Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám

Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ XỬ LÝ DẦU  
BẰNG VI SINH VẬT LƠ LỮNG VÀ DÍNH BÁM  
Lê Quốc Tuấn1,  
Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương2.  
1Khoa Môi Trường và Tài Nguyên, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
2 Khoa Khoa Học, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Abstract  
Industrialization imposes the development of oil companies and factories. The pollutants from  
fuel processes have not been well treated before releasing them into environments. Oil pollution  
is so difficult to be reduced and removed by chemical or physical methods. Therefore, biological  
methods with the presence of fuel-eaten bacteria are essential for oil treatment.  
By pilot, the experiments on oil treatment were conduted through aerotank with settlement  
and bacterial attached materials. The obtained results show that high efficiency in oil treatment  
when oil concentration was 100mg/l; The activated sludge was maintained from 2500 –  
3000mg/l; retention time in aerotank-settlement was 16h; COD was treated from 35 – 69% and  
oil was removed from 35 – 75%.  
1. Giới thiệu  
Vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của  
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhiều chính sách, điều luật bảo vệ môi  
trường được ban hành và tuyên truyền rộng rãi nhằm cứu Trái Đất khỏi những thảm họa môi  
trường do chính con người gây ra.  
Hàng năm, thế giới luôn bị tràn dầu do các phương tiện vận chuyển dầu gây nên.Những vụ  
tràn dầu này thường gây nên những tác động xấu về mặt sinh thái. Ngoài ra, các loại nước thải từ  
khai thác, chế biến, lưu trữ dầu và những vấn đề khác có liên quan đều có tác động xấu đến môi  
trường sinh thái.  
Ô nhiễm dầu có thể xảy ra ở tất cả các khâu, từ thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu  
trữ cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm.  
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng. Vì vậy, ngày càng có  
nhiều cơ sở chế biến xăng dầu, các kho xăng dầu ra đời. Sự tăng lên của các cơ sở chế biến sản  
phẩm từ dầu mỏ, các kho xăng dầu đồng nghĩa với sự gia tăng chất lượng chất thải, đặc biệt là  
nước thải. Để xử lý tốt loại nước thải này cần thiết phải tiến hành một số nghiên cứu nhất định.  
Một số công trình nghiên cứu về xử lý nước thải nhiễm dầu được thực hiện ở trong và ngoài  
nước. Đa số các nghiên cứu này là xử lý chất thải hoặc xử lý nước thải do các vụ tràn dầu gây ra.  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
102  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Để xử lý ô nhiễm do dầu và các sản phẩm dầu gây ra, có nhiều phương pháp khác nhau như  
phương pháp vật lý, hóa học nhưng hiệu quả hơn là sử dụng các biện pháp sinh học sau khi đã  
vớt cơ học. Trong giai đọan hiện nay ứng dụng công nghệ sinh học vào việc làm sạch ô nhiễm  
dầu có tính chất khả thi cao, phù hợp với trình độ và kỹ thuật ở nước ta mà vẫn đảm bảo an tòan  
cho môi trường.  
Trong những năm 1990 các nhà khoa học công nghệ trên thế giới đã phát triển phương pháp  
làm sạch ô nhiễm dấu mỏ bằng phân hủy sinh học. Phương pháp này ngày càng chứng minh được  
tính ưu việt của nó so với các phương pháp xử lý khác về giá thành, hệ số an toàn và khả năng xử  
lý triệt để ô nhiễm.  
Mặc dù vẫn có các nghiên cứu về vi sinh phân hủy dầu, nhưng hầu hết chỉ dừng ở mức thí  
nghiệm. Trong cả nước cảng dầu B12 nằm tại cửa Lục, sát biển bãi Cháy, thành phố Hạ Long,  
tỉnh Quảng Ninh là ví dụ điển hình thành công trong việc áp dụng công nghệ sinh học trong xử lý  
nước thải nhiễm dầu. Công trình này đã mang lại tiếng vang lớn và được giải nhất giải thưởng  
VIFOTECH năm 2001 do nhà nước tặng. Kết quả là nước đầu ra sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn  
TCVN 5945-1995 loại B và thu đựợc sản phẩm gián tiếp là sinh khối của vi sinh vật, có thể làm  
phân bón cho cây.  
