Các yếu tố tác động đến ý định giảm sử dụng túi nylon của người dân tại thành phố Đà Lạt, Việt Nam

226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
THE FACTORS AFFECTING PEOPLE’S INTENTIONS TO REDUCE  
THE USE OF NYLON BAGS IN DALAT, VIET NAM  
Nguyen Thi Bao Dung*, Nguyen Thi Cuc  
Dalat University  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
The objective of this study is to identify and measure the factors’ impact  
on people's intentions to reduce the use of nylon bags in Da Lat city. The  
proposed research model includes five groups of factors such as: (i)  
attitude; (ii) behavior control awareness; (iii) personal norm; (iv)  
awareness of the harmful effects of nylon bags on the environment and (v)  
awareness of the effects of nylon bags to human health. Based on 350  
randomly-selected survey, data were collected from 320 valid surveys and  
processed using SPSS 20 software. The results of the linear regression  
model showed that all five factors affect the intention to reduce the use of  
nylon bags. In particular, the awareness of the harmful effects of nylon  
bags on the environment have the most positive impacts. Besides, the  
study also found that people's attitudes were not really positive about  
reducing the use of nylon bags. The results of this study can be the basis  
for local authorities to propose appropriate policy solutions to enhance  
the people’s intention to reduce the use of nylon bags.  
Received:  
Revised:  
22/4/2021  
14/6/2021  
16/6/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Intention  
Reduce use  
Plastic waste  
Nylon bags  
People  
Da Lat  
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH GIẢM SỬ DỤNG TÚI NYLON  
CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, VIỆT NAM  
Nguyễn Thị Bảo Dung*, Nguyễn Thị Cúc  
Trường Đại học Đà Lạt  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 22/4/2021  
Ngày hoàn thiện: 14/6/2021  
Ngày đăng: 16/6/2021  
TÓM TẮT  
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm nhận diện và đo lường mức độ ảnh  
hưởng của các yếu tố đến ý định giảm sử dụng túi nylon của người dân  
ở TP. Đà Lạt. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm năm nhóm yếu tố ảnh  
hưởng là: (i) thái độ; (ii) nhận thức kiểm soát hành vi; (iii) chuẩn chủ  
quan; (iv) nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường và (v) nhận  
thức ảnh hưởng của túi nylon đến sức khỏe. Trên cơ sở khảo sát 350  
người dân sinh sống tại địa bàn thành phố với 320 bảng khảo sát hợp lệ  
và dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Kết quả mô hình hồi  
quy tuyến tính cho thấy, cả năm nhóm yếu tố đều có ảnh hưởng đến ý  
định giảm sử dụng túi nylon. Trong đó, nhận thức tác hại của túi nylon  
đến môi trường là biến ảnh hưởng mạnh nhất. Bên cạnh đó, nghiên cứu  
cũng nhận thấy rằng thái độ của người dân chưa thật sự tích cực đối  
với việc giảm sử dụng túi nylon. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở giúp  
cho các nhà chức trách có các giải pháp chính sách thích hợp nhằm  
nâng cao ý định giảm sử dụng túi nylon.  
TỪ KHÓA  
Ý định  
Giảm sử dụng  
Rác thải nhựa  
Túi nylon  
Người dân  
Đà Lạt  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
274  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Hiện nay, có khoảng 9,1 tỷ tấn rác thải nhựa đang tích tụ trên Trái đất và mỗi năm thế giới  
thải ra 300 triệu tấn rác thải nhựa. Theo Liên hợp quốc, có tới 5.000 tỷ túi nylon đã được sử dụng  
trên thế giới mỗi năm, tương đương 10.000.000 túi nylon được tiêu thụ mỗi phút, nhưng chỉ có  
27% trong số đó được xử lý và tái chế, hậu quả là rác thải nhựa và túi nylon phát sinh không  
ngừng [1]. Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ước tính mỗi người dân Việt Nam tiêu  
thụ khoảng từ 30 đến 40 kg nhựa/năm, đồng thời Việt Nam là một trong bốn quốc gia tại châu Á  
(sau Trung Quốc, Indonensia, và Philippines) phát sinh chất thải nhựa nhiều nhất, chiếm 5,8%  
tổng số rác thải nhựa trên thế giới năm 2018 [2], [3]. Nhận thức được mối nguy hại do rác thải  
nhựa gây ra, các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang rất quan tâm tìm kiếm  
các giải pháp nhằm giảm thiểu rác thải nhựa, đặc biệt là túi nylon.  
Theo Báo cáo của Liên hợp quốc về “Nhựa sử dụng một lần - Lộ trình cho sự bền vững”, để  
khuyến khích người tiêu dùng về việc sử dụng có trách nhiệm và giảm thiểu phát sinh chất thải,  
đặc biệt là chất thải từ nhựa, thì nâng cao nhận thức và giáo dục xã hội là điều cần thiết. Báo cáo  
cũng chỉ ra rằng các chiến dịch toàn quốc kém hiệu quả hơn chiến dịch cho từng địa phương [1].  
