Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
SINH KẾ NÔNG HỘ TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI:
NGHIÊN CỨU TẠI MỘT CỘNG ĐỒNG VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
Hà Thúc Viên1 và Ngô Minh Thụy2
1 Khoa Môi trường và Tài nguyên,2Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản
ĐT: 08-37245694; 0946500198
TÓM TẮT
Thể chế được xem như nền tảng cơ bản của phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên bền vững và
tái tạo các hệ sinh thái tự nhiên - xã hội. Chính vì thế, sự thay đổi hệ thống thể chế có ý nghĩa
quan trọng, hoặc kích thích hoặc kiềm hãm sự phát triển. Điều này được chứng minh một cách cụ
thể qua thành quả phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong hơn 20 năm thực thi chính sách đổi
mới kinh tế. Trong khu vực nông thôn và nông nghiệp, đổi mới chính sách kinh tế và tự do hoá thị
trường nói chung và các chính sách nông nghiệp, đất đai, quản lý tài nguyên nói riêng đã làm
thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn và sinh kế nông hộ. Tuy nhiên, các chính sách này có sự tác
động khác nhau lên sinh kế của các nhóm nông hộ khác nhau, hay nói cách khác các nhóm nông
hộ khác nhau hưởng lợi khác nhau từ cải cách thể chế và điều này quyết định đến sinh của kế của
nông hộ cũng như các hành vi sử dụng và bảo tồn đất đai và tài nguyên của họ. Chính vì thế,
nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá sự tác động của chính sách kinh tế, đất
đai, bảo tồn tài nguyên, cũng như điều kiện thị trường lên sinh kế nông hộ thông qua nghiên cứu
trường hợp tại xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia
Cát tiên.
Từ khoá: Thể chế, chính sách đất đai, sinh kế, nông hộ, Vườn Quốc gia Cát Tiên.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông thôn Việt Nam đã và đang thay đổi nhanh chóng về mọi mặt từ khi Đảng và Nhà nước
thực hiện chính sách đổi mới kinh tế được khởi xướng vào giữa thập niên 80. Đặc biệt là việc
thực thi chính sách đổi mới quản lý nông nghiệp và chính sách đất đai thông qua giảm dần vai trò
của hợp tác xã nông nghiệp và thừa nhận nông hộ như một đơn vị kinh tế độc lập. Nông hộ được
giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, một số cải cách trong các lĩnh vực
liên quan cũng tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn như: Tài chính và
tín dụng nông thôn, tự do hoá thị trường, chính sách xuất nhập khẩu và chính sách giá, quản lý và
bảo tồn tài nguyên...
Đổi mới chính sách kinh tế và quản lý tài nguyên ở cấp vĩ mô đã làm thay đổi một cách cơ bản
sở hữu và tiếp cận nguồn lực sản xuất của nông hộ, tiếp cận các cơ hội kinh tế do đổi mới chính
sách vĩ mô mang lại. Nông hộ được quyền tự chủ và chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định
sản xuất và tái đầu tư vào sản xuất, và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của họ. Điều
1 Khoa Môi trường và Tài nguyên
2 Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
140
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
này quyết định chiến lược sinh kế và sử dụng tài nguyên của nông hộ. Tuy nhiên, sự khác biệt
trong năng lực sản xuất giữa các nông hộ làm cho họ lựa chọn chiến lược sinh kế cũng khác
nhau. Nghiên cứu này chọn xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, thuộc khu vực vùng
đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội - văn hoá đa dạng làm địa
bàn nghiên cứu điểm với các mục tiêu chính như sau:
• Đánh giá sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi dưới sự tác động của đổi mới chính
sách kinh tế, đất đai, quản lý và bảo tồn tài nguyên, và các chính chính sách và dự án phát triển
liên quan.
• Đề xuất các giải pháp để tăng cường năng lực, phát triển sinh kế nông hộ bền vững và quản
lý sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
• Tìm hiểu tiến trình thực thi chính sách đất đai, quản lý và bảo tồn tài nguyên, và các
chương trình phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn nghiên cứu.
• Đánh giá nguồn lực và khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất, mô hình chiến lược sinh kế
của nông hộ dưới sự tác động của việc thực thi chính sách đất đai, quản lý và bảo tồn tài nguyên,
và các chương trình phát triển kinh tế- xã hội.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này dựa vào khung lý thuyết về mối quan hệ giữa thể chế và sinh kế nông hộ được
Viên (2007) phát triển dựa trên kết quả nghiên cứu của Feder & ctv (1988), Maxwell và Wiebe
(1998) và Dorward và Poole (2004). Trong khung lý thuyết này (xem Hình 1), các nông hộ được
xem như các đơn vị sản xuất có sự khác biệt về kinh tế và xã hội. Chính sách đất đai tập trung
vào chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực thi chính sách này có
nghĩa là quá trình thực hiện chính sách ở cấp địa phương. Các chương trình phát triển tập trung
vào các chính sách bảo tồn tài nguyên và phát triển vùng đệm, hỗ trợ sản xuất, khuyến nông, dịch
vụ sản xuất, tín dụng nông thôn v.v. Điều kiện thị trường có nghĩa là cấu trúc thị trường, giá cả,
khả năng tiếp cận các nguồn đầu vào của sản xuất và bán sản phẩm đầu ra. Tất cả các yếu tố này
sẽ cùng tác động đến việc tiếp cận nguồn lực sản xuất của nông hộ, quyết định phân phối nguồn
lực sản xuất cho các hoạt động sinh kế khác nhau, nhằm đảm bảo an toàn sinh kế và sự thịnh
vượng của nông hộ. Đồng thời, các hoạt động sinh kế của nông hộ có thể ảnh hưởng đến môi
trường và tài nguyên thiên nhiên.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
141
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Nguồn lực ban đầu
của
nông hộ
Thực thi chính sách đất đai:
Các chính sách phát triển:
• Bảo tồn và phát triển vùng đệm
• Hổ trợ sản xuất, khuyến nông, tín
dụng nông thôn, v.v.
• Điều kiện thị trường.
