Phân tích tiềm năng và rào cản trong phát triển công nghệ khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi lợn tại Việt Nam

PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG VÀ RÀO CẢN TRONG PHÁT TRIỂN  
CÔNG NGHỆ KHÍ SINH HỌC XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI LỢN  
TẠI VIỆT NAM  
Lê ị oa 1  
Đỗ u Nga 2*  
Đinh Đức Trường 3  
TÓM TẮT  
Chăn nuôi là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và là ngành có mức phát thải khí nhà kính (KNK)  
lớn thứ hai trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam. Phát triển mô hình khí sinh học (KSH), đặc biệt ở quy  
mô vừa và nhỏ là một giải pháp cho các vấn đề môi trường trong bối cảnh nguồn nhiên liệu đang ngày một  
cạn kiệt và biến đổi khí hậu diễn ra mạnh mẽ. Nghiên cứu này phân tích tiềm năng phát triển công nghệ KSH  
từ chất thải chăn nuôi lợn và đánh giá rào cản trong phát triển công nghệ này ở Việt Nam, từ đó đề xuất các  
giải pháp nhằm khuyến khích phát triển công nghệ KSH.  
Từ khóa: Chất thải chăn nuôi, KSH, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường.  
Nhận bài: 12/3/2021; Sử chh̉: 2 /3/2021; ;uDêt đăng: 2:/3/2021.  
1. Mở đầu  
năng lượng sạch, cải thiện chất lượng môi trường và  
giảm phát thải KNK được đề xuất như một mô hình  
phát triển có tiềm năng và cần được khuyến khích [5].  
Công nghệ KSH ở Việt Nam đã được nghiên cứu và  
phát triển từ những năm 1960, tuy nhiên mãi đến năm  
2003, khi Dự án Chương trình KSH cho ngành chăn  
nuôi do Chính phủ Hà Lan hỗ trợ đi vào triển khai thì  
lúc đó nhiều người mới biết đến và phát triển rộng rãi  
như ngày nay [3].  
Nghiên cứu này phân tích tiềm năng phát triển công  
nghệ KSH ở Việt Nam trong xử lý chất thải chăn nuôi  
lợn của các trang trại chăn nuôi vừa và nhỏ, cũng như  
đánh giá các rào cản trong phát triển công nghệ này,  
bao gồm những nguyên nhân từ phía hộ chăn nuôi và  
các tác nhân bên ngoài như cơ chế, chính sách khuyến  
khích của Chính phủ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm  
khuyến khích phát triển công nghệ KSH ở Việt Nam.  
Trong những năm qua, tại Việt Nam, ngành chăn  
nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng có những  
bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng.  
Lĩnh vực chăn nuôi đã tạo sinh kế cho 6,0-6,5 triệu  
hộ trong 8,6 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, góp phần  
thay đổi bộ mặt của khu vực nông thôn [1]. Số lượng  
đầu lợn không ngừng tăng mạnh qua các năm. Sự phát  
triển đàn lợn và số lượng các trang trại quy mô vừa và  
nhỏ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhưng đồng  
thời cũng đem lại những tác động xấu đến môi trường,  
ảnh hưởng tới nguồn nước, không khí, đất và sản phẩm  
vật nuôi [2]. Chất thải chăn nuôi lợn không được xử lý  
sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí, tạo ra các  
KNK như CO2, CH4 là nguyên nhân gây biến đổi khí  
hậu.  