Các nghiên cứu điều tra xã hội học nhằm khảo sát về kiến thức, nhận thức, hành vi và hiểu  
biết về sự nguy hại đến sức khỏe cũng như ảnh hưởng đến môi trường của việc sử dụng các sản  
phẩm nhựa, đặc biệt là túi nylon đều thực hiện với mục đích thay đổi hành vi của con người để  
giảm phát sinh chất thải nhựa.  
Nghiên cứu tại Thủ đô Secretariat, Yemen (2019) phát hiện ra rằng tỷ lệ lớn người được hỏi  
(81,0%) sử dụng túi nylon thường xuyên hơn bất kỳ sản phẩm nhựa nào khác với lý do chính là  
dễ dàng có sẵn (50,5%). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khuyến nghị chính phủ Yemen nên  
khuyến khích người dân sử dụng túi thân thiện môi trường và đề xuất chương trình “Ngày không  
sử dụng túi nylon” [4].  
Nghiên cứu của tác giả Muleta (2011) thành phố Jimma, Tây Nam Ethiopia với mục tiêu đánh  
giá việc sử dụng túi nhựa và tác động đến môi trường của chúng. Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ cao  
người được hỏi (76,52%) sử dụng túi nylon thường xuyên, với lý do chính là do giá thành rẻ và dễ  
dàng có sẵn; việc đổ rác ra các khu vực xung quanh (59,56%) là phương thức được sử dụng rộng rãi.  
Ngoài ra, nghiên cứu còn cho biết rằng người dân nhận thức được các vấn đề ảnh hưởng của rác thải  
từ túi nylon như gây chết động vật, tắc nghẽn đường nước thải, làm suy giảm vẻ đẹp tự nhiên của  
môi trường và các vấn đề sức khỏe con người tuy nhiên xu hướng sử dụng túi nylon vẫn gia tăng [5].  
Nghiên cứu của tác giả Ohtomo và cộng sự ở Nhật Bản (2014) nhằm khuyến khích người mua  
hàng giảm sử dụng túi nhựa miễn phí tại siêu thị đã sử dụng hành động can thiệp nhắc nhở bằng  
giọng nói để tác động đến nhận thức thân thiện với môi trường. Kết quả cho thấy việc can thiệp  
bằng giọng nói chưa là một hiệu ứng lớn nhưng đã giảm được 5% việc sử dụng túi nhựa miễn phí  
tại các siêu thị [6].  
Tại Thái Lan, nghiên cứu của Hohmann và cộng sự (2014) về “Thăm dò các yếu tố liên quan  
đến việc giảm sử dụng túi nhựa tại Bangkok, Thái Lan” chỉ ra rằng yếu tố nhận thức về việc sử  
dụng quá mức túi nylon là yếu tố dự báo quan trọng nhất tác động đến ý định giảm sử dụng túi  
nylon, trong khi đó yếu tố thúc đẩy việc sử dụng các sản phẩm thay thế là yếu tố ít ảnh hưởng  
nhất. Ngoài ra, các biện pháp điều tiết như tính phí có thể làm giảm việc sử dụng túi nhựa; tuy  
nhiên, hiệu quả chỉ có thể là ngắn hạn. Theo nghiên cứu cần điều chỉnh văn hóa thay vì thúc đẩy  
bất kỳ dự án cụ thể nào nhằm giảm sử dụng túi nhựa [7].  
Tại Trung Quốc, nghiên cứu “Tìm hiểu ý định sử dụng túi nhựa của người tiêu dùng: sử dụng  
lý thuyết mở rộng về hành vi dự định” (2017) chỉ ra rằng yếu tố thái độ, chuẩn mực chủ quan,  
kiểm soát hành vi và sự tiện lợi đều có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng tích cực đến ý định sử  
dụng túi nhựa. Trong khi đó, mối quan tâm về môi trường và niềm tin đạo đức có ảnh hưởng tiêu  
cực lớn đến người tiêu dùng có ý định sử dụng túi nhựa. Nghiên cứu cho rằng việc tăng mức độ  
quan tâm đến môi trường và niềm tin đạo đức có thể không đủ để giảm việc sử dụng túi nhựa. Do  
đó, cần lưu ý đến tầm quan trọng của thái độ, và cần có những giải pháp để người tiêu dùng nhận  
275  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
ra tầm quan trọng của việc thực hiện hành vi thân thiện với môi trường và thúc đẩy họ giữ thái độ  
tiêu cực đối với việc sử dụng túi nhựa [8].  
Tại Việt Nam, tác giả Bùi Thị Hồng Hạnh và cộng sự (2013) nghiên cứu “Thay thế thói quen  
xã hội trong việc sử dụng túi nylon bằng túi vải: Điển cứu tại khu phố 7, phường 15, quận Gò Vấp,  
Tp Hồ Chí Minh”. Kết quả khảo sát cho thấy 72% các ý kiến cho rằng sử dụng túi nylon là rất ô  
nhiễm và 25% cho rằng sử dụng túi nylon là ô nhiễm; và kết quả cũng chỉ ra 80% ý kiến cho rằng  
túi nylon gây ra nhiều tác hại bao gồm khó phân hủy, làm ô nhiễm môi trường, khi đốt túi nylon sẽ  
thải ra khí độc ảnh hưởng tới sức khỏe, gây tắc nghẽn ống cống. Mặc dù đa phần người dân nhận  
thức được tác hại của túi nylon nhưng vẫn sử dụng do sự tiện lợi và chưa có nhiều các loại túi thân  
thiện môi trường trên thị trường. Nghiên cứu chỉ ra rằng để thay đổi thói quen thay thế sử dụng túi  
nylon bằng túi vải thì điều tất yếu cần phải làm là thay đổi hành vi của con người [9]. Năm 2015,  
nghiên cứu “Nhận thức về hành vi sử dụng túi nylon của người dân quận Ninh Kiều, thành phố  
Cần Thơ” của tác giả Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự đã cho rằng nhận thức của người dân về tác  
hại của túi nylon đến môi trường, đến sức khỏe con người là chưa cao. Các loại túi thay thế cũng  
đã được biết đến tuy nhiên giá thành vẫn còn cao và chưa thật phổ biến nên ít được người dân sử  
dụng [10]. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phương pháp thống kê để đánh giá nhận thức  
hành vi sử dụng túi nylon của người dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.  