• Hoàn cảnh địa phương
• Giao đất và cấp GCNQSDĐ
• Vai trò của các đối tượng
tham gia và các yếu tố quyết
định
Nguồn lực sản xuất
Chiến lược sinh kế (phân
bố nguồn lực)
Quyết định chi tiêu và đầu tư
Thu nhập và môi trường
Hình 1: Khung lý thuyết mối quan hệ giữa thể chế và sinh kế nông hộ (Nguồn: Viên 2007)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Phước Cát 2 là một xã thuộc vùng đệm, nằm về phía Tây Bắc của Vườn Quốc gia Cát Tiên
(VQGCT). Về mặt hành chính, Phước Cát 2 thuộc huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, là một xã
vùng sâu vùng xa của huyện. Nằm cách Trung tâm huyện khoảng 27 km về phía Tây Bắc với
diện tích tự nhiên 14.658,90 ha, phần lớn diện tích là đất lâm nghiệp thuộc vùng lõi VQGCT
(12.928 ha, chiếm 88,19%), diện tích đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ nhỏ (11,81% hay 1.730,90
ha). Bên cạnh những thuận lợi về mặt tự nhiên (Nguồn nước mặt phong phú, điều kiện thời tiết
khí hận ổn định, độ che phủ rừng cao), phần lớn đất đai có độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh, mưa
nhiều và tập trung theo mùa gây ra lũ lụt, xói mòn đất, khó khăn cho việc phát triển hệ thống giao
thông, thuỷ lợi, cơ giới hoá nông nghiệp.
Toàn xã hiện có 556 hộ với 2.668 người, thuộc 5 nhóm dân tộc như: Kinh, Dao, Tày, Nùng,
S’tiêng và Châu Mạ. Trong đó, người S’Tiêng và Châu Mạ là hai nhóm dân tộc thiểu số bản địa.
Người Kinh chiếm đa số, di cư vào khu vực này theo các chương trình kinh tế mới và di dân tự
do. Các nhóm dân tộc Dao, Tày, Nùng sống ở vùng núi phía Bắc và di cư vào xã trong giai đoạn
1985 -1990. Số người trong độ tuổi lao động trên 50% dân số, đây là nguồn lao động dồi dào cho
sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế của địa phương và sinh kế nông hộ chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai thác
tài nguyên rừng. Kinh tế phi nông nghiệp chậm phát triển. Nằm xa trung tâm và thị trường, cơ sở
hạ tầng yếu kém, thiếu các cơ sở dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp, trình độ dân trí thấp và phần lớn
lao động chưa qua đào tạo, nguồn lực sản xuất hạn chế đã kìm hãm phát triển kinh tế địa phương.
Thu nhập bình quân đầu người thấp và tăng chậm. Năm 2009, thu nhấp bình quân trên đầu người
là 6,86 triệu, chủ yếu từ nông nghiệp. Toàn xã có 20,37% dân số sống dưới mức đói nghèo, tập
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
142
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
trung ở các cộng đồng dân tộc thiểu số và những hộ mới di cư do thiếu đất (gần 50% hộ nghèo)
và các nguồn lực sản xuất khác ngoại trừ lao động.
Phương pháp thu thập số liệu
• Số liệu thứ cấp: Thu thập các văn bản pháp lý và chính sách pháp luật, chính sách kinh tế
xã hội, đất đai, bảo tồn tài nguyên, số liệu thống kê điều kiện tư nhiên – kinh tế - xã hội, các tài
liệu nghiên cứu đã xuất bản liên quan đến địa bàn nghiên cứu.
• Điều tra nông hộ: 120 hộ có điều kiện kinh tế khác nhau từ 556 hộ, thuộc 5 nhóm dân tộc
đã được chọn để tiến hành phỏng vấn với bộ câu hỏi cấu trúc hoàn chỉnh được chuẩn bị sẵn;
thông tin điều tra gồm: Thông tin cơ bản của nông hộ, cấp GCNQSDĐ, sinh kế và ảnh hưởng của
chính sách đến sinh kế,…
• Phỏng vấn chuyên gia: 40 người am hiểu vấn đề nghiên cứu được lựa chọn để phỏng vấn
điều tra các vấn đề liên quan đến đổi mới chính sách đất đai, bảo tồn tài nguyên, thị trường, hoạt
động sinh kế và sử dụng tài nguyên của nông hộ dưới tác động của quá trình thực thi các chính
sách cải cách vĩ mô.
Tổng hợp và xử lý số liệu
• Thông tin điều tra được nhập và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel sau đó xuất sang
phần mềm STATA Version 9 và SPSS version 16.1 để xử lý thống kê.
• Dữ liệu thông tin định tính và định lượng được sử dụng kết hợp để phân tích môi trường thể
chế, nguồn lực sản xuất ban đầu và tiếp cận nguồn lực sản xuất, hoạt động sinh kế và và thu nhập
nông hộ, và các ảnh hưởng của chính sách đến sinh kế nông hộ.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tiến trình giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSDĐ) đất nông nghiệp cho
hộ gia đình và cá nhân theo Nghị định 64/NĐ-CP tại địa bàn nghiên cứu được triển khai từ năm
1998, sau 4 năm Luật Đất đai 1993 và Nghị định 64 có hiệu lực. Cho đến nay, mặc dù công tác
này đã được triển khai hơn 10 năm, nhưng vẫn chưa hoàn thành. Đến năm 2009, chỉ có 7% tổng
diện tích tự nhiên của xã được cấp GCNQSDĐ, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp (59%). Tất
cả diện tích đất trồng cây hàng năm đã được cấp GCNQSDĐ, ngược lại diện tích đất cây lâu năm
hoàn toàn chưa được cấp GCNQSDĐ cho người dân.
Kết quả hạn chế trong công tác cấp GCNQSDĐ, bên cạnh bị ảnh hưởng bỡi các yếu tố chung
như nhiều địa phương khác trong vùng đệm: Thiếu đồng bộ giữa các văn bản hướng dẫn, đo đạc
và đăng ký ban đầu chậm, thiếu nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, sự tham gia không đồng bộ
của các bên có liên quan. Kết quả hạn chế này còn bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố mang tính địa
phương: (1) Sự phân định không rõ ràng trong chức năng quản lý đất đai giữa địa phương và
VQGCT. (2) Tranh chấp loại hình sử dụng đất do chậm điều chỉnh quy hoạch ranh giới phân định
đất nông – lâm theo hiện trạng sử dụng đất. Phần lớn diện tích đất trong cây lâu năm của xã hiện
nay thuộc khu vực quy hoạc đất lâm nghiệp do các lâm trường quản lý, nhưng trên thực tế người
dân đã khai thác để sản xuất nông nghiệp ổn định trên 10 năm. (3) Nhiều khu vực đất đai có
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
143
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
nguồn gốc không rõ ràng do chuyển nhượng đất đai trái phép và quản lý lỏng lẻo trong quá trình
thực hiện chính sách kinh tế mới.