Với mục đích tìm hiểu phương pháp và hiệu quả xử lý nước thải nhiễm dầu bằng biện pháp  
sinh học tôi tiến hành thực hiện đề tài: “KHẢO SÁT HIỆU QUẢ XỬ LÝ DẦU BẰNG VI  
SINH VẬT LƠ LỬNG VÀ DÍNH BÁM”.  
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Vật liệu  
- Vật liệu đệm: cát, sỏi, đất, đá cho lớp lọc.  
- Các hóa chất phân tích BOD, COD, độ màu đạt tiêu chuẩn phân tích trong phòng thí nghiệm  
- Các máy đo pH, oxy hòa tan  
- Vi sinh vật phân hủy dầu phân lập từ bùn nhiễm dầu  
- Mẫu nước thải được lấy tại ao tiêu độc của xí nghiệp xăng dầu Cát Lái, đem đi phân tích các chỉ  
tiêu để cân bằng dinh dưỡng trước khi chạy mô hình.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phân lập vi khuẩn:  
Từ dịch nước có bùn hoạt tính và dầu, lấy ra và ly tâm thu cặn nổi. Sau đó lấy dịch đó hòa  
vào nươc vô trùng theo các tỉ lệ khác nhau. Tiếp theo hút vào các đĩa petri có chứa môi trường  
nutrient Broth để lấy khuẩn lạc. Đĩa nào có khoảng 200 khuẩn lạc thì lấy, lấy khuẩn lạc đó đi test  
sinh hóa và đem cho vào môi trường chứa Nutrient broth và dầu khoáng để xem sự phân hủy của  
vi sinh vật.  
2.2.2. Mô hình aerotank kết hợp lắng:  
Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm tại phòng công nghệ Khoa Môi Trường.  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
103  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Quá trình vận hành mô hình thực nghiệm ở phòng thí nghiệm có thể chia ra làm 2 giai đoạn:  
giai đoạn chạy thích nghi và giai đoạn chạy chính thức, được thực hiện trên mô hình aerotank kết  
hợp lắng (Hình 1) và mô hình sử dụng vi sinh dính bám (Hình 2).  
Hình 1. Mô hình aerotank kết hợp lắng  
2.2.2.1 Giai đoạn chạy thích nghi  
Mục đích: nhằm có thời gian cho vi sinh vật thích nghi với nước thải và mô hình dần vào giai  
đoạn ổn định. Đồng thời, giai đoạn này cũng là giai đoạn kiểm tra hệ thống có hoạt động đúng với  
yêu cầu thiết kế hay không kiểm tra hệ thống sục khí, máy bơm, dòng chảy của nước thải trong hệ  
thống..).  
Cách tiến hành: Giai đoạn này hệ thống hoạt động với tải trọng thấp, lưu lượng vào khoảng 4,5  
(l/h), nước thải được pha loãng để COD khoảng 200-400mg/l.  
Kiểm tra các thông số DO, nhiệt độ, pH, tỉ lệ F/M, BOD : N : P.  
Giai đoạn này cần theo dõi màu sắc của bùn và độ lắng của bùn hoạt tính (chỉ số SVI, so sánh  
với lúc mới lấy về).  
2.2.2.2 Giai đoạn chạy chính thức  
* Khảo sát nồng độ bùn:  
Mục đích: Nồng độ bùn là thông số rất quan trọng trong quá trình xử lí nước thải vì nó ảnh  
hưởng tới rất nhiều thông số và quá trình, cuối cùng ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý. Rõ ràng khi  
nồng độ bùn càng cao thì hiệu quả xử lý càng cao, giảm được thời gian xử lí và dung tích  
aerotank. Nhưng nồng độ bùn cao sẽ gây khó khăn cho bể lắng và quá trình vận hành hệ thống.  
Do đó, ta phải khảo sát ảnh hưởng của nồng độ bùn nhằm xác định được khoảng nồng độ bùn  
nào là thích hợp đối với nước thải và hệ thống.  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
104  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Hình 2. Mô hình lọc cát thông thường (100% cát) và mô hình sử dụng vi sinh vật dính bám (50%  
cát + 50% đất bùn)  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Kết quả phân thích mẫu nước nhiễm dầu cho thấy hàm lượng dầu đầu vào ở ao tiêu độc vượt  
quá mức tiêu chuẩn cho phép xả thải. Tuy nhiên, sau một thời gian xử lý ở ao tiêu độc thì chất  
lượng nước nhiễm dầu đã được cải thiện và đạt tiêu chuẩn loại A (TCVN 5945-2005). Kết quả  
nước đầu ra được trình bày ở bảng 1.  
