Bài giảng Môi trường và con người - Chương 3.2: Địa quyển

3.2 Địa quyển - Ô nhiễm và suy thoái đất  
Suy thoái đất: đã được đề cập bên trên (phần tác động của con người lên tài  
nguyên đất)  
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay  
đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã  
sống trong đất.  
Các biểu hiện đất suy thoái  
• Axít hoá  
Các hoạt động gây ảnh hưởng  
• Du canh du cư  
• Mặn hoá  
• Bón phân hóa học quá liều  
• Chăn thả quá mức  
• Phá rừng  
• Phèn hóa  
• Sa mạc hóa  
• Bạc màu  
• Thải bỏ CTR không đúng  
quy cách  
• Ô nhiễm  
3.2 Địa quyển -  
Ô nhiễm đất  
Hoạt động gây ô nhiễm đất  
+ Hoạt động nông nghiệp như tưới tiêu không hợp lý, dùng quá nhiều phân bón (urea,  
(NH4)2SO4, K2SO4, KCl, super photphat) hoặc hoàn toàn không dùng phân bón, dùng phân  
hóa học, phân Bắc, phân chuồng tươi, thuốc bảo vệ thực vật, … làm đất bị chua, mặn hoá thứ  
sinh, giảm hoạt tính sinh học, xói mòn, ô nhiễm hóa học và sinh học.  
+ Hoạt động công nghiệp như việc sử dụng đất làm bãi thải. Hiện nay nhiều nguồn nước  
thải ở các đô thị, KCN và các làng nghề tái chế kim loại, chứa các kim loại nặng độc hại ,  
cùng các hóa chất độc hại, dầu mỡ, … bị đổ thẳng ra môi trường mà không hề được xử lý. Bụi  
và khí thải sinh ra từ quá trình đốt nhiên liệu trong công nghiệp, bay trong không khí sau đó  
ngưng tụ và quay trở lại mặt đất gây ô nhiễm đất.  
Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm đất còn có thể kể đến:  
. sự cố tràn dầu có khả năng gây ô nhiễm nước, đất trầm trọng,  
. chất thải rắn, nhất là nước rỉ của các bãi rác chôn lấp ở ngoại thành.  
. Chất thải phóng xạ  
3.2 Địa quyển -  
Ô nhiễm đất  
Hiện trạng  
Ô nhiễm đất là 1 vấn nạn nghiêm trọng tại Trung Quốc:  
. Hiện nay có gần 2.000 vạn ha đất canh tác bị ô nhiễm kim loại nặng, chiếm gần  
20% tổng diện tích đất canh tác – ng.nhân là do tưới tiêu bằng nước ô nhiễm.  
. Sau mỗi đợt lũ lụt, đất ruộng và lưu vực sông ở các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam  
đều bị ô nhiễm nặng do kim loại nặng nồng độ cao từ các khu khai khoáng.  
3.2 Địa quyển -  
Ô nhiễm đất  
Các nguồn gây ô nhiễm KLN trong đất (tại Pháp, 1998):  
Hiện trạng  
Năm 1998  
8300 tấn  
68 tấn  
3200 tấn  
5300 tấn  
3.2 Địa quyển - Ô nhiễm đất  
Hiện trạng – Việt Nam  
Ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và  
thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp  
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất tại một số khu vực thuộc tỉnh Nam Định (6/2007)  
3.2 Địa quyển - Ô nhiễm đất  
Hiện trạng – Việt Nam  
Hàm lượng Cu, Zn, Pb của đất  
nông nghiệp bị ảnh hưởng nguồn  
ô nhiễm vùng ngoại thành và phụ  
cận Hà Nội  
Tỷ lệ số mẫu phân tích các  
năm 2006 – 2008 có hàm  
lượng đồng vượt QCVN  
03:2008 đối với đất nông  
nghiệp  
6
3.2 Địa quyển - Ô nhiễm đất  
Hiện trạng – Việt Nam  
Chất thải từ bãi chôn lấp gây ô nhiễm đất  
Hàm lượng một số kim  
loại nặng trong đất chịu  
ảnh hưởng nước thải công  
nghiệp & đô thị, khu vực  
Bình Chánh và Củ Chi  
7
3.2 Địa quyển –  
Ô nhiễm đất  
Hiện trạng – Việt Nam  
• Ô nhiễm đất cục bộ do  
các chất độc hóa học  
còn tồn lưu sau chiến  
tranh  
Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chịu  
tác động của hoạt động chôn lấp chất thải tại một  
số địa phương miền Bắc  
Khối lượng chất độc hóa học do  
quân đội Mỹ sử dụng  
8
3.2 Địa quyển –  
Ô nhiễm đất  
Dioxin – Việt Nam  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Tài nguyên biển  
Chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất  
Chứa đựng rất nhiều tài nguyên quý giá:  
• ~ 400 tỉ tấn dầu mỏ và khí đốt  
• Trữ lượng sắt, magan, vàng, kim cương, các kim loại cao hơn đất liền ~  
900 lần  
• Sóng biển thuỷ triều ... là nguồn năng lương vô tận  
Cung cấp nguồn dinh dưỡng, thực phẩm dồi dào cho con người (rong, cá…)  
Chi phối, điều hòa thời tiết khí hậu trên hành tinh.  