Các dự án phát triển nông thôn và vùng đệm
Bên cạnh các dự án phát triển vùng sâu vùng xa, Phước Cát 2 cũng tiếp nhận một số dự án
lồng ghép giữa bảo vệ rừng và nâng cao đời sống cư dân vùng đệm như: Tổ chức các lớp khuyến
nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật và xây dựng các mô hình trình diễn để nông dân học hỏi kỹ
thuật và kinh nghiệm sản xuất (kỹ thuật trồng và chăm sóc lúa nước, bắp giống CP, cây phân tán,
kỹ thuật canh tác trên đất dốc, kỹ thuật nuôi bò, nuôi heo hướng nạc, nuôi tôm càng xanh, trồng
tre lấy măng, sử dụng nước tiết kiệm). Ngoài ra, các chương trình giao đất giao rừng nghèo kiệt
cho cộng đồng quản lý và bảo vệ, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, khuyến khích phát triển tổ
kinh tế hợp tác tiến tới xây dựng hợp tác xã cũng được triển khai thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả
mang lại của các dự án không cao và có đời sống ngắn do hình thức tổ chức thực hiện chưa tốt,
thiếu sự hợp tác giữa địa phương, ban quản lý VQGCT và người dân, trình độ dân trí thấp, tiếp
cận khoa học kỹ thuật hạn chế, đặc biệt đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số.
Nguồn lực và tiếp cận nguồn lực sản xuất sản xuất nông hộ
Nguồn lực con người và đất đai
Kết quả điều tra cho thấy số nhân khẩu và tỷ lệ lao động trung bình trên hộ tại địa bàn nghiên
cứu tương đối cao hơn mức bình quân của cả nước và vùng Tây nguyên. Quy mô trung bình mỗi
hộ gia đình có 4,7 khẩu: Trong đó có 3 lao động chính và 1,7 người phụ thuộc. Trình độ của lao
động rất thấp, trình độ học vấn trung bình lao động là lớp 5. Điều này cho thấy, các nông hộ có
nguồn nguồn lao động phổ thông dồi dào cho các hoạt động kinh tế, nhưng sẽ gặp nhiều khó
khăn trong quá trình chuyển dịch kinh tế sang các khu vực đòi hỏi lao động có tay nghề cao:
Nông nghiệp thương mại, kinh doanh nhỏ hoặc làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thu
công nghiệp. Các chỉ số liên quan đến nguồn lực con người trong 10 năm qua đặc biệt là trình độ
học vấn của lao động có phần cải thiện do quá trình phát triển kinh tế nói chung và giáo dục đào
tạo nói riêng mang lại (xem Bảng 1).
Bảng 1: Nguồn lực con người và đất đai của nông hộ (n=120)
Chỉ tiêu
1999 2009
+/-
1. Dân số & lao động
- Nhân khẩu
- Lao động
4,2
2,1
3,6
4,7
3,0
5,0
0,5
0,7
1,4
- Trình độ học vấn của lao động
2. Đất đai
- Tổng diện tích
- Đất lúa
- Đất cây hàng năm
- Đất cây lâu năm
- Diện tích được GCNQSDĐ
1,59 2,38 0,79
0,30 0,34 0,04
0,12 0,27 0,15
1,14 1,73 0,59
0,64 1,34 0,70
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008 – 2009)
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
144
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Bên cạnh nguồn lực con người, đất đai chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng quyết định đến
sinh kế của nông hộ. Năm 2009, mỗi nông hộ sở hữu trung bình 2,38 ha diện tích đất canh tác3,
trong đó phần lớn là diện tích trồng cây lâu năm 1,73 ha (72,69%), phần diện tích còn lại trồng
lúa nước và các loại cây hàng năm khác. Kết quả điều tra cũng cho thấy diện tích trung bình trên
nông hộ có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế và dân tộc. Các hộ thuộc dân tộc S’Tiêng có diện
tích đất nông nghiệp cao nhất (4,09 ha) và thấp nhất là các hộ thuộc cộng đồng người Dao (1,48
ha); Trung bình mỗi hộ giàu có diện tích đất nông nghiệp là 4,58 ha, các hộ trung bình 2,1 ha và
hộ nghèo là 1,58ha. Sự khác biệt diện tích canh tác giữa các nhóm hộ được quyết định bỡi thời
gian định cư tại địa phương, địa bàn định cư và điều kiện nguồn lực nông hộ. Đối với các hộ có
thời gian định cư lâu hơn và sống gần rừng hơn thường khai hoang mở rộng đất canh tác dễ dàng
nên sở hữu đất đai nhiều hơn. Diện tích đất canh tác của nông hộ có xu hướng tăng mạnh trong
10 năm qua (0,79ha), đặc biệt các hộ giàu và các hộ thuộc dân tộc S’Tiêng. Việc mở rộng diện
tích đất canh tác của nông hộ thường phần lớn thông quan việc lấn chiếm đất rừng thuộc vùng
giáp ranh giữa Vườn quốc gia Cát Tiên và địa phương. Mặc dù, trên lý thuyết đây là vùng bảo vệ
nghiêm ngặt và cấm mọi hành vi lấn chiếm. Ngoài ra, các hộ có năng lực sản xuất có xu hướng
tích lỹ đất đai nhằm mở rộng sản xuất nông nghiệp thông qua chuyển nhượng đất đai. Diện tích
đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiếm 56% diện tích canh tác của nông hộ, chủ
yếu đất trồng cây hàng năm, nằm ngoài các khu quy hoạch phát triển lâm nghiệp và vùng bảo tồn
của Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Thực hiện chính sách giao đất và cấp GCNQSDĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi
hưởng dụng đất đai của nông hộ thông qua việc cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Trong giai đoạn 1998 – 2009, có 48% số hộ được điều tra tham gia chuyển quyền sử dụng đất
dưới các hình thức như: Chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng, cho và nhận thừa kế. Các hộ
chuyển nhượng đất đai thường rời địa phương để chuyển sang các tỉnh khác làm ăn sinh sống và
các hộ nhận chuyển nhượng chủ yếu là các hộ có tiềm lực, mua thêm đất để mở rộng sản xuất
hoặc là những người mới tới định cư tại địa phương mua đất để sản xuất. Tuy nhiên, phần lớn các
hoạt động chuyển nhượng đất đai đều sang nhượng bằng giấy tay, không thông qua cơ quan quản
lý nhà nước về đất đai địa phương (68,29%), và thường rơi vào các nông hộ đất đai chưa được
cấp GCNQSDĐ. Tất cả những hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều tham gia vào các
giao dịch quyền sử dụng đất một cách hợp pháp. Bên cạnh đó, cho nhận thừa kế quyền sử dụng
đất cũng là hình thức chuyển quyền phổ biến, nhưng phần lớn không thông quan cơ quan chức
năng của Nhà nước. Không có trường hợp cho thuê và thuê đất. Theo kết quả phỏng vấn nông hộ
cho thấy, nguyên nhân cơ bản là phần lớn đất đai chưa được cấp giấy chứng nhận; các thể chế
truyền thống vẫn có hiệu lực trong việc quản lý sử dụng đất đai đối với các cộng đồng dân tộc
tiểu số; đối với các hộ đồng bào Kinh sử dụng hình thức giấy tay để trốn thuế, nhận thức pháp
luật hạn chế, sống các khu vực xa xôi khó tiếp cận cơ quan nhà nước, buông lỏng trong quản lý
đất đai ở địa phương.
