Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với bảo vệ và quản lý rừng bền vững ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
PAYMENTS FOR FOREST ENVIRONMENTAL SERVICES WITH THE  
SUSTAINABLE MANAGEMENT AND PROTECTION OF FORESTS  
IN MUONG TE DISTRICT, LAI CHAU PROVINCE  
Nguyen Xuan Truong1*, Nong Thi Thuy1, Tran Van Hung2  
1Thai Nguyen University  
2Department of Natural Resources and Environment of Lai Chau Province  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Muong Te district, Lai Chau province is the watershed area of the Da  
River, which has great potential for hydropower (e.g. Lai Chau, Son La  
and Hoa Binh hydropower companies) and provides water for the  
Northern Delta and clean water for Hanoi. The article summarizes the  
implementation results of the payment policy for forest environmental  
services and their impacts on forest protection and development in  
Muong Te district, Lai Chau province. Based on secondary sources,  
expert and field surveys, the article generalizes the outstanding results  
of the implementation of payment policy for forest environmental  
services in Muong Te district from 2012 to 2018. The research results  
showed that the payment policy for forest environmental services  
contributed to the effective management and protection of 173,594 ha  
of forests in the district, made the district have the highest forest cover  
rate in Lai Chau province with nearly 65% in 2018, contributing to  
poverty reduction, livelihood improvement and promoting socialization  
of forest protection and development.  
Received:  
Revised:  
17/3/2021  
20/4/2021  
28/4/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Payment  
Forest environmental services  
Management and protection of  
forests  
Muong Te  
Lai Chau  
CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG GẮN VỚI BẢO VỆ  
VÀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU  
Nguyễn Xuân Trường1*, Nông Thị Thúy1, Trần Văn Hùng2  
1Đại học Thái Nguyên, 2Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 17/3/2021  
Ngày hoàn thiện: 20/4/2021  
Ngày đăng: 28/4/2021  
TÓM TẮT  
Huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu là khu vực đầu nguồn của sông Đà có  
tiềm năng lớn về thuỷ điện (thủy điện Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình)  
và cung cấp nước cho vùng đồng bằng Bắc Bộ, nước sạch cho Thủ đô  
Hà Nội. Bài báo trình bày tóm tắt kết quả thực hiện chính sách chi trả  
dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu  
và tác động đến việc bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở các nguồn tài  
liệu thứ cấp, khảo sát ý kiến chuyên gia và điều tra thực tế, bài báo đã  
phân tích các kết quả nổi bật của việc thực thi chính sách chi trả dịch vụ  
môi trường rừng trên địa bàn huyện Mường Tè từ năm 2012 - 2018. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã  
góp phần quản lý và bảo vệ hiệu quả trên 173.594 ha rừng trên địa bàn  
huyện, tỷ lệ che phủ rừng cao nhất tỉnh Lai Châu và đạt gần 65,0%  
(năm 2018), góp phần giảm nghèo, cải thiện sinh kế và thúc đẩy xã hội  
hóa bảo vệ và phát triển rừng.  
TỪ KHÓA  
Chi trả  
Dịch vụ môi trường rừng  
Quản lý và bảo vệ rừng  
Mường Tè  
Lai Châu  
* Corresponding author. Email: [email protected]m  
78  
226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là một chính sách quan trọng được áp dụng từ  
năm 2011 tại nước ta. Thông qua thực hiện cơ chế tài chính những đối tượng được hưởng lợi từ  
rừng có trách nhiệm đóng góp nhằm bảo vệ phát triển rừng. Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành  
Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, có ba loại dịch vụ  
môi trường rừng đã thực hiện chi trả từ năm 2011 đến nay gồm: (i) Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế  
sói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; (ii) Dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho  
sản xuất và đời sống xã hội; (iii) Dịch vụ bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học  
của các hệ sinh thái rừng phục vụ du lịch [1].  
Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách chi trả DVMTR gắn với bảo vệ  
rừng và quản lý rừng bền vững như: Công trình nghiên cứu có tính tổng quan về chi trả DVMTR ở  
Việt Nam, trong đó nghiên cứu trên ba khía cạnh của chính sách chi trả DVMTR gồm: xây dựng  
các cơ sở pháp lý, cơ chế chia sẻ lợi ích, giám sát và đánh giá [2]; phân tích hiệu quả của chính sách  
chi trả DVMTR tại Vườn quốc gia Tà Đùng, tỉnh Đắk Nông [3]; nghiên cứu tác động của chi trả  
DVMTR ở tỉnh Sơn La [4]; nghiên cứu đánh giá tác động của chương trình chi trả DVMTR đến  
hoạt động và ý thức bảo vệ rừng của người dân tại vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn [5]; nghiên  
cứu tiềm năng thực hiện chi trả DVMTR khu vực ven biển tỉnh Thanh Hóa [6]. Tuy nhiên chưa có  
nghiên cứu nào được thực hiện ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu liên quan đến chính sách chi trả  
DVMTR gắn với bảo vệ và quản lý rừng bền vững ở huyện miền núi đầu nguồn sông Đà của nước ta.  
Mường Tè là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu có 06 xã biên giới giáp tỉnh Vân  
Nam, Trung Quốc với 130,292 km đường biên. Chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện  
những năm qua đã góp phần quản lý và bảo vệ hiệu quả trên 173.594 ha rừng trên địa bàn huyện,  
tỷ lệ che phủ rừng cao nhất tỉnh Lai Châu và đạt gần 65,0% (năm 2018), góp phần giảm nghèo,  
cải thiện sinh kế và thúc đẩy xã hội hóa bảo vệ và phát triển rừng. Với tổng diện tích tự nhiên của  
huyện Mường T  là 267.934,16 ha, chiếm 29,6% diện tích của tỉnh Lai Châu, huyện có vị trí đặc  
biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia, là khu vực đầu  
nguồn của sông Đà có giá trị lớn về thuỷ điện (điều tiết nguồn nước cho thủy điện Lai Châu, Sơn  
La và Hòa Bình) và cung cấp nước cho vùng đồng bằng Bắc Bộ, nước sạch cho Thủ đô Hà Nội.  
Vì vậy, việc nghiên cứu chi trả DVMTR gắn với bảo vệ và quản lý rừng bền vững ở huyện  
Mường Tè, tỉnh Lai Châu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn cho các cấp chính quyền  
địa phương thực hiện hiệu quả chính sách này trong những năm tiếp theo [7].  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Bài báo nghiên cứu công tác thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với bảo  
vệ và quản lý rừng bền vững ở huyện Mường T , tỉnh Lai Châu.  
2.2. Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu  
- Dữ liệu được sử dụng trong bài báo được thu thập, tổng hợp và xử lý từ nguồn tài liệu thứ  
cấp của các cơ quan, sở ban ngành có liên quan của huyện Mường T , tỉnh Lai Châu và Ban quản  
lý rừng phòng hộ huyện Mường T ; từ các công trình nghiên cứu của một số tác giả về vấn đề  
được đề cập trong bài báo; thông tin thu thập từ khảo sát thực tế địa bàn nghiên cứu. Nguồn  
thông tin thu thập được làm cơ sở để phân tích, đánh giá đối tượng nghiên cứu.  
- Tác giả sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích;  
phương pháp thống kê; phương pháp quan sát thực địa, phương pháp chuyên gia. Trên cơ sở  
những tài liệu thu thập có liên quan đến chi trả DVMTR ở huyện Mường T , tỉnh Lai Châu, đưa  
ra những phân tích đánh giá khách quan, khoa học về vấn đề quản lý và bảo vệ và phát triển rừng  
bền vững trên địa bàn huyện và ý nghĩa của chính sách chi trả DVMTR trong giảm ngh o, cải thiện  
sinh kế và thúc đẩy xã hội hóa bảo vệ và phát triển rừng.  
79  
226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Tình hình biến động tài nguyên rừng trên địa bàn huyện Mường Tè  
Công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Mường T  luôn được các cấp chính  
quyền địa phương chú trọng. Với đa số diện tích rừng đầu nguồn, việc bảo vệ và phát triển rừng  
của Mường T  có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và giữ nguồn nước cho sinh hoạt, sản  
xuất nông lâm nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, điều tiết nguồn nước cho các công trình thuỷ  
điện trọng điểm của quốc gia như: Thuỷ điện Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình và điều tiết nước cho  
sản xuất của đồng bằng Sông Hồng.  