Như vậy, đã có nhiều tác giả ở trong và ngoài nước phân tích các yếu tố tác động đến ý định  
giảm sử dụng sản phẩm nhựa, trong đó có túi nylon. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ  
dừng lại ở thống kê, chưa đi sâu vào phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Do đó, việc  
nhận diện và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến ý định giảm sử dụng các sản phẩm này có ý  
nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Nguồn dữ liệu  
Dữ liệu thu thập được tiến hành trong thời gian từ cuối tháng 6/2020 – cuối tháng 9/2020, do  
trong khoảng thời gian dịch Covid-19 bùng phát, việc hạn chế tiếp xúc và giãn cách xã hội đã  
làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình khảo sát. Dựa vào các kết quả nghiên cứu trước, từ đó  
nghiên cứu thiết kế thang đo sơ bộ, lập bảng khảo sát nháp và tiến hành phỏng vấn sâu 10 người  
dân bằng cách phát bảng hỏi nháp và thu thập ý kiến đóng góp đối với từng thang đo nhằm làm  
rõ ý nghĩa, hiệu chỉnh và bổ sung các biến đo lường, các khái niệm và thuật ngữ liên quan cho  
phù hợp với bối cảnh nghiên cứu.  
Cỡ mẫu có ảnh hưởng đến tổng thể thông qua tỷ lệ giữa lượng quan sát với các biến độc lập.  
Theo Hair và cộng sự (2014), để sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory  
Factor Analysis), kích thước mẫu tối thiểu phải là 50 và tốt hơn là 100, và tỉ lệ tối thiểu là 5 quan  
sát/thang đo (5/1) và tốt hơn là 10 quan sát/thang đo (10/1) [11]. Trong phân tích hồi quy, cỡ mẫu tối  
thiểu cần xác định theo công thức 50 + 5*(số biến độc lập) trong mô hình hồi quy. Trong nghiên cứu  
này, với tổng thang là 23, như vậy để tiến hành phân tích nhân tố khám phá, cỡ mẫu tối thiểu của  
nghiên cứu là 5*23 = 115 quan sát, và có thể tốt hơn là 10*23 = 230 quan sát; đồng thời nghiên cứu  
có năm biến độc lập cho mô hình hồi quy và do vậy cỡ mẫu tối thiểu là (50 + (5*5)) = 75 quan sát.  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy và do hạn  
chế nhiều về mặt thời gian cũng như điều kiện thực hiện nghiên cứu nên đề tài tiến hành khảo sát  
350 người dân và thu được 320 quan sát hợp lệ. Cỡ mẫu này đảm bảo kết quả nghiên cứu là đáng  
tin cậy và đại diện cho việc kiểm định mô hình nghiên cứu.  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Mô hình nghiên cứu gồm một biến phụ thuộc là Ý định giảm sử dụng túi nylon (YD) và năm  
biến độc lập: (i) Thái độ (TD), (ii) Nhận thức kiểm soát hành vi (HV), (iii) Chuẩn chủ quan (CQ),  
(iv) Nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường (MT) và (v) Nhận thức ảnh hưởng của túi  
nylon đến sức khỏe (SK) với bảng khảo sát gồm 23 thang đo (xem bảng 1).  
