đó tiếp tục tăng nhiệt độ  
lên 40, 50 oC thì hằng số tốc độ phản ứng tăng với mức  
độ thấp hơn tương ứng là 29,1.10-3, 33,8.10-3 s-1.  
▲Hình 7. Sự hòa tan ôxít nhôm và sắt vào dung dịch phản  
ứng ở nhiêt độ 50oC theo thời gian  
nhiệt độ 50oC tăng lên hơn 2 lần so với ở nhiệt độ 30oC,  
sau 1200 giây phản ứng hàm lượng ôxít sắt và nhôm  
hòa tan trong dung dịch phản ứng lần lượt là 70, 74%.  
Do vậy, để thu hồi sản phẩm có đặc tính kỹ thuật  
mong muốn thì nhiệt độ của phản ứng phân hủy axít  
nitric bột photphoric duy trì ở 30oC là thích hợp.  
Bảng 6. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hằng số tốc độ phản  
ứng phân hủy bột photphorit  
4. Kết luận  
Nhiệt độ, oC  
Hằng số tốc độ phản ứng  
Phân tích thành phần hóa học của quặng Apatit  
nghèo cho thấy mẫu nghiên cứu thuộc loại nguyên liệu  
nghèo photphat - thành phần P2O hữu ích là 13,5%,  
tạp chất chính là silic đioxit ở cuối 5quá trình là 32,5%.  
Việc nung nguyên liệu giúp loại bỏ gần như hoàn toàn  
các tạp chất hữu cơ nitơ và cacbon, điều này sẽ tránh  
tạo bọt trong quá trình xử lý axít nguyên liệu.  
k, s-1  
20  
30  
40  
50  
7,97.10-3  
22,3.10-3  
29,1.10-3  
33,8.10-3  
Bằng các phương pháp phân tích hiện đại như  
XRD, TGA/DSC/DTG, BET… đã xác định được  
cấu trúc cụ thể của mẫu quặng Apatit nghèo gồm  
hiđroxycarbonatapatit, α-thạch anh và montmorillonite.  
Đã nghiên cứu động học quá trình xử lý nguyên liệu  
bằng axít, các thông số tối ưu của quy trình công nghệ  
được xác định gồm tốc độ khuấy 180 vòng/phút, nồng  
độ axit 0,1M và nhiệt độ 30oC■  
Điều này có thể giải thích tương tự như đối với tăng  
nồng độ axít nitric, vì khi tăng nhiệt độ lên thì ngoài  
tốc độ thu hồi sản phẩm đích tăng lên thì đi kèm với  
đó là sự hòa tan nhanh chóng của các tạp chất có trong  
nguyên liệu. Tiến hành tương tự nghiên cứu xác định  
hàm lượng ôxít sắt và nhôm được hòa tan vào trong  
dung dịch phản ứng ở nhiệt độ 50oC theo thời gian  
(Hình 7) thì thấy rằng sự hòa tan ôxít sắt và nhôm ở  
using leaching method, Department of Mining & Metal.  
Eng. – 2009.  
6. Пат. 2097139 Российская Федерация, МПК 6 B 03  
B 7/00. Способ обогащения карбонатсодержащего  
фосфатного сырья, № 96115100/03; заявл. 13.08.96;  
опубл. 10.01.98, Бюл. № 1. 264.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Isil Aydin, Determination of mineral phosphate species  
in sedimentary phosphate rock in Mardin, SE Anatolia,  
Tyrkey by sequential extraction, Microchem. J. – 2009. –  
Vol. 91. – P. 63–69.  
2. Nguyễn ị Minh, Nghiên cứu tuyển quặng apatit loại III  
nghèo ở các bãi chứa bằng thuốc tập hợp thế hê mới (dạng  
Ankyl succinat), Đề tài cấp Bộ công thương, 2019.  
3. Phạm ị Minh, Nghiên cứu tuyển quặng Apatit loại III  
nghèo có hàm kượng P2O5 dưới mức thiết kế, Đề tài Công  
ty Mỏ - Incodemic, 2002.  
4. Zafar, Z. I. Selective leaching of calcareous phosphate rock  
in formic acid: optimisation of operating conditions, Miner.  
Eng. – 2006. – Vol. 19 (14). – P. 1459–1461.  
7. Ангелов, А. И.  
фосфоритов  
Переработка региональных  
в квалифицированные фосфорные  
удобрения, Хим. пром-сть. – 2016. – № 11. – С. 18–26.  
8. Бруцкус, Е. Б. Получение сложных удобрений из  
фосфоритов Чилисайского месторождения, Хим.  
пром-сть. – 2016. – № 12. – С. 22–23.  
9. Jambor, Y. Kinetika rozkladu Kola-apatitu kuselinou  
dusicnou, Chemicky pramysl. – 1984. – Vol. 34/59. – №  
6. – P. 289.  
5. Heidarpour, T. Processing of Dalir phosphate samples  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 95  
10. Алимов, У. К.  
Получение концентрированных 11. Почиталкина, И. А. Кремнийсодержащие природные  
фосфорсодержащих удобрений путем разложения  
пылевидной фракции фосфоритов Центральных  
модификаторы  
аммиачной  
селитры,  
Хим.  
технология. – 2012. – № 11. – C. 455–460.  
Кызылкумов  
частично  
аммонизированной  
12. Горобинский, Л. В. Pt-содержащие катализаторы  
окисления СО на основе слолбчатых глин, Кинетика  
и катализ. – 2006. – Т. 47, № 3. – С. 402–407.  
экстракционной фосфорной кислотой, Хим. пром-  
сть. – 2008. – № 5. – С. 248–255.  
RESEARCH ON THE PROPERTIES OF POOR APATITE ORE AND  
KINETICS OF ACID TREATMENT OF RAW MATERIAL  
Bui Dinh Nhi*, Minh i ao  
Faculty of Chemical Technology and Environment, Viet Tri Industrial University  
Pham Duc Anh  
Center for Environmental Consultancy and Technology – VietNam Environmental Administration  
ABSTRACT  
Chemical composition, physical and chemical properties of poor Apatite ore in Lao Cai were studied.  
Modern analytical methods such as SEM-EDX, XRD, TGA/DSC/DTG, BET used in the study have identified  
that Apatite ore has useful P2O content of 13.5% and main impurity silic dioxide of 32,5%, and the phase,  
the thermal decomposition pro5cess, the surface area as well as the pore volume of the material sample have  
also determined. Kinetic studies have identified first-order reaction, some optimal process parameters have  
been selected such as stirring speed, acid concentration and temperature.  
Key words: Poor apatite, kinetics, physicochemical properties, acid.  
96 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
pdf 7 trang yennguyen 17420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tính chất quặng apatit nghèo và động học quá trình xử lý axít nguyên liệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tinh_chat_quang_apatit_ngheo_va_dong_hoc_qua_trin.pdf