Để hạn chế vấn đề ô nhiễm và phát thải KNK do  
chất thải chăn nuôi gây ra, Chính phủ Việt Nam, Bộ  
NN&PTNT đã xây dựng, ban hành một số chính sách  
nhằm khuyến khích phát triển chăn nuôi cũng như sử  
dụng các giải pháp thân thiện với môi trường trong xử  
lý chất thải chăn nuôi [3, 4]. Trong đó, áp dụng công  
2. Tiềm năng phát triển năng lượng KSH ở  
Việt Nam  
eo báo cáo của Bộ NN&PTNT, sau 10 năm thực  
hiện “Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi đến năm  
nghệ KSH xử lý chất thải chăn nuôi nhằm tạo nguồn 2020”, ngành chăn nuôi cơ bản đã đạt được sự tăng  
1 Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức, GIZ  
2 Đại học Điên lực  
3 Đại học Kinh tế quốc dân  
78 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
trưởng khá cao và ổn định với tốc độ tăng trưởng trung  
bình khoảng 5-6%/năm, trong đó giai đoạn 2011-2015  
đạt 4,5-5%, giai đoạn 2016-2018 đạt trung bình 6%/  
năm [4]. Điều này cho thấy sự tăng trưởng về quy mô  
đàn vật nuôi trong giai đoạn 10 năm vừa qua là rất lớn.  
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi  
trong giai đoạn 2011-2015 vẫn thấp hơn khá nhiều so  
với mục tiêu của Chiến lược đề ra là 6-7%, giai đoạn  
2016-2018 cơ bản đạt so với mục tiêu 5-6% (Hình 1).  
Trong đó:  
BEP: Tiềm năng KSH theo lý thuyết, tính bằng triệu  
MJ/năm  
N: Số lượng vật nuôi ở năm tính toán  
Vs: Tổng lượng chất rắn bay hơi (kg/ngày/con). Số  
liệu này được sử dụng giá trị mặc định được tham chiếu  
theo tài liệu của IPCC dành cho các nước châu Á [8].  
Bo: Tiềm năng sinh khí mê tan của kg chất khô (m3/kg).  
Số liệu này được sử dụng giá trị mặc định được tham chiếu  
theo tài liệu của IPCC dành cho các nước châu Á [8].  
D: Số ngày trong năm (365 ngày)  
CV: Nhiệt lượng của KSH khi mê tan có tỷ lệ 60%  
(MJ/m3). eo Cundr và Haladova [9], tùy vào loại  
chất thải chăn nuôi, nhiệt lượng của KSH có tỷ lệ mê  
tan chiếm 60% là 20-25 MJ/m3. eo Radziad Wahid và  
cộng sự [10], tỷ lệ mê tan trong KSH càng cao thì nhiệt  
lượng của KSH càng cao. eo báo cáo nghiên cứu biện  
pháp thúc đẩy quá trình lên men và sinh khí mê tan  
trong công trình KSH do Dự án KSH cho ngành chăn  
nuôi Việt Nam thực hiện năm 2009, nồng độ CH4 đo  
được tại một số công trình KSH chăn nuôi lợn là 64-68%  
[11], do vậy giá trị nhiệt lượng của KSH được sử dụng  
trong tính toán này là 25 MJ/m3.  
▲Hình 1. Số lượng vật nuôi chính trong gỉi đoạn 2008-  
2018 [4]  
Với lượng gia súc, gia cầm ngày càng tăng thì vấn đề  
xử lý chất thải chăn nuôi cần được chú trọng. eo tính  
toán của Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, ngành chăn  
nuôi mỗi năm thải ra 73 triệu tấn chất thải rắn và 23-30  
triệu m3 nước thải, bao gồm cả nước tiểu của lợn, nước  
tắm lợn và nước rửa chuồng [2]. Trong số đó, khoảng  
50% chất thải rắn và 80% lượng nước thải thải trực tiếp  
ra môi trường mà không qua xử lý. Con số này được  
tính cho năm 2019 là 241,37 triệu tấn chất thải rắn và  
chỉ có 40% trong số này được xử lý, còn lại xả thẳng  
trực tiếp ra môi trường (Bảng 1) [1, 6].  
Từ công thức tính trên, sản lượng KSH tiềm năng  
của năm 2019 được tính toán và trình bày trong Bảng 1.  