276  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 1. Thang đo định lượng  
THANG ĐO  
(YD1) Tôi nghĩ rằng tôi sẽ sử dụng các túi dùng lại nhiều lần (làn cói, giỏ  
STT  
BIẾN  
Cơ sở đề xuất  
Ý định giảm xách…) thay thế túi nylon trong tương lai gần  
1
sử dụng túi (YD2) Tôi dự định giảm sử dụng túi nylon trong tương lai gần  
nylon (YD) (YD3) Tôi sẵn sằng giảm sử dụng túi nylon ngay từ hôm nay  
(YD4) Tôi sẵn sàng không sử dụng túi nylon để bảo vệ môi trường  
(TD1) Tôi nghĩ rằng việc giảm sử dụng túi nylon là một việc làm thiết thực  
Thái độ (TD) (TD2) Tôi nghĩ rằng hạn chế sử dụng túi nylon là một lựa chọn đúng đắn  
(TD3) Tôi nghĩ rằng thay đổi thói quen sử dụng túi nylon là cần thiết  
(HV1) Tôi có thể hạn chế sử dụng túi nylon để bảo vệ sức khỏe bản thân  
2
3
(HV2) Tôi cảm thấy cần phải thay đổi thói quen sử dụng túi nylon vì lợi ích  
môi trường  
(HV3) Tôi sẵn sàng thay thế các loại túi thân thiện môi trường cho việc sử dụng  
Nhận thức  
kiểm soát  
hành vi (HV)  
túi nylon hiện nay  
(HV4) Tôi sẵn sàng từ chối nhận túi nylon khi đi mua hàng  
(CQ1) Gia đình và bạn bè khuyến khích tôi hạn chế sử dụng túi nylon  
(CQ2) Tôi thấy được ích lợi của việc hạn chế sử dụng túi nylon  
(CQ3) Mọi người xung quanh tôi (đồng nghiệp, hàng xóm…) có ảnh hưởng  
Chuẩn chủ  
4
đến tôi về việc hạn chế sử dụng túi nylon  
quan (CQ)  
(CQ4) Tôi có bị ảnh hưởng bởi các chiến dịch tuyên truyền về giảm sử dụng túi  
nylon mà chính quyền phát động bằng các phương tiện như đài, báo, tờ rơi,  
diễu hành…  
Nhận thức tác (MT1) Giảm sử dụng túi nylon góp phần cải thiện chất lượng môi trường  
hại của túi (MT2) Rác thải từ túi nylon đang làm nguy hại đến sinh vật biển  
nylon đến môi (MT3) Rác thải từ túi nylon đang làm mất mỹ quan môi trường  
trường (MT) (MT4) Sử dụng túi nylon quá mức đang gây ô nhiễm môi trường  
Nhận thức ảnh (SK1) Sử dụng túi nylon đựng thức ăn nóng có thể gây ngộ độc thực phẩm  
hưởng của túi (SK2) Tác hại của túi nylon có thể gây giảm khả năng miễn dịch  
nylon đến sức (SK3) Tác hại của túi nylon có thể gây ung thư  
5
6
khỏe (SK) (SK4) Hạn chế đựng thức ăn chín bằng túi nylon để bảo vệ sức khỏe  
(Nguồn: Tổng hợp của nghiên cứu)  
Các khái niệm nghiên cứu được đo lường bằng thang đo theo dạng Likert 5 điểm. Số liệu thu  
về được mã hóa, xử lý để đánh giá thang đo và ước lượng mô hình. Các số liệu được xử lý bằng  
phần mềm SPSS 20.  
Kỹ thuật xử lý số liệu gồm: Bước đầu tiên, nghiên cứu kiểm định các nhân tố của mô hình  
thông qua hệ số Cronbach’s alpha nhằm phân tích, đánh giá độ tin cậy của từng biến quan sát.  
Bước thứ hai, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA với phương  
pháp trích yếu tố Principal component với phép quay Varimax, và điểm dừng khi trích các yếu tố  
có EigenValues lớn hơn hoặc bằng 1; nhằm kiểm định sự hội tụ của các biến quan sát và khái  
niệm. Cuối cùng, phân tích tương quan và hồi quy (correlation and regression analyses) được sử  
dụng để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến giá trị mối quan hệ [11], [12].  
3. Kết quả và bàn luận  
3.1. Thực trạng sử dụng sản phẩn nhựa của người dân tại thành phố Đà Lạt  
Hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Lạt, bình quân mỗi ngày bình thường, lượng rác thải tại  
thành phố giao động từ 180 - 220 tấn; những mùa cao điểm du lịch, dịp lễ Tết, lượng rác có thể  
tăng gấp 3 - 4 lần; trong đó rác thải nhựa chiếm đến 7 - 8%. Phần lớn rác thải của thành phố  
không được phân loại và thu gom đổ bỏ trực tiếp tại bãi rác Cam Ly chôn lấp. Do thời gian hoạt  
động của bãi rác Cam Ly đã từ rất lâu, sử dụng phương pháp chôn lấp không hợp vệ sinh, không  
đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật vệ sinh môi trường nên mức độ ô nhiễm đất, nguồn nước ngầm, và  
277  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
ô nhiễm không khí rất cao. Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà ghi  
nhận đây chính là điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại thành phố Đà Lạt [13].  
Kết quả khảo sát từ 320 quan sát của nghiên cứu cho thấy, sản phẩm nhựa một lần được người  
dân lựa chọn thường xuyên sử dụng là túi nylon với tỷ lệ cao hơn (297, 92,81%) so với các sản  
phẩm nhựa được đưa ra trong nghiên cứu. Với thực trạng sử dụng hiện nay, túi nylon được sử  
dụng khá phổ biến khi mua hàng và chỉ sử dụng sau một thời gian ngắn túi nylon nhanh chóng  
trở thành chất thải. Kết quả khảo sát cho thấy, phương thức xử lý phổ biến của người dân là vứt  
bỏ sau khi sử dụng (223; 69,69%) và một phần được tái sử dụng (134; 41,88%). Phần lớn được  
tái sử dụng với mục đích làm túi chứa rác thải sinh hoạt; và sau đó những túi tái sử dụng này  
cũng tiếp tục được thải bỏ (xem hình 1).  