3 Trong vùng nghiên cứu đất lâm nghiệp thuộc quyền quản lý của Vường Quốc gia Cát Tiên, không giao cho hộ gia
đình cá nhân, vì thế các nông hộ không có đất lâm nghiệp.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
145
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Bảng 2: Tình hình chuyển quyền sử dụng đất giai đoạn 1998 – 2009 (n=120)
Tổng số
(hộ)
Giao dịch hợp pháp
Giao dịch
không hợp pháp
Hình thức giao dịch
Trường hợp Tỷ lệ (%) Trường hợp Tỷ lệ (%)
Nhận chuyển nhượng 41
13
0
0
31,71
28
2
4
68,29
100
100
Chuyển nhượng
Cho thừa kế
2
4
0
0
0
Nhận thừa kế
11
0
11
100
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008 – 2009)
Vốn và tiếp cận tín dụng
Vốn là nguồn lực quan trọng đối với nông hộ để đầu tư và biến nguồn lực lao động và đất đai
thành lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy 76% nông hộ thiếu vốn sản xuất và đây
cũng là đặc trưng chung của nhiều nông hộ ở các vùng sâu, vùng xa, và các cộng đồng dân tộc
thiểu số. Khả năng tích lỹ vốn nông hộ thấp. Vì vậy, vốn vay là nguồn cơ bản để đầu tư sản xuất.
Theo kết quả điều tra có trên 75% nông hộ phải vay vốn để đầu tư sản xuất. Ba nguồn vốn cơ
bản: Vay thế chấp GCNQSDĐ (42,86%), vay tín chấp các nguồn quỹ tín dụng và nguồn dự án
phát triển (26,37%) và từ nguồn tư nhân (30,77%). Cải cách hệ thống tài chính - tín dụng nông
thôn và cấp GCNQSDĐ đã tác động lớn đến việc tiếp cận vốn sản xuất của người dân. Tuy nhiên,
do quá trình cấp GCNQSDĐ chưa hoàn thành, vì thế nhiều hộ gia đình không thể sử dụng đất đai
của họ để thế chấp vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp.
Bảng 3: Các hình thức tiếp cận tín dụng (n=120)
Hình thức
1. Tổng số hộ tham gia vay vốn
- Vay có thế chấp
- Vay có tín chấp
- Vay tư nhân
Số hộ
91
(%)
75,83
42,86
26,37
30,77
39
24
28
2. Số tiền vay/hộ (tr. VND)
10,54
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008-2009)
Tiếp cận tín dụng có sự khác biệt giữa các nông hộ thuộc các nhóm kinh tế khác nhau. Số hộ
thuộc các nhóm kinh tế khá hơn thấy hơn số hộ thuộc nhóm nghèo, nhưng giá trị vay trung bình
trên hộ cao hơn các nhóm nghèo và chủ yếu vay vốn ngân hàng thông qua thế chấp GCNQSDĐ.
Ngược lại số hộ thuộc nhóm nghèo chủ yếu dựa vào nguồn tín dụng tư nhân. Thiếu tài sản để thế
chấp và vay phức tạp cũng là nguyên nhân cơ bản khiến các hộ thuộc nhóm nghèo và dân tộc
thiểu số khó tiếp cận nguồn tính dụng chính thức. Họ thường tìm đến các nguồn tín dụng tư nhân
mặc dù lãi suất rất cao, nhưng luôn luôn có sẵn và vay dễ dàng. Việc thiếu vốn buộc các hộ
nghèo phải mua các loại vật tư với giá cao, thường cao hơn 1,5 lần so với giá thị trường.
Sở hữu công cụ sản xuất của nông hộ
Kết quả điều tra nông hộ cho thấy số hộ có trâu bò chiếm trên 50%. Trâu bò không những
cung cấp sức kéo, cày, nguồn phân hữu cơ cho sản xuất, mà còn là tài sản quý giá của nông hộ.
Phần lớn các hộ nuôi trâu bò cho mục đích sản xuất hơn là mục đích thương mại. Ngoài ra đối
với các hộ dân tộc thiểu số bản địa, nuôi trâu bò còn để sử dụng cho việc cúng tế trong các lễ
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
146
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
nghi truyền thống của họ. Sở hữu các công cụ sản xuất và tài sản có giá trị kinh tế có ảnh hưởng
quan trọng đối với sinh kế của nông hộ, trực tiếp hay gián tiếp. Ngoài ra kết quả điều tra cũng
cho thấy các hộ có điều kiện kinh tế tốt hơn sở hữu các công cụ sản xuất và các tài sản có giá trị
kinh tế nhiều hơn; các hộ thuộc các cộng đồng người Kinh và các cộng đồng dân tộc thiểu số di
cư sở hữu nhiều công cụ sản xuất và các tài sản có giá trị nhiều hơn các hộ thuộc cộng đồng dân
tộc thiểu số bản địa S’Tiêng vì họ cũng thuộc nhóm có điều kiện kinh tế tốt hơn.