Việt nam  
• Với 3260 km đường bờ biển, Việt nam có khoảng 1 tr km2 biển.  
• Sản lượng đánh bắt hải sản năm 1995 là 1,5 triệu tấn  
• Lượng dầu đã x/định được ở biển Đông (khoảng 3,5 tr km2) 1,2 tỉ km3, ~ 7500 tỉ  
km3 khí.  
• Sản lượng dầu trên biển Việt nam: ~ 2,4 tỉ thùng (2005) (hạng 30/thế giới).  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hoạt động gây ảnh hưởng  
Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển:  
- Các hoạt động trên đất liền: chất thải (nước thải và chất thải rắn) do hoạt động  
sinh hoạt và sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ…) của con người  
theo các dòng chảy sông suối ra biển. Ước tính khoảng 80% nguồn ô nhiễm ở các  
biển và đại dương đến từ các hoạt động trên đất liền.  
Ví dụ: khu công nghiệp Vân Phong (Khánh Hòa), Hòn Na (Quảng Bình), Cà  
Mau (Cà Mau) hình thành và đi vào hoạt động trong năm 2004 đã và đang gây  
sức ép lớn cho môi trường biển ven bờ của các tỉnh thành đó.  
Hàng năm có tới 10% trong số 260 triệu tấn chất dẻo sản xuất ra trôi nổi trên các đại  
dương sau khi đã qua sử dụng, phần lớn số này tập trung ở những vùng xoáy rác  
như vùng rác Đông Thái Bình Dương.  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hoạt động gây ảnh hưởng  
- Do hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên (dầu khí, thủy sản…) trên thềm  
lục địa và đáy đại dương.  
Ví dụ: Năm 2000, nước ta có 9766 tàu đánh bắt xa bờ với tổng công suất gần 1,4  
triệu mã lực. Sang đến năm 2004, số tàu lên tới 20.071 chiếc với công suất hơn 2,64  
triệu mã lực.  
Dàn khoan dầu khí và rất nhiều  
hệ lụy tiềm tàng kèm theo  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hoạt động gây ảnh hưởng  
- Thải các chất độc hại ra biển một cách có hoặc không có ý thức: trong nhiều năm, biển  
sâu là nơi đổ các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ, đạn dược, bom mìn…của nhiều  
quốc gia trên thế giới.  
Ví dụ: Từ năm 1946 và 1970, ước tính đã có khoảng 47.800 thùng chứa chất thải hạt  
nhân đã đổ ra bờ biển của đảo Farallon (San Francisco, USA)  
Các vị trí thải bỏ chất  
thải hạt nhân trong  
lòng đại dương  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hoạt động gây ảnh hưởng  
- Hoạt động giao thông vận tải biển: rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển  
thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển. Bên cạnh đó, các tàu thuyền thường xuyên  
thải dầu cặn trực tiếp xuống biển.  
Ví dụ: Các tàu chở dầu chuyên chở 60% (xấp xỉ 2 tỷ tấn) dầu tiêu thụ trên thế giới.  
Trong thập niên vừa qua, trung bình mỗi năm có 600.000 thùng dầu đã bị đổ ra biển do  
các tai nạn tràn dầu từ các tàu biển, tương đương 12 lần so với mức thảm hoạ tràn dầu từ  
tàu dầu Prestige năm 2002.  
- Ô nhiễm không khí: Nồng độ CO2 cao trong không khí sẽ làm lượng CO2 hòa tan trong  
nước biển tăng, đồng nghĩa với việc tăng tính acid của nước biển. Nhiều chất độc hại và bụi  
kim loại nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ không khí do hiệu ứng nhà  
kính sẽ gây tan băng ở 2 cực, làm dâng cao mực nước biển, thay đổi môi trường sinh thái  
biển.  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hiện trạng  
Các khoa học thời gian gần đây, nhận thấy những hiện tượng thể hiện rằng các đại dương  
trên thế giới ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng, thậm chí trong một số trường hợp, môi  
trường sống nơi biển cả suy thoái tới mức các thủy sinh vật chết dần mòn, chẳng hạn có nơi,  
các loài cá tôm và san hô bị nhiễm rất nhiều thứ bệnh hoặc nơi nhiều giống san hô như ở  
biển Caribbe bỗng biến mất.  