69.69  
92.81  
100  
80  
60  
40  
20  
0
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
41.88  
39.06  
Chai  
16.25  
15.31  
8.13  
0.63  
1.88  
0.63  
0.00  
Tái  
Khác  
Túi Ly nhựa Ống hút Chén,  
Khác  
Tái sử Vứt  
dụng bỏ sau chế  
sử  
Đốt  
nhựa nhựa/Túi  
nhựa đĩa, thìa,  
hộp  
nylon  
nhựa...  
dụng  
(a)  
(b)  
Hình 1. (a) Tỷ lệ % người dân sử dụng thường xuyên sản phẩm nhựa  
(b) Tỷ lệ % người dân sử dụng phương thức xử lý  
(Nguồn: Tổng hợp của nghiên cứu)  
3.2. Kết quả ước lượng mô hình  
3.2.1. Kiểm định chất lượng thang đo với tham số Cronbach’s Alpha  
Bảng 2. Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha lần hai  
Giá trị  
trung bình  
(Mean)  
Cronbach’s  
Alpha nếu  
biến bị loại  
Giá trị  
trung bình quan biến Alpha nếu  
(Mean) tổng biến bị loại  
CHUẨN CHỦ QUAN  
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,776  
Tương  
Cronbach’s  
Ký hiệu  
thang đo  
Tương quan  
biến tổng  
Ký hiệu  
thang đo  
THÁI ĐỘ  
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,757  
TD1  
TD2  
TD3  
3,85  
3,09  
4,04  
0,592  
0,578  
0,588  
0,667  
0,684  
0,672  
CQ1  
CQ3  
CQ4  
3,62  
3,72  
3,73  
0,506  
0,580  
0,597  
0,531  
0,475  
0,474  
NHẬN THỨC KIỂM SOÁT HÀNH VI  
NHẬN THỨC TÁC HẠI ĐẾN MÔI TRƯỜNG  
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,808  
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,818  
HV1  
HV2  
HV3  
HV4  
3,29  
3,03  
3,02  
3,28  
0,508  
0,659  
0,689  
0,660  
0,810  
0,743  
0,727  
0,746  
MT1  
MT2  
MT3  
MT4  
3,52  
3,73  
3,81  
3,46  
0,614  
0,749  
0,600  
0,605  
0,785  
0,722  
0,788  
0,787  
NHẬN THỨC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE  
Ý ĐINH GIẢM SỬ DỤNG TÚI NYLON  
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,809  
Hệ số Cronbach’s alpha = 0,724  
SK1  
SK2  
SK3  
SK4  
3,78  
3,64  
3,76  
3,76  
0,526  
0,440  
0,801  
0,786  
0,813  
0,845  
0,678  
0,685  
YD1  
YD2  
YD3  
YD4  
3,58  
3,84  
3,98  
4,08  
0,522  
0,488  
0,512  
0,549  
0,659  
0,682  
0,666  
0,646  
(Nguồn: Dữ liệu của nghiên cứu)  
278  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
Kết quả kiểm định đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho từng biến quan sát, cho thấy một  
biến quan sát CQ2 bị loại bỏ, do có tương quan biến tổng của biến 0,108 < 0,3 nghĩa là giá trị  
đóng góp của biến CQ2 với nhân tố chuẩn chủ quan là chưa cao; đồng thời Cronbach’s alpha if  
item deleted 0,776 lớn hơn Cronbach’s alpha của nhân tố (0,653).  
Kiểm định Cronbach’s Alpha lần hai với 22 biến (đã loại biến CQ2), tất cả biến quan sát trong  
mô hình nghiên cứu đều có hệ số Cronbach’s Alpha là > 0,6; các hệ số tương quan biến tổng của  
các biến đo lường thành phần này đều > 0,3. Bên cạnh đó, hệ số Alpha nếu loại biến (Alpha if  
Item deleted) của các biến đều nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha nên các biến đo lường thành  
phần này đều được sử dụng trong phân tích tiếp theo (xem bảng 2).  
3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá  
Kết quả phân tích EFA theo phương pháp trích yếu tố Principal Component với phép xoay  
Varimax đối với các yếu tố độc lập cho thấy biến quan sát SK2 bị loại bỏ do có hệ số tải - factor  
loading 0,440 < 0,5 nghĩa là mối quan hệ giữa biến SK2 với yếu tố “Nhận thức ảnh hưởng đến  
sức khỏe” chưa cao.  
Kết quả phân tích EFA sau khi loại biến SK2, có 5 nhân tố được rút ra tại giá trị Eigenvalue  
1,272 và phương sai trích đạt 69,872%, phù hợp với 5 nhân tố ban đầu trong mô hình nghiên cứu.  
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là 0,772 (0,5 < KMO < 1) và kiểm định Bartlet’s có Sig. =  
0,000. Hệ số tải của 17 biến quan sát của năm yếu tố độc lập đều từ 0,5 trở lên.  
Kết quả phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc cho thấy, có một nhân tố được hình thành  
tương ứng với sự đơn nghĩa của khái niệm Ý định giảm sử dụng, có giá trị Eigen là 2,212 (> 1);  
Phương sai trích đạt 55,300% và hệ số KMO = 0,740; Kiểm định Bartlet’s có Sig. = 0,000. Tất cả  
các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,50. Các giá trị kiểm định này cho thấy phân tích nhân tố phù  
hợp với mô hình nghiên cứu.  