Huyện Mường T  có tổng diện tích rừng khá lớn và có xu hướng tăng trong giai đoạn 2012 -  
2018. Năm 2015, diện tích rừng (gồm cả cây cao su) là khoảng 164.837 ha, bảo vệ rừng trên  
200.000 lượt ha, khoanh nuôi tái sinh 65.760,2 lượt ha. Diện tích rừng tăng nhanh từ năm 2011  
đến nay, từ 141.032 ha (năm 2011) lên 162.806 ha (năm 2015) và 170.036 ha (năm 2018), độ che  
phủ rừng tăng từ 52,8% năm 2011 lên gần 65,0% năm 2018 và là huyện có độ che phủ rừng cao  
nhất tỉnh. Trong cơ cấu diện tích rừng thì rừng đặc dụng giữ ổn định diện tích ở mức 21.000 -  
22.000 ha/năm; diện tích rừng phòng hộ tăng nhanh từ 60.190 ha năm 2011 lên 65.77 ha năm  
2015 và 78.873 ha năm 2018. Diện tích rừng sản xuất cũng tăng mạnh. Diện tích rừng phân bố ở  
tất cả 14 xã, thị trấn trong huyện, nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng trên địa bàn huyện đã  
góp phần đem lại thu nhập khá cho người dân, góp phần bảo vệ môi trường rừng, giữ nước đầu  
nguồn, cải thiện cảnh quan thiên nhiên. Diện tích rừng trồng mới cũng tăng nhanh, trong 3 năm  
2016 - 2018 trồng mới được 598,3 ha (năm 2016: 108 ha, năm 2017: 307,3 ha, năm 2018: 183  
ha). Số liệu thống kê biến động tài nguyên rừng và tỷ lệ che phủ rừng huyện Mường T  giai đoạn  
2012 - 2018 được trình này ở bảng 1 [7].  
Bảng 1. Biến động tài nguyên rừng và tỷ lệ che phủ rừng huyện Mường Tè giai đoạn 2012 - 2018  
(Đơn vị: ha)  
Năm  
Năm  
2012  
Năm  
2013  
Năm  
2014  
Năm Năm  
2015 2016  
Năm  
2017  
Năm  
2018  
STT  
Chỉ tiêu  
1
Tổng diện tích rừng (tính cả cây cao su) 162.687 162.806 149.425 164.837 166.120 170.316 173.594  
1.1 Rừng đặc dụng  
1.2 Rừng phòng hộ  
1.3 Rừng sản xuất  
22.322 22.322 22.322 22.322 21.198 21.247 21.504  
66.774 65.777 52.359 67.939 74.291 77.174 78.873  
73.591 74.745 74.745 74.576 63.198 64.462 72.932  
7.433 7.433  
1.4 Rừng ngoài quy hoạch  
2
Tỷ lệ che phủ rừng (%)  
60,68 60,76 60,78 61,50 62,00 63,57 64,79  
(Nguồn: UBND huyện Mường Tè, 2019 [7])  
3.2. Kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở huyện Mường Tè  
3.2.1. Nguồn thu Quỹ bảo vệ và phát triển rừng  
Tổng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) của tỉnh Lai Châu đến từ hai đối tượng  
chính: cơ sở thủy điện và cung cấp nước sạch, trong đó phần lớn nguồn thu từ các cơ sở thủy điện.  
Trong 5 năm (2014 - 2018), Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lai Châu đã thu được 1.587,2 tỷ  
đồng (năm 2014 thu 243,41 tỷ đồng; năm 2015 thu 211,97 tỷ đồng; năm 2016 thu 271,31 tỷ đồng;  
năm 2017 thu 342,86 tỷ đồng và năm 2018 là 517,38 tỷ đồng). Theo tài liệu của Ủy ban nhân dân  
(UBND) tỉnh Lai Châu, nguồn thu từ DVMTR năm 2018 là 517,38 tỷ đồng, trong đó từ Quỹ Bảo  
vệ và Phát triển rừng Việt Nam là 452,14 tỷ đồng với 4 nhà máy thủy điện và 01 nhà máy nước  
(thủy điện Hòa Bình là 132,81 tỷ đồng, thủy điện Sơn La với 178,65 tỷ đồng, thủy điện Lai Châu là  
97,95 tỷ đồng, thủy điện Huội Quảng là 41,24 tỷ đồng, Công ty Cổ phần nước sạch Vinaconex là  
1,48 tỷ đồng). Nguồn thu từ Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lai Châu (nguồn thu nội tỉnh) là  
65,24 tỷ đồng từ 12 nhà máy thủy điện nhỏ và 01 công ty nước sạch Lai Châu [8], [9].  