Bảng 4: Công cụ sản xuất và các tài sản có giá trị kinh tế (n=120)
Loại công cụ
Số hộ
Tỷ lệ (%)
1,67
Xe tải
2
Máy cày
Máy gặt
Máy bơm
Trâu bò
23
50
58
71
19,17
41,67
48,33
59,17
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008-2009)
Nguồn lực xã hội và chính trị
Nguồn lực xã hội và chính trị có thể không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và các
hoạt động sinh kế nông hộ, nhưng có tác động gián tiếp đến sinh kế thông qua việc hỗ trợ nông
hộ tiếp cập đến các nguồn lực sản xuất. Theo kết quả điều tra nông hộ cho thấy, 25% nông hộ có
thành viên trong gia đình nắm các vị trí trong chính quyền và cơ quan đoàn thể của địa phương,
nhưng hầu hết các vị trí chỉ ở cấp thôn và xã. Những người nắm giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng
trong khu vực họ sinh sống thừa nhận họ hưởng những lợi ích nhất định từ vị trí của họ từ khía
cạnh kinh tế thông qua việc tiếp cận tốt hơn các nguồn lực và dịch vụ sản xuất, như khuyến nông,
hỗ trợ của nhà nước, các thông tin thị trường – khoa học kỹ thuật, chính sách phát triển của nhà
nước…
Các hoạt động sinh kế và thu nhập nông hộ
-
Các mô hình sinh kế nông hộ
1.1
Kết quả điều tra cho thấy hoạt động sinh kế của nông hộ rất đa dạng bao gồm trồng lúa
nước, trồng cây ngắn ngày, cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, buôn
bán nhỏ, làm thuê, khai thác sản phẩm rừng, bảo vệ rừng và các hoạt động phi nông
nghiệp. Có 20 mô hình sinh kế từ đơn giản với một hoạt động đến đa dạng kết hợp đồng
thời 6 hoạt động sinh kế khác nhau được nông hộ lựa chọn trong đó 9 mô hình chiến lược
sinh kế được nông hộ sử dụng phổ biến (xem Bảng 5). Trong đó phổ biến nhất là mô hình
số 1 (Lúa nước - Điều - Chăn nuôi), mô hình số 2 (Lúa nước - Điều - Làm thuê - Khai
thác sản phẩm rừng), và mô hình số 3 (Làm thuê - Khai thác sản phẩm rừng). Đặc
trưng các mô hình chiến lược sinh kế trong vùng nghiên cứu cho thấy sự hình thành các mô
hình chiến lược sinh kế của nông hộ có sự tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, hệ
sinh thái nông nghiệp của địa phương, các chính sách kinh tế và bảo tồn tài nguyên, quá
trình tự do hoá thị trường, tiến bộ khoa học và công nghệ, nguồn lực ban đầu và khả năng
tiếp cận các nguồn lực sản xuất của nông hộ, tập quán sản xuất của các cộng đồng dân cư
và sự tương tác văn hoá giữa các cộng đồng dân tộc khác nhau trong vùng sinh sống.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
147
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Bảng 5: Các mô hình chiến lược sinh kế nông hộ phổ biến (n=120)
STT
Các mô hình chiến lược sinh kế
Lúa nước - Điều - Chăn nuôi
Lúa nước - Điều - Làm thuê - Khai thác sản phẩm rừng
Làm thuê - Khai thác sản phẩm rừng
Điều - Làm thuê - Bảo vệ rừng
Số hộ
39
1
2
3
4
5
6
7
8
9
15
13
9
9
7
7
4
4
Điều - Chăn nuôi - Làm thuê
Điều - Bắp - Làm thuê - Bảo vệ rừng
Điều - Chăn nuôi - Làm thuê - Khai thác sản phẩm rừng
Làm thuê - Chăn nuôi- Rau - Bảo vệ rừng
Điều - Làm thuê - Bắp
10 Khác
Tổng
13
120
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008-2009)
Kết quả điền dã chứng minh rõ: Với đặc trưng của một vùng sinh thái nông nghiệp bán sơn địa
thích hợp cho việc canh tác lúa nước, trồng các loại hoa màu hàng năm, các loại cây công nghiệp
lâu năm và chăn nuôi gia súc. Về nguồn gốc, đây là vùng sinh sống của các cộng đồng dân tộc
bản địa như S’Tiêng và Châu Mạ sống dựa vào canh tác nương rẫy, chăn thả và hái lượm các sản
phẩm từ rừng. Vào những năm cuối thập niên 80 và đầu 90, thực thi các chương trình kinh tế
mới, định canh định cư người đồng bào dân tộc tiểu số, xây dựng nông lâm trường cùng với
chính sách giao đất và cấp GCNQSDĐ gần đây, tăng dân số dẫn đến đất đai ngày trở nên khan
hiếm và sự hạn chế các hình thức canh tác du canh, các cộng đồng dân tộc bản địa chuyển sang
các hình thức canh tác và sinh kế mới kết hợp canh tác lúa nước, trồng cây lâu năm như điều và
thu lượm lâm sản. Các cộng đồng dân cư đến sau có xu thế hình thành mô hình chiến lược sinh
kế gắn chặt với thị trường và sản xuất theo hướng thương mại. Phát triển nông nghiệp thâm canh
và các ngành nghề ngoài nông nghiệp, cung cấp thêm cơ hội việc làm cho một bộ phân dân cư
dẫn đến sự chuyển dịch và phân công lại lao động trong nông hộ.
Sự gia tăng giao lưu kinh tế và văn hoá, sinh kế nông hộ thuộc các cộng đồng dân tộc khác
nhau ngày càng trở nên tương đồng, mặc dù ở nhiều cấp độ phát triển khác nhau. Kết quả khảo
sát sinh kế của nông hộ thuộc các cộng đồng dân tộc khác nhau không cho thấy khác biệt rõ rệt,
nhưng cũng có một số khác biệt cơ bản trong mô hình sinh kế giữa các nhóm dân tộc mà nó được
quyết định bỡi đặc trưng và khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất, tập quán sản xuất, truyền thống
và văn hóa. Các hộ đồng bào Kinh thường hướng đến các mô hình thâm canh và kết hợp với các
hoạt động phi nông nghiệp như buôn bán nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, kể cả làm thuê. Các hoạt
động sinh kế của các nhóm dân tộc thiểu số chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Do các rào
cản về ngôn ngữ, trình độ thấp, sống xa khu vực trung tâm kinh tế - hành chánh nên gặp nhiều
khó khăn trong quá trình đa dạng hoá sinh kế theo giảm dần phụ thuộc vào tài nguyên và nông
nghiệp, tăng dần các sinh kế phi nông nghiệp, ngay cả làm thuê. Tuy nhiên, cùng chịu sự tác
động của chung của các chính sách kinh tế và phát triển, thị trường, quá trình giao lưu xã hội,
sinh kế của các nhóm dân tộc tiểu số ngày càng bị ảnh hưởng của người Kinh.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
148
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Phân tích các mô hình chiến lực sinh kế nông hộ thuộc các nhóm có đều kiện kinh tế khác
nhau càng thấy rõ hơn mối quan hệ vừa đề cập ở trên. Các hộ có điều kiện kinh tế khá giả, nhất là
các hộ đồng bào Kinh có nguồn lực sản xuất và khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất tốt hơn,
có nhiều kinh nghiệp sản xuất nông nghiệp thương mại, liên kết với thị trường có xu thế tập trung
vào sản xuất nông nghiệp thâm canh kết hợp với chăn nuôi thương mại. Ngược lại các hộ có thu
nhập trung bình và thấp có khuynh hướng theo đuổi các chiến lược sinh kế đa dạng hoá các hoạt
động. Do hạn chế về nguồn lực ban đầu và khả năng tiếp cận đến nguồn lực đất đai, vốn, kỹ thuật
trong khi dư thừa lao động họ thường áp dụng các chiến lược sinh kế ít đầu tư theo hướng tự
cung tự cấp, dựa vào tài nguyên, hoặc bán thị trường, tìm kiếm các sinh kế ngoài trồng trọt và
ngoài nông nghiệp như làm thuê và khai thác lâm sản từ rừng quốc gia nhằm sử dụng hợp lý hơn
lao động và tăng thu nhập. Do áp lực thị trường và cải thiện thu nhập, hầu hết các nông hộ thuộc
các nhóm kinh tế và nhóm dân tộc khác nhau có xu hướng khai thác lâm sản không chỉ nhằm đáp
ứng nhu cầu sử dụng trong gia đình, mà ngày càng chuyển hướng cho mục đích thương mại.