3.2.3. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến  
Kết quả phân tích tương quan cho thấy các biến độc lập đều có tương quan tuyến tính khá  
mạnh với biến phụ thuộc, các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê (p<0,01) (Bảng 3). Điều  
này khẳng định sự phù hợp ban đầu của mô hình nghiên cứu khi xác định các yếu tố có ý nghĩa  
tác động đến ý định giảm sử dụng túi nylon của người dân. Vậy việc sử dụng phân tích hồi quy  
tuyến tính là phù hợp.  
Bảng 3. Kết quả phân tích tương quan  
Kiểm soát Chuẩn chủ Tác hại đến  
Ảnh hưởng  
đến sức khỏe  
0,373**  
0,000  
Thái độ  
hành vi  
0,285**  
0,000  
quan  
0,306**  
0,000  
320  
môi trường  
0,413**  
0,000  
0,277**  
0,000  
320  
Pearson correlation  
Sig. (2-tailed)  
N
Ý định  
320  
320  
320  
(Nguồn: Dữ liệu của nghiên cứu)  
Kết quả phân tích hồi quy đa biến (bảng 3) là cả 5 nhân tố được đề xuất trong mô hình nghiên  
cứu đều có tương quan thuận đến ý định giảm sử dụng túi nylon với phương trình hồi quy HV= 0  
+ 1*TD + 2*HV + 3*CQ + 4*MT + 5*SK + ; với R2 hiệu chỉnh là 0,555 nghĩa là có 55,5%  
sự biến thiên của ý định giảm sử dụng túi nylon (YD) được giải thích bởi sự biến thiên của các  
thành phần: thái độ (TD), chuẩn chủ quan (CQ), nhận thức kiểm soát hành vi (HV), nhận thức tác  
hại của túi nylon đến môi trường (MT) và nhận thức ảnh hưởng của túi nylon đến sức khỏe (SK).  
Trong đó “nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường” có tác động đồng biến mạnh nhất  
(4=0,413), nhận thức ảnh hưởng của túi nylon đến sức khỏe (5=0,373), chuẩn chủ quan  
(3=0,306), nhận thức kiểm soát hành vi (2=0,285), và thái độ có tác động đồng biến yếu nhất  
(1=0.277). Số liệu của các yếu tố trong phương trình hồi quy cho thấy đối tượng nghiên cứu  
nhận thức tốt được tác hại của túi nylon đến môi trường. Điều này có thể xem là phù hợp với  
quan điểm giảm sử dụng túi nylon là góp phần bảo vệ môi trường.  
279  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
Phân tích ANOVA (Bảng 4) cho thấy thông số F có mức ý nghĩa sig= 0,000, điều này chứng  
tỏ rằng mô hình hồi quy xây dựng là phù hợp với bộ dữ liệu thu thập được, và các biến đưa vào  
đều có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%. Đại lượng thống kê Durbin – Watson có giá  
trị là 1,976 nằm trong khoảng từ 1 đến 3, nên chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi  
bậc nhất trong mô hình.  
Bảng 4. Phân tích các hệ số trong hồi quy đa biến  
Model Summaryb  
M
od  
el  
R
R
Adjusted Std. Error  
Change Statistics  
Durbin-  
Watson  
Square  
R Square  
of the  
R Square  
Change  
F
df1 df2  
Sig. F  
Change  
Estimate  
Change  
.750  
1
.562  
.555 .66712245  
.562  
80.554  
5
314  
.000  
1.976  
a
a. Predictors: (Constant), TD, CQ, SK, HV, MT  
b. Dependent Variable: YD  
ANOVAa  
df  
Model  
Regression  
Sum of Squares  
179.254  
Mean Square  
F
Sig.  
5
314  
319  
35.851  
.445  
80.554  
.000b  
1
Residual  
Total  
139.746  
319.000  
a. Dependent Variable: YD  
b. Predictors: (Constant), TD, CQ, SK, HV, MT  
Coefficientsa  
Unstandardized Coefficients  
Model  
Standardized  
Coefficients  
Beta  
t
Sig.  
B
1.399E-016  
.413  
Std. Error  
.037  
(Constant)  
MT  
HV  
SK  
CQ  
.000  
1.000  
.037  
.037  
.037  
.037  
.037  
.413  
11.070  
7.634  
9.983  
8.204  
7.416  
.000  
.000  
.000  
.000  
.000  
.285  
.373  
.306  
.277  
.285  
.373  
.306  
.277  
1
TD  
a. Dependent Variable: YD  
3.3. Thảo luận kết quả  
Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường có ảnh  
hưởng lớn nhất đến ý định giảm sử dụng túi nylon, đây là một trong những yếu tố dự báo quan  
trọng đến ý định giảm sử dụng túi nylon. Người dân đã nhận thức được các vấn đề liên quan  
đến môi trường tuy nhiên quan tâm chính yếu là việc rác thải từ túi nylon làm mất mỹ quan  
môi trường (mean MT3= 3,81), nghĩa là người dân chưa thật sự nhận thức được nguyên nhân  
gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường từ việc sử dụng túi nylon quá mức. Nhằm nâng cao  
nhận thức hơn nữa về tác hại của túi nylon đến môi trường và thay đổi hành vi sử dụng túi  
nylon của người dân, các cơ quan ban ngành cần tích cực đẩy mạnh truyền thông tới từng khu  
phố các thông tin về hậu quả, mức độ gây ô nhiễm của túi nylon đến môi trường đất, nước,  
không khí.  