Bảng 1. Các chỉ tiêu nước thải nhiễm dầu và phương pháp phân tích đi kèm  
Kí hiệu mẫu  
Nước thải  
4
TCVN 5945 –  
2005 (loại A)  
Chỉ tiêu phân tích  
Phương pháp  
SS (mg/l)  
BOD(mgO2/l)  
COD(mg O2/l)  
N tổng(mg/l)  
50  
30  
50  
15  
4
TCVN 6625-2000  
TCVN 6001-1995  
TCVN 6491 – 1499  
TCVN6638-2000  
TCVN 6202 -1996  
KTSK 21 – GC/MS  
14,1  
56,47  
1,85  
0,21  
0,6  
P tổng(mg/l)  
Dầu mỡ khoáng(mg/l)  
5
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
105  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Lượng dầu thải từ cảng Cát lái chủ yếu ngấm vào trong đất hoặc bùn, và đó chính là nguồn  
phát thải ô nhiễm rõ ràng nhất và có khả năng gây ô nhiễm cao đối với nước ngầm và nước mặt  
nếu bị chảy tràn. Trong đất hoặc trong nước nhiễm dầu cũng diễn ra các quá trình xử lý dầu bởi  
các hoạt động của vi sinh vật lơ lững và dính bám. Các kết quả được trình bày trong báo cáo này  
nhằm là rõ khả năng xử lý dầu của vi sinh vật trong hai môi trường đã đề cập ở trên.  
Để mô hình thí nghiệm vận hành ổn định và hiệu quả thì việc phân tích nồng độ bùn trong mô  
hình là cần thiết. Kết quả khảo sát nồng độ bùn hoạt tính (chứa vi sinh vật) cho thấy nồng độ bùn  
tối ưu nhất cho viêc xử lý COD và dầu phải được duy trì ở nồng độ 2400 – 2800mg/l ở trong  
ngăn hiếu khí. Dựa vào kết quả này, các mô hình thí nghiệm tiếp theo sẽ được điều chỉnh và vận  
hành để đạt được kết quả xử lý cao nhất.  
3.1. Mô hình aerotank kết hợp lắng  
3.1.1. Xử lý dầu  
Thí nghiệm được tiến hành trên mô hình aerotank kết hợp lắng. Kết quả thí nghiệm được  
trình bày ở bảng 2.  
Bảng 2. Hiệu quả xử lý dầu  
Nồng độ bùn  
(mg/l)  
2500  
Thời gian  
lưu  
Dầur  
(mg/l)  
27.06  
Dầuv (mg/l)  
Hiệu suất  
16h  
16h  
16h  
16h  
50  
46%  
37%  
28%  
14%  
10%  
2500  
2500  
2500  
2500  
100  
150  
200  
300  
63.12  
108.38  
172.33  
269.64  
16h  
Dựa vào bảng 2, ta thấy rằng dầu tại nồng độ 27.06 mg/l, có hiệu quả xử lý cao nhất 46%  
càng về sau nồng độ càng tăng hiệu quả xử lý càng giảm.  
Sự thay đổi khả năng xử lý theo nồng độ dầu có thể là do trong giai đoạn đầu vi sinh vật sử  
dụng dầu như ngườn cơ chất nên phát triển nhanh làm tăng khả năng oxi hóa nguồn hydrocacbon  
nên hiệu suất tăng nhanh.  
Nhưng sau đó hiệu suất lại giảm khi lượng dầu tăng lên, điều này có thể là do lượng dầu quá  
cao vượt khả năng xử lý của vi sinh vật.  
Như vậy, ở nồng độ dầu càng thấp thì hiệu suất càng cao.  
3.1.2. Xử lý COD  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
106  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Dựa vào hình 3, ta thấy rằng COD tại nồng độ 200mg/l có hiệu quả xử lý 41%, tại nồng  
độ 400mg/l có hiệu quả xử lý cao nhất 69% càng về sau nồng độ càng tăng hiệu quả xử lý càng  
giảm.  