Bảng 5: Mô hình chiến lược sinh kế theo tình hình kinh tế nông hộ (n=120)
STT
Loại hình
Khá
Trung
Nghè Tổng
(27) bình(42 o (51)
)
1
2
Lúa nước-Điều-Chăn nuôi
Lúa nước-Điều-Làm thuê-Khai thác sản phẩm
rừng
20
17
9
2
6
39
15
3
4
5
6
7
Làm thuê-Khai thác sản phẩm rừng
Điều-Làm thuê-Bảo vệ rừng
Điều-Chăn nuôi-Làm thuê
Điều-Bắp-Làm thuê-Bảo vệ rừng
Điều-Chăn nuôi-Làm thuê-Khai thác sản phẩm
rừng
5
3
1
2
1
8
6
8
5
6
13
9
9
7
7
8
9
Làm thuê-Chăn nuôi-Làm vườn-Bảo vệ rừng
Điều - Làm thuê - Bắp
2
2
4
4
4
10 Khác
7
4
2
13
120
Tổng
27
42
51
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008-2009)
Thu nhập nông hộ
Thu nhập trung bình của mỗi nông hộ năm 2009 là 34,17 triệu hay khoảng 6,8
triệu/người/năm, trên mức nghèo hiện nay (dưới 5,76 triệu/người/năm). Trong cơ cấu thu nhập,
nông nghiệp là nguồn thu chính (74% tổng thu nhập nông hộ), từ lúa nước, cây công nghiệp lâu
năm. Bên cạnh đó, làm thuê và buôn bán nhỏ cũng mang lại một nguồn thu đáng kể cho nông hộ.
Trong 10 năm qua, tổng thu nhập và cơ cấu thu nhập có sự thay đổi khá rõ rệt. Tổng thu nhập
tăng 30,2%/năm. Tất cả các loại hình thu nhập đều tăng đáng kể, trong đó thu nhập tăng mạnh từ
trồng lúa nước và điều. Tăng thu nhập được quyết định bỡi tăng sản lượng và giá cả nông sản, mà
nguồn gốc xuất phát từ tăng diện tích sản xuất và năng suất do sự thay đổi nhanh chóng các mô
hình sản xuất nông nghiệp dưới áp lực thị trường và thâm canh nông nghiệp.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
149
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Cấp GCNQSDĐ làm tăng an toàn hưởng dụng đất đai, phát triển thị trường đất, cùng với mở
cửa thị trường tín dụng nông thôn làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng thông qua thế chấp quyền
sử dụng đất, phát triển thị trường lao động, thị trường vật tư nông nghiệp và nông sản, tiếp cận
các tiến bộ khoa học do các dự án phát triển mang lại đã thúc đẩy quá trình thâm canh sâu trong
nông nghiệp và phát triển nông nghiệp thương mại để tăng thu nhập trên đơn vị đất đai. Phát triển
nông nghiệp tăng thu nhập đã thúc đẩy tăng nguồn thu từ lao động làm thuê và buôn bán nhỏ do
tăng nhu cầu lao động và tu dùng. Chăn nuôi mặc dù chưa phải là nguồn thu chính của nông hộ,
nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng chăn nuôi thương mại và đa dạng hoá loại hình
chăn nuôi cũng phát triển.
Bảng 6: Thu nhập và cấu trúc thu nhập nông hộ4
Đvt: Triệu đồng
Nội dung
1998
2008
-/+
-/+%
Lúa
2,07
0,17
2,80
0,61
2,84
8,49
11,28
0,87
13,27 10,47
3,78
4,96
34,17 25,67
9,21
0,70
445
401
374
520
75
Cây hằng năm khác
Cây công nghiệp lâu năm
Chăn nuôi
Làm thuê, buôn bán nhỏ
Tổng
3,17
2,12
302
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008-2009)
Mặc dù nguồn thu nhập từ thu lượm lâm sản không tính toán trong nguồn thu, nhưng qua số
liệu điều tra, cho thấy sinh kế của người dân địa phương vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào rừng.
Các loại tài nguyên chính mà người dân vẫn tiếp tục khai thác sử dụng từ VQG Cát Tiên như: gỗ,
củi, lồ ô, song mây, măng le, cá và các loại rau rừng nó đóng một vai trò quan trọng trong sinh kế
nông hộ nhất là các hộ nghèo, thiếu đất sản xuất và dân tộc thiểu số, nó vừa là nguồn thu nhập,
nguồn lương thực, thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh. Theo kết quả quan sát và phỏng vấn
nhóm, các hộ thuộc nhóm có điều kiện kinh tế khá hơn, thường khai thác lâm sản để cho mục
đích thương mại và tăng thu nhập; ngược lại các hộ nghèo thường khai thác lâm sản cho cả hai
mục đích: Sử dụng làm thực phẩm gia đình và bán. Theo phỏng vấn chuyên gia, số lượng khai
thác lâm sản khai thác thực tế của người dân lớn hơn nhiều so với số liệu họ cung cấp. Điều này
chứng tỏ mặc dù vườn quốc gia được quản lý nghiêm ngặt, nhưng việc khai thác lâm sản trái
phép có xu hướng diễn ra phức tạp và số lượng ngày càng tăng do áp lực thị trường và tăng thu
nhập của người dân.
Bảng 7: Sử dụng tài nguyên thiên nhiên của nông hộ mỗi năm
Loại tài nguyên
Theo nhóm dân tộc
Kinh Dao Tày Nùng S'Tiêng Giàu Trung bình Nghèo
0,34
Theo nhóm kinh tế
Gỗ (m3)
0
0
0
0
0
0
0
Củi (m3)
24,81 15,61 13,09 0,67
1,69 1,67 0,63 0,06
0,15 0,00 0,00 0,00
19,04 28,16
1,64 2,07
8,96 0,19
19,49 15,58
1,33 1,10
0,12 0,10
Lồ ô (m3)
Song mây (kg)
4 Thu nhập từ khai thác lâm sản không tính vào tổng thu nhập của người dân do quá trình khai thác diễn ra nhiều thời
điểm khác nhau, số lượng và giá bán biến động thường xuyên cho nên rất khó quy thành thu nhập bằng tiền.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
150
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Măng (kg)
Cá (kg)
Rau rừng (kg)
11,30 14,40 5,36 0,33
0,39 0,53 0,00 0,00
0,00 0,00 0,00 0,00
14,96 13,81
1,27 0,48
11,80 0,00
8,88 7,31
0,31 0,25
0,00 10,05
(Nguồn: Điều tra nông hộ 2008 – 2009)
Bên cạnh đó, cấp GCNQSDĐ cũng mong đợi người dân sẽ tập trung vào sản xuất nông nghiệp
và giảm phụ thuộc vào rừng. Nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy điều này không diễn ra như
mong đợi. Một mặc nông dân ngày càng phát triển nông nghiệp thâm canh, mặt khác tiếp tục khai
thác lâm sản như một loại hình sinh kế không thể thiếu trong chiến lược sinh kế của họ. Ngoài ra,
khai thác lâm sản để bù đắp lại thiếu hụt thu nhập vào những năm mất mùa, giá cả nông sản giảm
và khai thác lâm sản cũng là nguồn tài chính để mua vật tư nông nghiệp cho sản xuất. Chính vì
thế, một đòi hỏi đặt ra trong chiến lược phát triển và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên phải đảm bảo
cả 2 mục đích: Sinh kế và quản lý bảo tồn tài nguyên bền vững.