Bảng 1 cho thấy, tổng tiềm năng KSH lý thuyết là hơn  
1 triệu m3 khí. Trong khi đó, 1m3 KSH có thể sản sinh  
ra 2,14 kwh, như vậy, 1 triệu m3 KSH có thể sản sinh ra  
225,5 GWh, đóng góp gần 10% trong tổng nhu cầu sản  
lượng điện của cả nước năm 2020 [12]. Tuy nhiên, trên  
thực tế, số lượng các hộ dân áp dụng công nghệ này để  
xử lý chất thải chăn nuôi còn rất khiêm tốn. eo báo  
cáo của Bộ NN&PTNT, tính đến năm 2018, 53% số hộ  
chăn nuôi trong tổng số khoảng 8,2 triệu hộ chăn nuôi  
áp dụng một trong các biện pháp xử lý chất thải và vẫn  
còn 47,0% số hộ chăn nuôi chưa áp dụng bất kỳ biện  
pháp xử lý chất thải [4,12]. Số liệu này thể hiện những  
rào cản vẫn còn tồn tại trong việc thúc đẩy phát triển  
công nghệ KSH ở Việt Nam.  
Việc sử dụng công trình KSH để xử lý chất thải  
chăn nuôi nhằm giảm thiểu các vấn đề về ô nhiễm môi  
trường cũng như sản xuất ra nguồn năng lượng sạch,  
trong bối cảnh nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng  
cạn kiệt. eo Shane và cộng sự [7], tiềm năng KSH từ  
chất thải chăn nuôi được tính toán theo công thức sau:  
BEP = (N x Vs x Bo x D x CV) x 10-6  
Bảng 1. Số lượng vật nuôi chính và lượng chất thải của vật nuôi và sản lượng KSH tiềm năng năm 2019  
Vật nuôi  
Số lượng  
Lượng phân  
thải  
Tổng lượng  
chất thải rắn  
Tỷ lệ chất rắn Tiềm năng khí  
Sản lượng  
KSH  
dễ bay hơi  
mê tan  
N
kg/ngày/con  
triệu/tấn/năm  
V
Bo  
BEP  
1000 con  
kg/cons/ngày  
m3CH4/kg  
m3/năm  
Lợn  
Trâu  
Bò  
Gia cầm  
Tổng  
19.615,5  
2.387,9  
6.060,0  
481.079  
2,5  
15  
10  
49,0  
35,8  
60,6  
96,2  
0,3  
3,9  
2,8  
2,3  
0,29  
0,1  
0,13  
0,1  
15.572,3  
8.498,0  
20.128,3  
1.009.664,5  
1.053.863,1  
0,2  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 79  
3. Phân tích các rào cản phát triển KSH  
đến chi phí đầu tư tăng lên làm cho hiệu quả kinh tế sẽ  
giảm đi. Tuy nhiên, xây dựng hệ thống công trình KSH,  
chủ trang trại phải bỏ ra nhiều chi phí (hàng trăm triệu  
đồng) để xử lý chất thải chăn nuôi nhằm đáp ứng được  
QCVN 62-MT:2016/BTNMT của Bộ TN&MT. eo  
báo cáo chương trình quản lý chất thải chăn nuôi tổng  
hợp của Dự án Hỗ trợ nông nghiệp các bon thấp, chi  
phí xây dựng công trình KSH 20 m3 là 22 triệu đồng  
(chưa bao gồm hệ thống các bể sinh học, bể lắng...), tỷ  
suất lợi nhuận là -6,3% và sau 27,5 năm mới hoàn vốn  
[13]. Với hiệu quả kinh tế không hấp dẫn như thế này,  
nếu không có sự hỗ trợ nào của Nhà nước thì các trang  
trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ không mặn mà với  
việc xây dựng hệ thống công trình KSH để xử lý chất  
thải chăn nuôi.  
Sử dụng công nghệ KSH xử lý chất thải chăn nuôi  
đã mang đến lợi ích thiết thực cho người chăn nuôi  
như phát triển kinh tế, thay đổi môi trường, giải phóng  
sức lao động phụ nữ từ việc sử dụng năng lượng sạch  
để đun nấu. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng công  
nghệ này vẫn chưa được sử dụng phổ biến, bởi nhiều  
yếu tố tác động khác nhau [12].  