BIỂU ĐỒ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ XỬ LÝ COD  
Hiệu suất (%)  
1200  
1000  
800  
600  
400  
200  
0
100%  
90%  
80%  
70%  
60%  
50%  
40%  
30%  
20%  
10%  
0%  
CODv (mg/l)  
CODr (mg/l)  
Hiệu suất  
2500  
2500  
2500  
2500  
2500  
Nồng độ bùn tối ưu (mg/l)  
Hình 3. Hiệu quả xử lý COD của mô hình aerotank kết hợp lắng  
Các nguyên nhân được đề xuất cho sự giảm hiệu suất khi tăng nồng độ COD là khả năng xử  
lý của vi sinh vật bị ức chế hoặc có giới hạn về thức ăn cho vi sinh vật.  
So với quá trình bùn hoạt tính truyền thống để xử lý nước thải nhiễm dầu thì công trình xử lý  
cũng có hiệu quả khử COD tương đương.  
Khi so sánh hiệu quả xử lý dầu và xử lý COD với bể lắng thông thường thì kết quả xử lý của  
aerotank kết hợp lắng có hiệu quả xử lý cao hơn 7 lần đối với dầu và 5 lần đối với COD.  
3.2. Mô hình vi sinh dính bám  
Trong lô thí nghiệm này thì mô hình đối chứng được thực hiện là mô hình được chạy chỉ dựa  
trên vật liệu cát, mô hình chính là mô hình trên vật liệu cát và đất nhiễm dầu (có sự hiện diện của  
vi sinh vật)  
3.2.1. Xử lý dầu  
Bảng 3. Hiệu quả xử lý dầu ở mô hình dính bám.  
Nồng độ bùn  
Thời gian lưu  
Dầuv (mg/l)  
Dầur (mg/l) Hiệu suất  
(mg/l)  
2500  
2500  
2500  
2500  
2500  
16h  
16h  
16h  
16h  
16h  
27.06  
63.12  
108.38  
172.33  
269.64  
13.26  
16.53  
51%  
74%  
40%  
37%  
35%  
64.78  
108.24  
176.32  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
107  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 cho thấy dầu tại nồng độ 27.06 mg/l, mặt dù nồng độ thấp  
nhưng hiệu quả xử lý không cao bằng nồng độ 63.12mg/l, thời gian đầu cho đất cát vào thiết bị  
độ rỗng các lớp khá cao. Khi nồng đồ dầu 63.12mg/l cao nhất do thời gian sau đất đã tạo độ chặt  
và trước đó ta tiến hành rửa lọc bằng cách thổi khí cung cấp oxy cho vi sinh vật trong bùn nên  
hiệu quả xử lý cao, về sau nồng độ càng tăng hiệu quả xử lý càng giảm.  
Cũng với thí nghiệm này nhưng được thực hiện trên mô hình chỉ có vật liệu cát, chúng tôi  
nhận thất hiệu quả xử lý chỉ đạt được cao nhất là 15% so với 74% đối với mô hình dính bám vi  
sinh vật. Điều này cho thấy hiệu quả xử lý chỉ đạt được khi vi sinh vật dính bám trên bề mặt vật  
liệu và điều kiện tiếp xúc của vi sinh vật với dầu cần được xử lý.  
3.2.2. Xử lý COD  
BIỂU ĐỒ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ XỬ LÝ COD TRÊN  
ĐẤT  
700  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
0
100%  
80%  
60%  
40%  
20%  
0%  
CODv (mg/l)  
CODr (mg/l)  
Hiệu suất  
2500 2500 2500 2500 2500  
Nồng độ bùn (mg/l)  
Hình 4. Hiệu quả xử lý COD  
Kết quả thí nghiệm ở hình 4 cho thấy khi nồng đồ COD tăng dần thì hiệu quả xử lý giảm dần,  
hiệu quả xử lý mức trung bình. Đặc biệt hiệu quả xử lý tại các nồng độ 157 mg/l cao nhất là 59%.  
Cũng ở nồng độ COD này thì hiệu quả xử lý chỉ đạt được 15%.  