Nhận thức ảnh hưởng của túi nylon đến sức khỏe là yếu tố quan trọng thứ hai trong mô hình.  
Người dân đã nhận thức được tác hại của túi nylon như có thể gây giảm khả năng miễn dịch, gây  
ung thư cũng như nhận thức việc hạn chế sử dụng túi nylon đựng thức ăn chín để bảo vệ sức  
khỏe. Vì vậy, nhằm thay đổi thói quen sử dụng và thải bỏ túi nylon hiện nay cần có các chương  
trình giáo dục, các chỉ dẫn về những tác động nguy hại của các sản phẩm nhựa dùng một lần nói  
chung, túi nylon nói riêng đến sức khỏe con người và động vật; cũng như các phương án hướng  
dẫn sử dụng các sản phẩm thay thế an toàn cho sức khỏe.  
280  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
Tiếp theo, yếu tố chuẩn chủ quan có tương quan đồng biến thứ ba với ý định giảm sử dụng túi  
nylon. Đối với người dân, hành vi giảm/hạn chế sử dụng túi nylon thật sự xuất phát từ bản thân  
họ, còn những ảnh hưởng từ người thân trong gia đình, bạn bè/đồng nghiệp, cơ quan/ trường học,  
và các chiến dịch tuyên truyền về hạn chế sử dụng túi nylon mà chính quyền phát động bằng các  
phương tiện như đài, báo, tờ rơi, diễu hành… đều ảnh hưởng chưa đáng kể đến ý định giảm sử  
dụng túi nylon của người dân, các hoạt động tuyên truyền chỉ có tác động và dừng lại ở mức độ  
phong trào.  
Thứ tư, nhận thức kiểm soát hành vi là biến có ảnh hưởng đến ý định giảm sử dụng túi nylon.  
Khi những người mà bản thân họ nghĩ có thể hạn chế sử dụng hay từ chối nhận thêm túi nylon  
khi mua hàng; cũng như họ sẵn sàng thay đổi thói quen sử dụng túi nylon bằng các loại túi thân  
thiện môi trường nghĩa là họ có xu hướng giảm sử dụng cao. Các cá nhân có mức nhận thức kiểm  
soát hành vi cao thì có xu hướng giảm sử dụng túi nylon lớn. Do đó Nhận thức kiểm soát hành vi  
là một yếu tố dự báo khá quan trọng của ý định giảm sử dụng túi nylon.  
Và cuối cùng, yếu tố thái độ là biến có ít ảnh hưởng nhất đến ý định giảm sử dụng túi nylon  
của người dân TP. Đà Lạt. Mặc dù yếu tố thái độ có tác động thấp nhất đến ý định giảm sử dụng  
túi nylon tuy nhiên mức trung bình của thang đo “Tôi nghĩ rằng thay đổi thói quen sử dụng túi  
nylon là cần thiết” có mức trung bình khá cao (meanTD3= 4,04), nghĩa là người dân có quan tâm  
và có thái độ tích cực đến việc thay đổi thói quen sử dụng túi nylon. Thái độ càng tích cực trong  
việc thay đổi thói quen sử dụng thì ý định giảm/hạn chế sử dụng túi nylon càng cao.  
Nhóm ý định giảm sử dụng túi nylon có giá trị trung bình của các thang đo tương đối cao, tuy  
nhiên đối với ý định sẵn sàng không sử dụng túi nylon để bảo vệ môi trường được người dân  
đánh giá cao nhất (meanYD4=4,08), cho thấy vấn đề bảo vệ môi trường là vấn đề được người  
dân thật sự quan tâm.  
4. Kết luận  
Nhìn chung, kết quả thu được trong nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ người được hỏi sử dụng túi  
nylon thường xuyên chiếm tỷ lệ cao hơn so với các sản phẩm nhựa khác. Kết quả cũng chỉ ra  
rằng ý định giảm sử dụng túi nylon của người dân TP. Đà Lạt có liên quan đáng kể đến các biến  
“nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường”, “nhận thức ảnh hưởng của túi nylon đến sức  
khỏe”, “chuẩn chủ quan”, “nhận thức kiểm soát hành vi” và “thái độ”. Trong đó, nhận thức tác  
hại của túi nylon đến môi trường có ảnh hưởng lớn nhất, còn thái độ là yếu tố ít ảnh hưởng nhất,  
tuy nhiên đây cũng là một trong các biến dự đoán quan trọng.  