80  
226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
Nguồn thu từ DVMTR được đưa về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lai Châu và được cấp  
điều phối chi đến các huyện, các chủ rừng theo tiêu chí quy định và quyết toán thực. Ban Quản lý  
rừng phòng hộ các huyện, UBND huyện và xã sẽ là đơn vị quản lý và chi trả DVMTR đến chủ  
rừng và người dân. Tổng thu từ các đơn vị cho Quỹ bảo vệ môi trường rừng tỉnh Lai Châu năm  
2018 được trình bày ở bảng 2.  
Bảng 2. Tổng thu từ các đơn vị cho Quỹ bảo vệ môi trường rừng tỉnh Lai Châu năm 2018  
STT  
I
Nội dung  
Từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam  
Thủy điện Hòa Bình  
Thủy điện Sơn La  
Thủy điện Lai Châu  
Công suất (MW)  
Tổng thu (triệu đồng)  
452.142  
1
2
3
4
5
1.920  
2.400  
1.200  
520  
132.813  
178.655  
97.950  
41.247  
Thủy điện Huội Quảng  
Công ty cổ phần nước sạch Vinaconex  
-
1.477  
II Từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lai Châu  
(Các thủy điện nhỏ trên địa bàn)  
Tổng số  
65.241  
517.383  
(Nguồn: Hội đồng Quản lý quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lai Châu [8])  
3.2.2. Chi trả bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng  
Hằng năm, Mường T  là huyện có nguồn chi trả DVMTR cao nhất của tỉnh Lai Châu. Năm  
2018 kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng lên đến hơn 180 tỷ đồng, chưa kể kinh phí bảo vệ  
rừng, trồng rừng thay thế, hỗ trợ hộ ngh o tham gia nhận khoán, khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Diện  
tích được chi trả DVMTR tăng nhanh qua các năm: năm 2013 là 87.987, năm 2015 là 174.942  
ha, năm 2018 là 168.705 ha. Chi trả bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng huyện Mường T  
giai đoạn 2013 - 2018 được trình bày chi tiết ở bảng 3 [9].  
Bảng 3. Chi trả bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng huyện Mường Tè giai đoạn 2013 - 2018  
Năm  
2013  
Năm Năm  
2014 2015  
Năm Năm Năm  
2016 2017 2018  
STT  
1
Chỉ tiêu  
Bảo vệ rừng  
1.1 Diện tích bảo vệ rừng tự nhiên (ha)  
28.517 28.038 58.508 57.709 57.070 96.970  
5,7 5,63 17,86 9,9 8,2 29,0  
1.2 Vốn thực hiện (tỷ đồng)  
Thực hiện chính sách chi trả  
dịch vụ môi trường rừng  
2
2.1 Diện tích chi trả (ha)  
2.2 Số tiền chi trả (tỷ đồng)  
87.987 86.219 174.942 196.232 166.985 168.705  
15,83 35,0 61,56 78,54 84,7 182,6  
3
Trồng rừng thay thế  
3.1 Diện tích (ha)  
42  
97  
512,9  
500  
3.2 Số vốn thực hiện (tỷ đồng)  
1,0  
5,78  
(Nguồn: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Tè [9])  
3.3. Thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng tại  
huyện Mường Tè  
3.3.1. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng  
a) Đánh giá chung  
Năm 2018, người dân huyện Mường T  đã được nhận hơn 180 tỷ đồng từ chính sách chi trả  
DVMTR cho 168.705 ha rừng. Nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng đã được cấp ủy, chính quyền đặt  
ra là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu. Để thực hiện tốt nhiệm vụ, UBND huyện Mường T  đã kiện  
toàn Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, triển khai kế hoạch bảo  
vệ rừng; ban hành các văn bản chỉ đạo lực lượng vũ trang, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể  
81  
226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
huyện, các xã, thị trấn chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, phương tiện sẵn sàng đảm bảo lực lượng cơ  
động cho nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô. Hạt Kiểm lâm huyện đã thành lập  
Trạm kiểm lâm tại hai xã Tà Tổng, Mù Cả và phân công cán bộ kiểm lâm phụ trách các xã, tổ  
chức các đoàn kiểm tra các địa bàn trọng điểm. Lực lượng kiểm lâm đẩy mạnh công tác tuyên  
truyền, giáo dục người dân thực hiện các quy định bảo vệ rừng gắn với phòng cháy rừng, xử lý  
các vi phạm pháp luật gây cháy rừng; phối hợp các xã, thị trấn tổ chức kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp  
xã với 398 thành viên và thành lập 126 tổ chuyên trách bảo vệ, phát triển rừng và thực hiện chính  
sách chi trả DVMTR tại các bản, khu phố [9].  
Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của chính sách chi trả DVMTR, đời sống người dân dần được cải  
thiện, nhiều hộ đã sử dụng tiền chi trả DVMTR để tái đầu tư sản xuất, mua cây giống và vật nuôi;  
đầu tư cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Từ đó, ý thức và trách nhiệm bảo vệ rừng của cấp ủy,  
chính quyền cấp xã và đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Mường T  được nâng cao, số vụ  
cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng giảm rõ rệt. Trên địa bàn huyện không có vụ việc lớn về phá  
rừng, kinh doanh lâm sản trái pháp luật. Huyện Mường T  năm 2018 có diện tích đất lâm nghiệp  
257.930,1 ha, chiếm 96,2% diện tích tự nhiên của huyện. Diện tích rừng hiện có gần 173.000 ha,  
trong đó diện tích rừng tự nhiên là 163.951 ha; tỷ lệ che phủ rừng năm 2018 đạt 64,8%, cao nhất  
tỉnh Lai Châu. Có được kết quả đó là nhờ chính sách chi trả DVMTR là yếu tố tác động rõ nét nhất  
(các số liệu chi tiết được trình bày trong bảng 4).  
Bảng 4. Tình hình bảo vệ và phát triển rừng năm 2018 của huyện Mường Tè  
Đơn vị: ha  
Tổng diện  
tích rừng  
Chia ra  
Tỷ lệ che  
phủ rừng (%)  
STT  
Xã, thị trấn  
Rừng tự nhiên Rừng trồng  
Rừng khác  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
TT. Mường Tè  
Xã Bum Nưa  
Xã Vàng San  
Xã Nậm Khao  
Xã Mường Tè  
Xã Kan Hồ  
Xã Pa Vệ Sủ  
Xã Pa Ủ  
Xã Bum Tở  
596  
5.038  
5.499  
596  
4.780  
5.327  
2.804  
8.451  
14.092  
13.703  
22.188  
7.096  
8.217  
10.482  
9.037  
-
-
48,81  
68,80  
57,75  
45,39  
62,89  
67,38  
57,06  
67,10  
53,98  
72,76  
77,41  
82,75  
76,89  
55,19  
64,8  
51,77  
117,49  
23,3  
158,6  
56,64  
-
2.06,23  
54,51  
2.066,7  
2.927,4  
1.835,0  
86,1  
20,7  
53,7  
-
140,0  
126,8  
243,1  
290,8  
7.962,17  
4.894  
11.537  
15.983  
13.789  
22.215  
7.284  
8.277  
10.787  
9.342  
6,33  
133,95  
59,84  
176,21  
178,03  
22,5  
67,17  
1.051,83  
10 Xã Tá Bạ  
11 Xã Ka Lăng  
12 Xã Thu Lũm  
13 Xã Mù Cả  
14 Xã Tà Tổng  
Toàn huyện  
29.489  
28.235  
172.965  
29.262  
27.916  
163.951  
(Nguồn: UBND huyện Mường Tè, 2018 [7])  
Để thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn, huyện Mường T  đã tổ chức 68 Hội  
nghị tuyên truyền cấp xã về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Lâm nghiệp, Nghị định số 99/NĐ-  
CP, các văn bản của Trung ương, của tỉnh đến cán bộ và nhân dân các dân tộc trong toàn huyện cho  
trên 1.400 lượt người. Tổ chức 412 cuộc họp bản trên 19.000 lượt người tham gia, xây dựng được  
88 biển hiệu (pano) tuyên truyền khu vực chi trả DVMTR ở các khu rừng các xã, thị trấn; phát  
8.950 tờ rơi và tranh tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tới các bản của các xã,  
thị trấn [7]. Các thôn bản tham gia nhận khoán bảo vệ rừng đã thành lập các tổ chuyên trách, ban  
hành quy chế hoạt động, phân phối thu nhập từ nguồn DVMTR. Tổ chuyên trách thường xuyên  
tuần tra bảo vệ rừng, đặc biệt trong mùa khô với các dụng cụ như dao phát, quần áo bảo hộ… được  
trang bị trích từ nguồn thu DVMTR. Có nơi còn làm đường tuần tra tại điểm có nguy cơ xảy ra  
cháy rừng cao, phát đường băng trắng cản lửa phòng chống cháy rừng, lập chốt gác bảo vệ rừng.  