Cùng với vấn đề xuất phát điểm của ngành chăn  
nuôi nước ta thấp hơn nhiều nước trong khu vực và  
những bất cập trong tổ chức triển khai các chính sách,  
chiến lược phát triển chăn nuôi thời gian qua mà việc  
khuyến khích phát triển công nghệ KSH còn gặp phải  
một số tồn tại, hạn chế, dẫn đến phát triển thiếu bền  
vững, tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Hạn chế xuất phát  
từ chính các hộ chăn nuôi, nhưng cũng có những  
nguyên nhân tác động từ bên ngoài (từ cơ chế, chính  
sách của Chính phủ...) ảnh hưởng tới việc áp dụng  
công nghệ KSH.  
3.2. Rào cản đến từ cơ chế, chính sách hỗ trợ  
Chính sách chử đầD đủ, đồng bộ và hoàn thiên:  
Đến thời điểm hiện tại, chưa có một văn bản pháp luật  
hay chính sách nào quy định riêng chuyên biệt về việc  
khuyến khích phát triển công nghệ KSH để xử lý chất  
thải chăn nuôi. Đây là một công nghệ xử lý chất thải  
nhằm đem lại lợi ích về môi trường, nên có chính sách  
cụ thể khuyến khích người chăn nuôi thực hiện giải  
pháp này.  
Triển kh̉i chính sách trên thực tế còn chậm và chử  
đồng bộ: Mặc dù đã có chính sách hỗ trợ là 5 triệu đồng  
mỗi hộ của Nhà nước theo Quyết định số 50/2014/QĐ-  
TTg của ủ tướng Chính phủ, tuy nhiên mức hỗ trợ  
này tùy thuộc vào tình hình tài chính của từng tỉnh, do  
vậy không phải tỉnh nào cũng thu xếp được nguồn vốn  
để hỗ trợ người chăn nuôi. Hầu hết các tỉnh chỉ thu xếp  
được nguồn ngân sách hỗ trợ 1-2 triệu đồng/hộ, mức  
hỗ trợ này quá nhỏ (tương đương với khoảng 10% so  
với chi phí đầu tư xây dựng bể KSH) nên chưa khuyến  
khích được người dân áp dụng công nghệ này.  
3.1. Rào cản đến từ những khó khăn nội tại của  
hộ chăn nuôi  
Quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ: ời gian qua, chăn nuôi  
lợn quy mô nhỏ lẻ đã làm tốt vai trò duy trì, phát triển  
tổng đàn, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập  
cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn quy mô  
nhỏ lẻ đã gây ra những khó khăn nhất định cho người  
chăn nuôi vì khu chăn nuôi chủ yếu nằm trong khu dân  
cư, gây ô nhiễm môi trường do không có đủ diện tích  
để đầu tư áp dụng công nghệ xử lý môi trường. eo  
báo cáo của Bộ NN&PTNT, có đến 47% số hộ chăn  
nuôi quy mô vừa và nhỏ chưa áp dụng bất kỳ biện pháp  
xử lý môi trường nào [4,12].  
Nhận thức của hộ chăn nuôi còn chưa đầy đủ: Nhận  
thức và đạo đức môi trường, ý thức trách nhiệm BVMT  
của hộ chăn nuôi, cộng đồng nhiều nơi còn thấp, dẫn  
đến thiếu ý thức tự giác BVMT.  