Nhằm nâng cao thái độ, nhận thức của người dân về phòng chống rác thải nhựa nói chung và  
giảm sử dụng túi nylon nói riêng, cần tạo thói quen ngay từ bé đối với việc “nói không với sản  
phảm nhựa dùng một lần” là cấp thiết, các cơ quan ban ngành cần đẩy mạnh các chương trình  
truyền thông, giáo dục học đường với những nội dung như: Ảnh hưởng của rác thải nhựa đặc biệt  
là túi nylon dùng một lần đến sức khỏe con người; vấn đề về tốn kém tài chính và công nghệ tiên  
tiến trong quá trình xử lý chất thải nhựa. Ngoài ra, cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học  
sinh/sinh viên trực tiếp phân loại rác tại trường học, trong đó có phân loại rác thải nhựa; và tổ  
chức hoạt động kiểm đếm rác thải nhựa (chai nhựa, ống hút, túi nylon…) tại các trường học trên  
địa bàn.  
Bên cạnh đó, các cơ quan ban ngành cần có những chính sách nhằm thúc đẩy hành vi sử dụng  
các loại túi thay thế thân thiện môi trường; cần có chính sách khuyến khích, vinh danh các doanh  
nghiệp trong việc sản xuất các loại túi thân thiện môi trường, các đơn vị thu gom, tái chế chất thải  
nhựa; cần có các chính sách hỗ trợ về thuế, trợ giá… để giá thành của các sản phẩm thân thiện môi  
trường hợp lý hơn thì thói quen sẽ dần được loại bỏ, tiến tới sử dụng túi thân thiện môi trường.  
Bài viết này trình bày một nghiên cứu định lượng, công cụ nghiên cứu chỉ có bảng câu hỏi, và  
mẫu khảo sát còn nhỏ. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo có thể thực hiện ở diện rộng hơn về mặt  
thiết kế nghiên cứu, công cụ nghiên cứu và mẫu khảo sát để qua đó có thể đề xuất được nhiều  
giải pháp, hàm ý quản trị cho việc giảm thiểu phát sinh rác thải nhựa.  
281  
226(08): 274 - 282  
TNU Journal of Science and Technology  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] United Nations Environment Programme (UNEP), Single-Use plastic: A Roadmap for Sustainability, 2018.  
[2] Ministry of Natural Resources and Environment, "White pollution caused by plastic bags to the  
environment," July 5th, 2017. [Online]. Available: https://tuoitre.vn/o-nhiem-trang-do-tui-nilon-gay-ra-  
cho-moi-truong-1343554.htm. [Accessed July 5th, 2020].  
[3] T. Khuong, "Warning "White pollution," New catastrophe of the environment, June 4th, 2018.  
moi-cua-moi-truong-1254218.html. [Accessed September 25th, 2020].  
[4] J. Mustafa and A.-S. Nabil, "Survey on the usage of plastic bags, their disposal and impacts on the  
environment: A case study in the Capital Secretariat, Sana'a, Yemen," International Journal of  
Scientific & Engineering Research, vol. 10, no. 4, pp. 291-309, 2019.  
[5] L. A. A. D. Muleta, "Survey on the usage of plastic bags, their disposal and adverse impacts on  
environment: A case study in Jimma City, Southwestern Ethiopia," Journal of Toxicology and  
Environmental Health Sciences vol. 3, no. 8, pp. 234-248, 2011.  
[6] S. Ohtomo and S. Ohnuma, "Psychological interventional approach for reduce resource consumption :  
Reducing plastic bag usage at supermarket," Journal of Resources, Conservation and Recycling, vol.  
84, no. 1, pp. 57-65, 2014.  
[7] R. Hohmann, C. Wattana, P. Sracheam, S. Siriapornsakul, V. Ruckthum, and R. Clapp, "An  
Exploration of the Factors Concerned with Reducing the Use of Plastic Carrier Bags in Bangkok,  
Thailand," MBA, Assumption University of Thailand, 2014.  
[8] Y. Sun, S. Wang, J. Li, D. Zhao, and J. Fan, "Understanding consumers’ intention to use plastic bags:  
using an extended theory of planned behaviour model," Journal of Springer Science vol. 89, no. 12,  
pp. 1327-1342, 2017.  
[9] T. H. H. Bui, T. M. Hoang, T. H. Nguyen, and T. T. Q. Hoang, Replace social habits in using plastic  
bags with cloth bags (Case study in Quarter 7, Ward 15, Go Vap District, Ho Chi Minh City. Working  
paper, University of Social Sciences & Humanities, 2013.  
[10]Q. N. Nguyen, T. D. H. Le, and N. H. Khuu, "Awareness of the behavior of using plastic bags of  
people in Ninh Kieu district, Can Tho city (in Vietnamese)," Journal of science Can Tho University,  
vol. 52, no. 3, pp. 20-25, 2015.  
[11]J. J. F. Hair, W. C. Black, B. J. Babin, and R. E. Anderson, Multivariate Data Analysis, 7th ed.:  
Pearson Education Limited, 2014.  
[12] T. Hoang and N. M. N. Chu, Analyze research data with SPSS, Statistical publisher (in Vietnamese), 2005.  
[13]T. Khuong, "Minister Tran Hong Ha inspects the "black spot" of garbage in Da Lat," September 11th,  
den-rac-thai-tai-da-lat-310505.html. [Accessed October 4th, 2020].  
282  
                         
pdf 9 trang yennguyen 9400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố tác động đến ý định giảm sử dụng túi nylon của người dân tại thành phố Đà Lạt, Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_tac_dong_den_y_dinh_giam_su_dung_tui_nylon_cua_ng.pdf