Kết quả, số vụ phá rừng, cháy rừng, diện tích cháy và số vụ vi phạm luật giảm đáng kể. Tình trạng  
di cư tự do giảm, diện tích rừng đã được nâng lên (độ che phủ rừng của tỉnh từ 52,8% năm 2011 lên  
82  
226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
64,8% năm 2018) góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai, đa dạng sinh học nâng  
lên, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.  
Toàn huyện trong 3 năm (2016 - 2018) đã trồng mới gần 600 ha, trong đó có cây quế, cây mắc  
ca, cây sa mu. Cùng với đó, tiếp tục chăm sóc diện tích rừng phòng hộ đã trồng những năm trước;  
khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ 21.737 ha rừng đặc dụng. Thực hiện bảo vệ toàn bộ diện tích gần  
173.000 ha rừng hiện có [7], [9]. Chăm sóc hàng trăm ha rừng trồng chuyển tiếp bằng nguồn vốn  
ngân sách Trung ương... Củng cố và duy trì hoạt động Ban chỉ đạo cấp huyện, 14 Ban chỉ đạo cấp  
xã và hàng chục tổ chuyên trách quản lý bảo vệ rừng ở thôn, bản. Ðồng thời, huyện cũng có kế  
hoạch chỉ đạo hạt kiểm lâm thường xuyên bám sát địa bàn và phối hợp các chủ rừng tổ chức tuần  
tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm.  
b) Một số điển hình về hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách chi trả  
DVMTR là ở 6 xã khu vực biên giới (Ka Lăng, Thu Lũm, Pa Ủ, Mù Cả, Tá Bạ và xã Mường T ).  
Trước năm 2019, 6 xã này thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ phía Bắc Mường  
T  (Ban thành lập năm 2010, sáp nhập vào Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường T  năm 2018),  
địa bàn các xã giáp biên giới với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, thuộc khu vực đầu nguồn sông Đà, địa  
hình chia cắt phức tạp độ đốc lớn. Diện tích tự nhiên 126.684,37 ha, trong đó diện tích rừng là 91.683  
ha, chiếm 72,4% diện tích rừng của huyện. Năm 2018, có 59 cộng đồng bản và 4 tổ chức là Đồn Biên  
phòng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng với tổng diện tích 89.615 ha, kinh phí hơn 96 tỷ đồng, số tiền  
chi trả bình quân hơn 27 triệu/hộ, xã nhiều nhất 57 triệu đồng/hộ, xã thấp nhất 12 triệu đồng/hộ [7],  
[9]. Ban quản lý đã phổ biến chính sách chi trả DVMTR theo đúng Nghị định của Chính phủ và các  
văn bản tỉnh Lai Châu ban hành, nghĩa vụ của cấp xã, bản, nhân dân đối với công tác bảo vệ rừng, giữ  
rừng; quyền được hưởng lợi từ rừng, nhân dân bảo vệ tốt, giữ gìn tốt không cho cháy rừng, không phá  
rừng làm nương ngoài quy hoạch. Nhờ thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR đã tạo sự chuyển  
biến trong nhận thức của người dân, không đốt rừng, phá rừng làm nương rẫy bừa bãi, vì vậy diện tích  
rừng tăng lên rõ rệt, độ che phủ của rừng ngày càng tăng. Từ khi có chi trả DVMTR người dân phấn  
khởi, tin tưởng vào các cấp chính quyền, không còn tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng,  
công tác tuần tra, phòng cháy, chữa cháy, thực hiện sâu sát, thiết thực hơn. Chính sách chi trả  
DVMTR đã góp phần tăng thu nhập, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhiều hộ gia đình mua  
sắm được nhiều vật dụng đắt tiền như xe máy, tivi, tủ lạnh, trâu, bò,..  