Vấn đề rác plastic trên đại dương đang được quan tâm bởi các nhà khoa học trong những  
năm gần đây. Năm 1997, Charles Moore đã phát hiện sự tồn tại của một vùng biển rộng lớn  
tập trung toàn rác thải plastic và gọi chúng là “Thùng rác lớn Đông Thái Bình Dương”. Mới  
đây, Hiệp hội Giáo dục Biển (SEA) - Mỹ, đã chứng tỏ sự tồn tại của một “thùng rác khổng  
lồ” tương tự ở Bắc Đại Tây Dương. Một bản đồ rác trên biển đã được lập ra, trong đó chỉ ra  
rằng khu vực tập trung nhiều rác nhất ở Bắc bán cầu, kéo dài từ vĩ tuyến 22 đến 38.  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hiện trạng  
Diện tích của bãi rác ở phía bắc Thái Bình Dương có thể to hơn cả Mỹ, nó dao động từ 700  
nghìn tới 15 triệu km2 và có thể chứa tới hơn 100 triệu tấn rác.  
Chưa thể đánh giá chính xác mức độ nguy hiểm của hàng trăm triệu tấn nhựa phế thải trên  
các đại dương, bởi nhựa mới chỉ được sử dụng rộng rãi trong khoảng 50 năm. Nhưng trước  
mắt, theo các nhà khoa học, hơn một triệu chim biển và 100.000 động vật có vú cũng như rùa  
biển trên toàn thế giới chết mỗi năm do bị vướng hoặc ăn phải những mảnh chất dẻo.  
Minh họa các hướng đi của rác nhựa (màu vàng)  
sau khi bị cuốn trôi khỏi đất liền và ra đại dương.  
Vị trí 5 đảo rác trôi nổi trên các đại dương  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hiện trạng  
Đã có khoảng 150 "vùng chết" ven bờ - với diện tích dao động từ 1 tới  
70.000km2/vùng do sự bùng nổ tảo độc từ hiện tượng phú dưỡng trong môi trường  
biển (do ni-tơ từ phân bón nông nghiệp theo các dòng sông đổ ra biển, tích luỹ với  
nồng độ lớn sẽ tạo nên hiện tượng khử ô-xy trong nước biển).  
Các dải san hô nhiệt đới, bao bọc đáy bờ của 109 quốc gia, phần lớn đã kém phát  
triển. Sự suy thoái rõ rệt của các rạn san hô xuất hiện ở 93 quốc gia. Năm 1998,  
75% dải san hô trên thế giới bị ảnh hưởng bởi hiện tượng tẩy trắng san hô (có 16%  
san hô bị chết).  
Gần 60% các dải san hô còn sót lại trên thế giới đang đối mặt với nguy cơ biến  
mất trong 30 năm tới do sự phát triển ven bờ của con người, do trầm tích, do các  
hoạt động đánh bắt cá mang tính huỷ diệt và hoạt động du lịch, do ô nhiễm, và do cả  
sự ấm hoá toàn cầu  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hiện trạng  
Đại dương hấp thụ:  
Năm 1980s  
2.0±0.6 Pg CO2/năm  
Năm 1990s  
2.4±0.5 Pg CO2/năm  
(1 petagram [Pg] =10 15gram)  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hiện trạng  
Nam đại dương:  
Lạnh hơn ~ 0,1oC  
Độ mặn giảm 0,015 ppt  
Những thay đổi này lớn gấp 50  
lần so với các vùng biển xung  
quanh.  
Các vùng biển xích đạo:  
Mặn hơn 1 cách đáng kể so với  
40 năm qua.  
Source: Department of the Environment and Heritage 2005, Southern  
Ocean studies reveal widespread changes, viewed 11 Jul 2006,  
3.3 Thủy quyển - 3.3.1 Biển và đại dương  
Hiện trạng  
Màu xanh của các đại dương trên thế giới đã nhạt đi hơn 40% kể từ năm 1950. Tốc  
độ nhạt màu đang diễn ra ngày càng nhanh hơn do biến đổi khí hậu. Nguyên nhân việc  
màu xanh của nước biển nhạt đi do hầu hết sinh vật phù du thường sống trên bề mặt các  
đại dương, thực phẩm nuôi sống của các loài sinh vật biển, đã giảm mạnh do sự nóng  
lên của lớp nước bề mặt các đại dương.  
Biến đổi khí hậu làm tăng nhiệt độ của các đại dương lên 0,2°C trong thập kỷ qua đã  
đẩy nhanh sự phân tầng nước với quy mô rộng hơn trên các đại dương. Tiến trình này  
đã làm mất dần môi trường sống của các sinh vật phù du ở độ sâu 100-200m dưới mặt  
nước.  
Hai hiểm họa nữa làm suy kiệt nguồn phù du sinh vật là sự xuất hiện ngày càng  
nhiều, diện tích ngày càng lớn các khu vực chết với lượng oxy hòa tan quá thấp, không  
thích hợp với sự sống trên các đại dương và tình trạng các đại dương ngày càng bị acid  
hóa do mỗi ngày phải hấp thụ tới 30 triệu tấn khí thải CO2.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 93 trang yennguyen 20440 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Môi trường và con người - Chương 3.2: Địa quyển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_moi_truong_va_con_nguoi_chuong_3_2_dia_quyen.pdf