4.  
4.1 Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với mô hình aerotank kết hợp với lắng, nồng độ bùn cần  
Kết luận và kiến nghị  
được duy trì trong hệ thống khoảng 2500 – 3000 mg/L.  
Hiệu suất khử COD của hệ thống 69%, so với quá trình bùn hoạt tính truyền thống để xử lý  
nước thải nhiễm dầu thì công trình xử lý cũng có hiệu quả khử COD tương đương.  
Nồng độ dầu thích hợp khoảng 50mg/l. Hiệu quả loại bỏ dầu của hệ thống khoảng 46% và  
hiệu suất giảm khi nồng độ tăng.  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
108  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010  
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th – 20th June 2010  
Đối với mô hình xử lý bằng vi sinh vật dính bám, đối với cát, hiệu suất khử COD của hệ  
thống 10-15%, chủ yếu là do SS được giữ lại trong hệ thống; Hiệu quả loại bỏ dầu của hệ thống  
khoảng 8-11% chủ yếu là do dầu bị dính bám trên bề mặt cát; đối với đất kết hợp cát và bùn, hiệu  
suất khử COD của hệ thống khoảng 59%, chủ yếu là do vi sinh vật xử lý phần lớn và SS được giữ  
lại trong hệ thống  
Hiệu quả loại bỏ dầu của hệ thống khoảng 74% chủ yếu là do vi sinh vật xử lý phần lớn và SS  
được giữ lại trong hệ thống  
Tóm lại, trong bùn tại xí nghiệp xăng dầu Cát Lái đã tồn tại vi sinh vật phân hủy dầu, đo đó  
chúng có khả năng phân hủy dầu trong môi trường đất nước nhưng chỉ có khả năng xử lý ở nồng  
độ thấp.  
4.2 Kiến nghị  
Nên có những nghiên cứu sâu về chủng vi sinh vật phân hủy dầu để kiểm soát và tăng cường  
hiệu quả xử lý dầu đồng thời tạo ra chế phẩm sinh học phân hủy dầu.  
Do các vi sinh vật chỉ xử lý được hàm lượng dầu ở nồng độ thấp do đó để hiệu quả xử lý cao  
cần phải có các biện pháp xử lý hóa lý trước khi vào hệ thống xử lý sinh học.  
Tài liệu tham khảo  
1. Trung tâm nghiên cứu môi trường, 2002. Giáo trình thực hành hóa môi trường. Đại Học  
Nông Lâm TP. HCM.  
2. Lương Đức Phẩm, 2003. Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học. Nhà xuất bản  
giáo dục.  
3. Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn Thị Thùy Dung, 2003. Công nghệ sinh học môi trường, tập 1.  
Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh.  
4. Nguyễn Văn Phước, 2004. Xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính. Nhà xuất Đại Học Quốc Gia  
TP Hồ Chí Minh.  
5. Nguyễn Xuân Nguyên, Phạm Hồng Hải, 2003. Lý thuyết và mô hình hóa quá trình xử lý nước  
thải bằng phương pháp sinh học. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.  
6. Trịnh Xuân Lai, 2000. Tính toán thiết kế các công trình xử lý nước thải. Nhà xuất bản xây  
dựng.  
7. Trần Công Phát, 2005. Nghiên cứu quá trình xử lý nước thải nhiễm dầu bằng hệ lọc ngược  
qua lớp bùn hoạt tính, luận văn tốt nghiệp, Đại Học Nông Lâm TP.HCM.  
8. Lâm Thị Bích Nhật, 2007. Phân lập chủng vi khuẩn – Kết hợp ứng dụng mô hình USBF trong  
xử lý nước thải nhiễm dầu, luận văn tốt nghiệp, Đại Học Quốc Gia TP.HCM.  
__________________________________________________________________________________________  
Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám  
109  
Lê Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Sương Mai, Hồ Thị Mai, Trương Thị Hương Huỳnh, Trần Thị Thanh Hương – Đại học  
Nông Lâm Tp. HCM  
pdf 8 trang yennguyen 17300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát hiệu quả xử lý dầu bằng vi sinh vật lơ lững và dính bám", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_hieu_qua_xu_ly_dau_bang_vi_sinh_vat_lo_lung_va_dinh.pdf