Khó tiếp cận với các nguồn vốn v̉D ưu đãi: eo quy  
định tại Điều 9 Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9  
tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín  
dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn thì cơ  
chế đảm bảo vốn vay cho Ngân hàng thương mại: Các  
đối tượng khách hàng được vay không có tài sản bảo  
đảm phải nộp cho tổ chức tín dụng cho vay giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy xác nhận chưa được  
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tranh  
chấp do Ủy ban nhân dân xã xác nhận. Quy định này là  
một trong những cản trở lớn nhất đối với các chủ trang  
trại khi muốn tiếp cận với nguồn vốn tín dụng để phát  
triển mô hình KSH. Bên cạnh đó, việc tiếp cận nguồn  
vốn vay của Quỹ BVMT gần như là bế tắc bởi thủ tục  
vay vốn của Quỹ quá rườm rà, thời gian kéo dài dẫn  
đến mất thời gian của trang trại và việc thẩm định dự  
Chăn nuôi không ổn định và dịch bệnh thường  
xuyên xảy ra: Dịch bệnh và thiên tai diễn biến phức  
tạp, nhất là những dịch bệnh mới như tả lợn châu Phi,  
thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt  
đang tác động trực tiếp đến ngành chăn nuôi. Do đó,  
người chăn nuôi nhận thấy thu nhập, giá trị gia tăng từ  
chăn nuôi lợn không lớn, dẫn đến chăn nuôi không ổn  
định, họ không muốn đầu tư công nghệ xử lý chất thải  
chăn nuôi.  
Hiệu quả kinh tế chưa cao khi không có bất kỳ sự hỗ  
trợ nào: Áp dụng công nghệ KSH là một trong những  
giải pháp giúp xử lý môi trường chăn nuôi được tốt  
hơn. Khi sử dụng công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi  
tức là chủ trang trại phải bỏ thêm chi phí để xây dựng  
các hạng mục hệ thống công trình KSH như hố thu  
gom chất thải, công trình KSH, hồ sinh học, bể lắng...  
giúp làm giảm các tác động xấu đến môi trường, dẫn án rất khó khăn.  
80 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
4. Một số đề xuất giải pháp cho phát triển KSH  
ưu đãi về giá bán điện thì KSH được tạo ra do xử lý chất  
thải chăn nuôi vẫn chưa có cơ chế hỗ trợ. Vì vậy, việc  
xây dựng cơ chế hỗ trợ cho các hộ dân sử dụng KSH để  
phát điện là việc làm cần thiết để khuyến khích các hộ  
dân sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng sạch từ KSH.  
Từ việc phân tích các rào cản nêu trên, nghiên cứu  
này giải pháp được đề xuất như sau:  
Nâng c̉o nhận thức  
Đào tạo và nâng cao nhận thức cho chủ hộ chăn  
nuôi về phát triển và sử dụng công nghệ KSH xử lý  
chất thải chăn nuôi, đặc biệt chú trọng đào tạo các giải  
pháp nhằm nâng cao an toàn thực phẩm và BVMT cho  
người chăn nuôi thông qua các chương trình dạy nghề,  
hoạt động khuyến nông.  
Xây dựng các chương trình truyền thông chuyên  
sâu nhằm từng bước thay đổi nhận thức và thói quen  
không phù hợp trong chăn nuôi và sử dụng các giải  
pháp nhằm xử lý chất thải chăn nuôi một cách an toàn.  
Cải tiến công nghê và thiết bị sư dụng KSH  
Hỗ trợ nghiên cứu công nghệ xử lý chất thải chăn  
nuôi cho các quy mô khác nhau để đáp ứng nhu cầu sử  
dụng khí nhằm tránh tình trạng quá tải và đáp ứng các  
yêu cầu về môi trường.  
Khuyến khích các công ty tư vấn và chuyển giao  
công nghệ phát triển thị trường cung cấp công nghệ,  
dịch vụ liên quan đến việc xây dựng, bảo dưỡng và sửa  
chữa công trình cũng như các thiết bị sử dụng KSH.  
Chính sách hỗ trợ và tín dụng  
5. Kết luận  
Xây dựng các chính sách cụ thể và trực tiếp hỗ trợ để  
khuyến khích các hộ chăn nuôi sử dụng công nghệ KSH  
xử lý chất thải chăn nuôi thông qua các biện pháp hỗ  
trợ 30% chi phí đầu tư xây dựng công trình KSH trong  
thời gian đầu. Sau khi công trình KSH đi vào hoạt động  
hiệu quả, các chủ hộ chăn nuôi có thể tự xây dựng, lúc  
này Chỉnh phủ vẫn tiếp tục duy trì mức hỗ trợ chi phí  
đầu tư, tuy nhiên mức hỗ trợ này sẽ giảm dần.  