c) Hạn chế tồn tại  
Kinh phí chi trả DVMTR chưa tương xứng với vai trò, ý nghĩa của việc bảo vệ rừng đầu  
nguồn. Mức thu tiền DVMTR từ các đối tượng (cơ sở thủy điện, cung cấp nước sạch) còn thấp và  
chậm được điều chỉnh, ví dụ: năm 2010 thu 20 đồng/kwh, năm 2016 thu 36 đồng/kwh, từ năm  
2019 thu 36 đồng/kwh; đồng thời vẫn còn tình trạng nợ tiền DVMTR [8], [9].  
Công tác giao đất giao rừng đến nay nhiều bất cập, xảy ra tranh chấp, có tình trạng rừng  
không được quản lý bảo vệ tốt. Trình độ dân trí của người dân còn thấp nên việc tuyên truyền chủ  
trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ rừng và phát triển  
rừng còn gặp nhiều khó khăn. Cơ chế chính sách về thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã được  
ban hành song còn thiếu, vừa thực hiện vừa hoàn thiện nên một số khâu chưa đồng bộ.  
Một bộ phận cán bộ và người dân chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của tài nguyên  
rừng, còn trông chờ ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước; Công tác tuyên truyền, phổ biến,  
triển khai chính sách ở các cấp còn chậm và chưa đa dạng hiệu quả, đặc biệt là ở cấp xã; công tác  
thông tin báo cáo giữa cấp tỉnh, huyện chưa thường xuyên. Chính quyền một số xã chưa thực sự  
quan tâm vào cuộc để tổ chức thực hiện kế hoạch được UBND huyện giao đối với chỉ tiêu trồng  
rừng. Năng lực cán bộ ở một số Ban quản lý rừng phòng hộ còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu  
cầu, chưa làm hết trách nhiệm, thiếu chủ động linh hoạt.  
4. Kết luận  
Thực hiện chi trả DVMTR là một trong chính sách có tác động lớn đến công tác quản lý và phát  
triển rừng ở huyện huyện Mường T , tỉnh Lai Châu, một huyện miền núi, đầu nguồn sông Đà, địa  
83  
226(08): 78 - 84  
TNU Journal of Science and Technology  
bàn có tỷ lệ che phủ rừng đến 65%, do vậy đây là một chính sách hiệu quả để thực hiện chủ trương  
xã hội hóa nghề rừng của Đảng và Nhà nước. Chính sách chi trả DVMTR được triển khai đã thu  
được nhiều thành quả, góp phần quản lý, bảo vệ rừng, thúc đẩy xã hội hóa nghề rừng, giảm áp lực  
chi ngân sách nhà nước; việc chặt phá rừng giảm, tỷ lệ che phủ rừng hằng năm tăng. Nguồn thu từ  
DVMTR tiếp tục tăng lên góp phần nâng cao vai trò, giá trị của rừng; xóa đói giảm ngh o và quản  
lý hiệu quả phát triển bền vững tài nguyên rừng.  