Nông hộ thuộc các nhóm dân tộc và kinh tế khác nhau có một số khác biệt trong thu nhập và
cấu trúc thu nhập của họ do chiến lược sinh kế của họ quyết định như đã trình bày phần trước.
Thật vậy, tổng thu nhập của các nông hộ thuộc nhóm kinh tế khá cao gấp 3 lần nhóm kinh tế
trung bình và 9 lần so với các hộ thuộc nhóm thu nhập thấp. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng thu
nhập của nhóm thu nhập cao cũng nhanh hơn các nhóm còn lại. Điều đáng chú ý là thu nhập của
nông hộ thuộc nhóm thu nhập cao tập trung chủ yếu từ nông nghiệp và chăn nuôi, ngược lại các
hộ nghèo có nguồn thu nhập từ các hoạt động ngoài trồng trọt và ngoài nông nghiệp, chủ yếu từ
làm thuê và khai thác lâm sản. Sự khác biệt về nguồn lực sản xuất và khả năng tiếp cận các nguồn
lực sản xuất giữa nông hộ thuộc các nhóm có điều kiện kinh tế khác nhau làm cho họ hưởng lợi
từ môi trường kinh tế - thể chế và điều kiện tự nhiên khác nhau và tổ chức mô hình hoạt động
sinh khác nhau. Sự thay đổi mô hình sinh kế của các nông hộ dưới sự tác động của môi trường
thể chế đã làm tăng nhanh quá trình phân hoá xã hội ngay cả những vùng sâu vùng xa và ngay
trong các cộng đồng dân tộc thiểu số. Đòi hỏi việc hoạch định và thực thi chính sách cần phải
quan tâm đến việc hạn chế phân hoá xã hội và tăng cường na8nglu75c sản xuất cho các nhóm bất
lợi. Vì thế bên cạnh các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế cần có các chính sách an sinh
xã hội, xoá đói giảm nghèo hợp lý để làm giảm khoảng cách xã hội và hướng đến phát triển bền
vững.
Nông hộ của nông hộ giữa các nhóm dân tộc có sự khác biệt lớn. Các hộ đồng bào Kinh có thu
nhập cao nhất (42,36 triệu) và thấp nhất là các hộ thuộc dân tộc Dao thiểu số (25,44 triệu). Ngoài
ra, tốc độ tăng trưởng thu nhập của các hộ người Kinh cao hơn, và tương đối đồng điều giữa các
hoạt đông sinh kế khác. Tuy nhiên, thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hộ thuộc các cộng đồng
dân tộc khác nhau có một điểm chung đó là nguồn thu nhập từ trồng cây lâu năm (đặc biệt là cây
điều) đóng góp gần hoặc hơn 50% thu nhập của nông hộ. Sự tác động mạnh mẽ của thị trường thế
giới về hạt điều trong hơn 20 năm qua, nông hộ chuyển một phần lớn đất đồi vốn dĩ dùng để canh
tác nương rẫy hoặc lấn chiếm đất lâm nghiệp để phát triển điều mại. Sự phát triển điều ồ ạt trên
vùng đất dốc và xâm phạm đất lâm nghiệp thuộc vườn quốc gia là một thác thức lớn đối với môi
trường: Suy thoái đất đai do xói mòn, suy giảm thảm thực vật và thâm canh; suy giảm đa dạng
sinh học do thu hẹp đất rừng và canh tác độc canh; gây bồi lắng sông hồ hạ lưu sông Đồng Nai.
Giải pháp phát triển sinh kế và bảo tồn tài nguyên bền vững
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
151
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Dựa trên kết quả điều tra nông hộ và giải pháp phát triển dựa trên quan điểm cộng đồng, để cải
thiện sinh kế của nông hộ, cần phải thực hiện một số giải pháp cơ bản: (1) Sớm hoàn thiện cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân, đặc biệt các khu vực trồng cây lâu năm của họ
đang bị quản lý bỡi các lâm trường và các chủ rừng; (2) Nhà nước nên giao đất giao rừng cho hộ
nông dân chăm sóc, quản lý và hưởng dụng, hộ nông dân được phép khai thác các sản phẩm phi
gỗ từ rừng quốc gia, được phép sản xuất nông lâm kết hợp trong rừng được giao; (3) Tăng cường
công tác khuyến nông và cung cấp các kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ giống và vật
tư nông nghiệp, hỗ trợ mua vật tư nông nghiệp và bán sản phẩm; (4) Cung cấp tín dụng ưu đãi,
phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển y tế và giáo dục, hỗ trợ đào tạo nghề. Việc thực hiện đồng bộ
các giải pháp này sẽ thúc đẩy phát triển và đa dạng sinh kế, gắn kết giữa bảo tồn và an toàn sinh
kế cho nông hộ trong khu vực vùng đệm của VQG.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình và
cá nhân theo Nghị định 64/NĐ-CP tại địa bàn nghiên cứu diễn ra chậm và vẫn chưa hoàn thành
do sự kết hợp nhiều nguyên nhân khác nhau. Ngoài ra trong thời gia qua có nhiều dự án đầu tư để
phát triển sinh kế bền vững và bảo tồn tài nguyên trên địa ban xã. Tuy nhiên , hiệu quả của các dự
án này không cao và có đời sống ngắn do tổ chức thực hiện không tốt, thiếu nhất quán, thiếu sự
hợp tác và tham gia thực sự từ phía người dân.