Tiếp tục duy trì, thực hiện có hiệu quả chính sách,  
ưu đãi thuế đối với hoạt động trong các lĩnh vực của  
ngành chăn nuôi nhằm tạo điều kiện phát triển chăn  
nuôi hiện đại, toàn diện, đồng bộ.  
Đơn giản thủ tục quy trình tín dụng. Các địa lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng  
phương, tổ chức tín dụng cần rà soát tiết giảm tối đa lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20% vào năm 2030; 25-30%  
thủ tục, giấy tờ; triển khai nhiều chương trình tín dụng  
mới phù hợp với đặc điểm, tình hình của các loại hình  
doanh nghiệp nông nghiệp và của từng địa phương.  
Nên có chính sách hỗ trợ lãi suất tiền vay cho các dự  
án đầu tư phát triển chăn nuôi lợn kết hợp thực hiện  
các giải pháp BVMT để đáp ứng yêu cầu của Nhà nước  
về xử lý chất thải chăn nuôi theo Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia QCVN 62-MT:2016/BTNMT, đồng thời mở  
rộng cho vay đối với hộ nông dân không phải thế chấp  
tài sản.  
Các vấn đề liên quan tới ô nhiễm môi trường không  
khí, nước ngầm, nước mặt, phát thải KNK vẫn đang  
là những vấn đề nổi cộm trong quản lý chất thải chăn  
nuôi hướng tới phát triển bền vững và thích ứng biến  
đổi khí hậu ở Việt Nam. Phát triển mô hình KSH, đặc  
biệt ở quy mô trang trại chăn nuôi vừa và nhỏ, là một  
giải pháp cho các vấn đề môi trường trong bối cảnh  
nguồn nhiên liệu đang ngày một cạn kiệt và biến đổi  
khí hậu gia tăng. Để đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng  
cao trong những thập kỷ tới, Việt Nam cần phải đa  
dạng hóa các nguồn cung cấp năng lượng mới trong đó  
có năng lượng KSH để đáp ứng các mục tiêu tăng “tỷ  
vào năm 2045” được nêu trong Định hướng Chiến lược  
phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm  
2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghiên cứu này phân  
tích tiềm năng phát triển công nghệ KSH xử lý chất  
thải chăn nuôi và đánh giá các rào cản trong phát triển  
công nghệ này ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp  
về truyền thông nâng cao nhận thức cho hộ chăn nuôi,  
xây dựng chính sách hỗ trợ, tín dụng và cải tiến công  
nghệ phù hợp điều kiện Việt Nam.  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi Chương  
trình Mạng lưới châu Á-ái Bình Dương cho nghiên  
cứu biến đổi toàn cầu (Asia-Pacific Network for Global  
Sớm ban hành cơ chế hỗ trợ bán điện KSH: Trong  
lúc các dự án năng lượng tái tạo khác như điện gió, điện  
mặt trời, điện sinh khối đã được hưởng các chính sách Change Research - APN) mã số CBA2018.FP05-Do■  
hướng phát triển chăn nuôi gỉi đoạn 2020-2030, tầm nhìn  
2040. Bộ NN&PTNT.  
5. Lê T.T. (2016): Đánh giá hiêu quả mô hình KSH xư lý  
chất thải chăn nuôi tại vùng đồng bằng sông Hồng, Tạp  
chí Nông nghiêp và Phát triển Nông thôn, ISSN 1859-4581,  
tháng 10/2016.  
6. Roubík H., M̉z̉ncová J., Phung L.;. ̉nd ;ung ;.V. (2017)  
Qủntific̉tion of biog̉s potentỉl from livestock w̉ste in  
Vietn̉m, AgronomD Resẻrch 15 (X), 540-552, 2017  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. TCTK (2019): Số liêu Tổng điều tr̉ nông thôn, nông nghiêp  
và thủD sản, Tổng cục ống kê.  