Tổng nguồn thu từ DVMTR của tỉnh Lai Châu đến từ hai đối tượng chính: cơ sở thủy điện,  
cung cấp nước sạch, trong đó phần lớn nguồn thu từ các cơ sở thủy điện. Hằng năm, Mường T  
là huyện có nguồn chi trả DVMTR cao nhất của tỉnh Lai Châu. Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của  
chính sách chi trả DVMTR, đời sống người dân dần được cải thiện, nhiều hộ đã sử dụng tiền chi  
trả DVMTR để tái đầu tư sản xuất, mua cây giống và vật nuôi; đầu tư cho giáo dục và chăm sóc  
sức khỏe. Từ đó, ý thức và trách nhiệm bảo vệ rừng của cấp ủy, chính quyền cấp xã và đồng bào  
các dân tộc trên địa bàn huyện Mường T  được nâng cao. Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính  
sách chi trả DVMTR, chúng tôi có những đề xuất mang tính khuyến nghị sau: (i) Đề nghị Chính  
phủ xem xét tăng đơn giá thu DVMTR đối với các nhà máy thủy điện để địa phương có thêm  
nguồn thu phục vụ công tác bảo vệ và quản lý rừng; (ii) Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam sớm có hướng dẫn cụ thể việc thu tiền đối  
với các đối tượng và loại dịch vụ phải trả tiền DVMTR, cụ thể là các cơ sở sản xuất công nghiệp  
có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước; các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có  
hưởng lợi từ DVMTR; các đối tượng sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản…;  
(iii) Khuyến nghị với UBND tỉnh Lai Châu: Kiện toàn tổ chức bộ máy Quỹ bảo vệ môi trường  
rừng của tỉnh và cấp huyện; đầu tư nguồn lực (kinh phí, trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện, nhân  
lực,…) để Quỹ bảo vệ môi trường rừng hoạt động hiệu quả; Lồng ghép thực hiện chính sách chi  
trả DVMTR với các chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp; Tăng cường kiểm tra, giám  
sát thực hiện chính sách chi trả DVMTR; chỉ đạo giải ngân tiền DVMTR kịp thời, đầy đủ đến các  
hộ dân và chủ rừng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] H. L. Pham, “Payments for forest environmental services in Vietnam: Situation and solution,” Journal of  
Forestry Science and Technology, vol. 1, pp. 198-202, 2018.  
[2] T. T. Pham, K. Bennett, T. P. Vu, J. Brunner, D. L. Ngoc, and D. T. Nguyen, Payments for forest  
environmental services in Vietnam: from policy to practice. Occasional Paper 93, Bogor, Indonesia:  
CIFOR, 2013.  
[3] Q. B. Tran, K. L. Nguyen, T. L. Khuong, and H. H. Nguyen, “The policy's impact of payment for  
forest environmental services on forest protection in Ta Dung National Park, Dak Nong province,”  
Journal of Forestry Science and Technology, no. 5, pp. 61 – 72, 2020.  
[4] T. T. Pham, T. L. C. Dao, T. L. Hoang, D. T. Nguyen, M. T. Le, H. H. Nong, and T. N. Dang,  
Impacts of payment for forest environmental services (PFES) in Son La, Viet Nam, (in Vietnamese),  
Occasional Paper 188. Bogor, Indonesia: CIFOR, 2018.  
[5] T. S. Cao, T. T. D. Nguyen, T. L. Nguyen, and D. V. Tran, “Impact Assessment of Diect Payments for  
forest environmental services in Babe district, Backan province on forest protection activities and local  
people s attitude,” Vietnam Journal of Agricultural Sciences, vol. 15, no. 8, pp.1033-1042, 2017.  
[6] T. H. Doan and T. L. Pham, “Potential of payment for forest environmental services in the coastal  
forests in Thanh Hoa,” Journal of Forestry Science and Technology, no. 1, pp. 160-170, 2021.  
[7] Muong Te District People's Committee, Report on assessment of implementation of the master plan  
on socio-economic development of Muong Te district up to 2020, 2019.  
[8] Lai Chau Province People's Committee, Report on preliminary assessment of 8 years of organization  
of activities of the Forest Protection and Development Fund and 5 years of implementation of the  
policy on payment for forest environmental services associated with forest management and  
protection in Lai Chau province, 2016.  
[9] Muong Te District Protection Forest Management Board, Annual report on results of implementation  
of forest protection and development plan and next year's forest protection and development plan  
(2014-2019).  
84  
pdf 7 trang yennguyen 10620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với bảo vệ và quản lý rừng bền vững ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_chi_tra_dich_vu_moi_truong_rung_gan_voi_bao_ve_va.pdf