Nguồn lực sinh kế của nông hộ chủ yếu là lao động và đất đai, và đóng vai trò quyết đến sinh
kế nông hộ. Xét về mặt số lượng, các nông hộ trong vùng nghiên cứu sở hữu hai loại nguồn lực
này rất dồi dào. Nhưng từ phương diện sử dụng, đất đai có xấu, dộc dốc lớn khó canh tác và dễ
bị xói mòn; lao động có trình độ học vấn thấp và phần lớn không qua đào tạo. Phần lớn nông hộ
thiếu vốn sản xuất, công cụ sản xuất thô sơ, và nguồn lực xã hội hạn chế. Tiếp cận nguồn lực sản
xuất khó khăn do xa thị trường. Việc thực thi các chính sách đổi mới kinh tế, đất đai, quản lý tài
nguyên và mở cửa thị trường tác động một cách mạnh mẽ đến sở hữu và tiếp cận nguồn lực sản
xuất của nông hộ, đặc biệt là đất đai và tín dụng, nguồn đầu vào sản xuất. Tuy nhiên, sự khác biệt
nguồn lực sản xuất ban đầu của nông hộ giữa các nhóm kinh tế và dân tộc khác nhau tác động
mạnh mẽ đến việc tiếp cận nguồn lực sản xuất của họ.
Sự thay đổi cấu trúc và sở hữu các loại nguồn lực sản xuất, áp lực của thị trường, các cơ hội
sinh kế ngoài nông nghiệp do quá trình phát triển mang lại dưới sự tác động của các chính sách
phát triển và bảo tồn tài nguyên, các nông hộ có xu hướng tái phân bố nguồn lực sản xuất để đa
dạng hoá sinh kế của họ theo hướng phát triển nông nghiệp thương mại, và các sinh kế ngoài
nông nghiệp, bên cạnh đó vẫn tiếp tục di trì các hoạt động khai thác lâm sản, đặc biệt các loại lâm
sản lâm sản ngoài gỗ với mục đích thương mại. Sự thay đổi mô hình sinh kế theo hướng đa dạng
hoá và thâm canh hoá tác động tích cực đến tăng trưởng thu nhập của nông hộ. Tuy nhiên, do sự
khác biệt về nguồn lực ban đầu và khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất giữa các nông hộ,
làm cho họ phát triển các mô hình sinh kế khác nhau và tốc độ tăng trưởng thu nhập khác nhau.
Các hộ có nguồn lực sản xuất dồi dào và tiếp cập tốt hơn các nguồn lực sản xuất thường tập trung
vào nông nghiệp thâm canh và các hoạt động phi nông nghiệp có mức thâm dụng vốn cao hơn và
trình độ học vấn tốt hơn, chính vì thế thu nhập của họ cũng tăng trưởng nhanh hơn. Ngược lại các
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
152
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
hộ nghèo và dân tộc thiểu số có xu hướng phát triển mô hình sinh kế bán thị trường dựa vào thâm
dụng tài nguyên và sức lao động chân tay. Quá trình chuyển dịch sinh kế theo hướng thị trường,
tuy nhiên, trở nên thách thức lớn cho môi trường và bảo tồn tài nguyên và đa dạng sinh học, vì
đây là một vùng sinh thái nhạy cảm và dễ bị tác động.
Trong quá trình phát triển sinh kế nông hộ gặp rất nhiều khó khăn như tiếp cận nguồn lực sản
xuất, đặc biệt là vốn, thị trường, và khoa học công nghệ. Chính vì thế để đẩy nhanh quá trình đa
dạng hoá sinh kế và tăng thu nhập và giảm thiểu mức phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Các chính
sách và chương trình phát triển cần tập trung cải thiện an toàn hưởng dụng đất đai và tài nguyên,
nâng cao năng sản xuất cho nông hộ, đặc biệt là các nông hộ nghèo và dân tộc thiểu số. Hướng
nông dân phát triển các mô hình sinh kế xanh, sử dụng tài nguyên hợp lý và giảm thiểu thâm
dụng tài nguyên thiên nhiên.
REFERENCES
CSFU, CMU and FORSPA, 2000. “Imapct of Market Changes on Land Use System: Response of
Communities and Farmers with regard to Forest and Tree Management”. Collaborative
Project’s Report of Household Survey in Six Villages in Hilly Area of Central Human
Province, China.
Dorward, A. and N. Poole, 2004. “Markets, Risks, Assets and Opportunities: The Links between
the Functioning of Markets and the Livelihoods of the Poor”.
Available at: <http://www.wye.ac.uk/Agecon/ADU/index.html>.
Feder, G.; Onchan, T.; Chalamwong, Y. and Hongladaron, C. (1988). Land Policy and Farm
Productivity in Thailand. Baltimore: Johns Hopkins University Press.
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thuỵ, và Lê Mộng Triết, 2009. “Vai Trò Của Cải Cách Chính Sách
Đất Đai Đối Với Sinh Kế và Môi Trường”. Lê Văn An và Hồ Đắc Thái Hoàng (Chủ biên):
Thị Trường, Quản lý Tài Nguyên và Dịch Bệnh ở Vùng Cao Việt Nam, Tập 2. Huế: Nhà
Xuất Bản Thuận Hoá, Trang 152 - 181.
Maxwell, D. and K. Wiebe ,1998.“Land Tenure and Food Security: A Review of Concepts,
Evidence, and Methods”. Research Paper 129, Land Tenure Center, the University of
Wisconsin, Madison, USA, January.
Thongmanivong, S. And Y. Fujita, 2006. “Recent Land Use and Livelihood Transitions in
Northern Laos”. Mountain Research and Development Vol. 26, No 3, p. 237 -244.
Tien, T. T. and Vien, H. T., 2009. “Women’s Role in Agricultural Production and Food Security
in The Mekong Delta: Current Status and Perspectives”. Paper presented at Conference on
“Agriculture, Environment, Food Security, and Cooperation of Countries in Asian Sub-
region”, 25th – 27th May, 2009, Grand Millennium Skhumvit, Asoke, Bangkok, Thailand.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
153
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18th– 20th June 2010
Trần Đức Luân và Nguyễn Ngọc Thuỳ, 2009. “Sử Dụng Đất và Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến
Thu Nhập Của Người M’Nông Tại Xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, Tỉnh Bình Phước”. Lê
Văn An và Hồ Đắc Thái Hoàng (chủ biên): Thị trường, Quản Lý Tài Nguyên và Dịch Bệnh
ở Vùng Cao Việt Nam, Tập 2. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hoá, Trang 264 - 288.
Vien, H. T., 2009. “Land Reform, Land Use and Rural Environment: A Case of Vietnam”. Paper
presented at International Conference on Sustainability Scince – Asia, 23rd – 24th
November, 2009, AIT – Bangkok, Thailand.
Vien, H. T., 2009. Land Reform, National Park and Local Livelihoods: From Theory to
Practice. Germany: VDM Publishing House Ltd. Press, 168p.
Vien, H. T., 2007. Land Reform and Upland Livelihoods. Aachen - Germany: Shaker Verlag
GmbH Press, 364p.
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
154
Bạn đang xem tài liệu "Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
sinh_ke_nong_ho_trong_qua_trinh_chuyen_doi_nghien_cuu_tai_mo.pdf