2. Cục Chăn nuôi (2014): Báo cáo công tác BVMT chăn nuôi  
- Nhhng khó khăn vướng mắc và giải pháp khắc phục.  
3. SNV (2006): Báo cáo đánh giá người sư dụng KSH. ;ự án  
KSH cho ngành chăn nuôi Viêt N̉m.  
4. Bộ NN&PTNT (2020): Báo cáo Kết quả thực hiên Chiến  
lược phát triển chăn nuôi gỉi đoạn 2008-2018 và định  
Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021 81  
7. Sh̉ne A., Gheew̉l̉ S.H. ̉nd K̉s̉li G. (2015) Potentỉl,  
B̉rriers ̉nd Prospects of Biog̉s Production in Z̉mbỉ.  
Journ̉l of Sust̉in̉ble EnergD & Environment 6, 21-27.  
8. IPCC (2006) Guidelines for N̉tion̉l Greenhouse G̉s  
Inventories - Ch̉pter 10: Emissions from Livestock ̉nd  
M̉nure M̉n̉gement, volume 4: Agriculture, ForestrD ̉nd  
Other L̉nd Use.  
9. Cundr O. ̉nd H̉l̉dová ;. (2014) Biog̉s Dield from  
̉n̉erobic b̉tch co-digestion of rice str̉w ̉nd zebu dung.  
Scientỉ Agricultur̉e Bohemic̉ 45(2), 98-103.  
during in-situ biologic̉l biog̉s upgr̉ding, BiotechnologD  
for Biofuels 12 (104).  
11. Báo cáo Nghiên cứu biên pháp thúc đẩD quá trình lên men  
và sinh khí mê t̉n trong công trình KSH (2009) ;ự án  
KSH cho ngành chăn nuôi Viêt N̉m.  
12. Lê T.T. (2014) Giảm phát thải KNK thông qủ viêc xư  
lý chất thải chăn nuôi. Hội thảo khỏ học quốc gỉ về  
Chiến lược Tăng trưởng x̉nh ở Viêt N̉m - Chương  
trình hành động và v̉i trò củ̉ các trường đại học và các  
viên nghiên cứu.  
10. R̉dzỉh W., ;̉niel G.M., John C.G. ̉nd Svein J.H. (2019) 13. Bản tin chuDên đề khỏ học NN&PTNT, Chương trình  
Effects of H2: CO r̉tio ̉nd H2 supplD fluctủtion on  
quản lý chất thải chăn nuôi tổng hợp củ̉ ;ự án hỗ trợ  
nông nghiêp các bon thấp, bản tin chuDên đề số 02-2019.  
meth̉ne content ̉2nd microbỉl communitD composition  
AN ANALYSIS OF POTENTIAL AND BARRIERS FOR APPLICATION  
OF BIOGAS IN PIG WASTE TREATMENT IN VIETNAM  
Le i oa  
;eutsche Gesellsch̉f ff Intern̉tion̉le Zus̉mmen̉rbeit (GIZ)  
Do u Nga  
Electric Power UniversitD  
Dinh Duc Truong  
N̉tion̉l Economics UniversitD  
ABSTRACT  
Livestock is the sector that accounts for a large proportion in the economy and is the second largest  
GHGs emission sector in the agricultural activities in Vietnam. Development of biogas model, particularly at  
medium and large scale, is a solution for the environmental issues in the context of depleted fuel sources and  
climate change. is study presents an analysis of the potential for biogas application on pig waste treatment  
in Vietnam. Barriers to this technology development are also assessed and feedback measures are proposed  
accordingly.  
Key words: Livestock w̉ste, biog̉s, clim̉te ch̉nge, environment̉l pollution.  
82 Chuyên đề I, tháng 3 năm 2021  
pdf 5 trang yennguyen 17660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích tiềm năng và rào cản trong phát triển công nghệ khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi lợn tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_tiem_nang_va_rao_can_trong_phat_trien_cong_nghe_kh.pdf