Hiện trạng quản lý tại nguồn tro, xỉ từ các hệ thống lò đốt nhiên liệu trong khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
MANAGEMENT AT SOURCE OF THE BOTTOM AND FLY ASH  
FROM THERMAL GENERATION FACILITIES IN THE INDUSTRIAL  
AND EXPORT PROCESSING ZONES IN HO CHI MINH CITY  
Lam Truc Thanh, Ho Thi Thanh Hien*, Le Nguyen Quang Thinh,  
Luu Thoai Man, Le Thi Kim Oanh  
Van Lang University  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Thermal generation facilities (TGFs) play a vital role in supplying heat to  
industrial manufacturing processes. In addition to fuel consumption, the  
majority of which are fossil fuels, TGFs produce bottom and fly ash  
(BFA) that could be utilized. The objective of this study is to assess the  
production and management at source of the BFA to propose appropriate  
management solutions. Based on HEPZA’s database, a questionnaire  
survey was conducted among 179 enterprises. Data was analyzed using  
descriptive statistics. The result revealed a total BFA production of  
1,606.22 tons per month. At most enterprises, the bottom ash and fly ash  
were not separated. 33 companies involved in the collection,  
transportation, treatment, and recycling of BFA at 61 enterprises,  
showing a dispersed BFA handling system that may disadvantage the  
control of BFA pathways for reuse. This study proposed solutions to  
enhance BFA utilization via managing the BFA at source as well as the  
collection, transportation, treatment, and recycling facilities.  
Received:  
Revised:  
24/4/2021  
25/5/2021  
01/6/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Fly ash  
Bottom ash  
Thermal generation facilities  
Management at source  
Recycling  
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TẠI NGUỒN TRO, XỈ TỪ CÁC HỆ THỐNG  
LÒ ĐỐT NHIÊN LIỆU TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT  
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Lâm Trúc Thanh, Hồ Thị Thanh Hiền*, Lê Nguyễn Quang Thịnh,  
Lưu Thoại Mẫn, Lê Thị Kim Oanh  
Trường Đại học Văn Lang  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 24/4/2021  
Ngày hoàn thiện: 25/5/2021  
Ngày đăng: 01/6/2021  
TÓM TẮT  
Lò đốt nhiên liệu đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nhiệt  
năng cho các quá trình sản xuất công nghiệp. Bên cạnh việc tiêu thụ  
nhiên liệu, đa phần hiện nay là nhiên liệu hóa thạch, các hệ thống lò  
đốt còn phát sinh tro đáy (xỉ) và tro bay có khả năng tận dụng. Mục  
tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiện trạng phát sinh và quản lý  
tro, xỉ tại nguồn để đề xuất phương án quản lý phù hợp. Dựa trên dữ  
liệu của HEPZA, nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra khảo sát bằng  
phiếu câu hỏi tại 179 cơ sở sản xuất. Dữ liệu kết quả khảo sát được  
phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả. Kết quả cho thấy tổng  
khối lượng tro xỉ phát sinh khoảng 1.606,22 tấn/tháng. Phần lớn tro và  
xỉ được thu gom chung. 33 đơn vị tham gia công tác thu gom, vận  
chuyển, xử lý và tái chế tro xỉ tại 61 cơ sở sản xuất, cho thấy nguồn lực  
này rất phân tán, khó kiểm soát việc thu hồi triệt để tro, xỉ để tái chế và  
tái sử dụng. Bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc tận  
dụng tro xỉ thông qua quản lý tại nguồn và kiểm soát các đơn vị thu  
gom, xử lý và tái chế.  
TỪ KHÓA  
Tro bay  
Tro đáy (xỉ)  
Lò đốt nhiên liệu  
Quản lý tại nguồn  
Tái chế  
* Corresponding author. Email: [email protected]n  
195  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Để sản xuất điện năng và nhiệt năng, các hệ thống khí hóa và đốt nhiên liệu được sử dụng phổ  
biến nhất [1]-[3]. Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, lò đốt nhiên liệu được sử dụng để cung  
cấp nhiệt năng cho các quá trình sản xuất. Một số ngành nghề điển hình luôn sử dụng lò đốt bao  
gồm: dệt nhuộm, giấy, lương thực – thực phẩm, thức ăn gia súc, thủy sản, gỗ. Hình thức cung cấp  
nhiệt lượng có thể là gián tiếp hoặc trực tiếp. Phần lớn các lò đốt cấp nhiệt gián tiếp thông qua  
hơi nước (lò hơi) và dầu truyền nhiệt (lò dầu tải nhiệt). Nhiệt lượng từ hơi nước và dầu truyền  
nhiệt sẽ được cung cấp cho các quá trình sản xuất. Ngoài ra cũng có một số lò đốt sử dụng nguồn  
nhiệt trực tiếp của khí thải từ quá trình đốt.  
Quá trình đốt nhiên liệu rắn sinh ra các sản phẩm cháy bao gồm: tro đáy (còn gọi là xỉ) là các  
hạt thô, to thu được ở đáy lò đốt; tro bay là các hạt tro mịn bay theo dòng khí thải và được thu lại  
tại các thiết bị xử lý khí thải [4]. Tro gồm hỗn hợp các thành phần trơ không cháy của nhiên liệu  
và thành phần carbon chưa cháy hết. Xỉ được hình thành khi tro bị nóng chảy kết thành tảng có  
kích thước lớn rơi xuống đáy lò. Tro và xỉ chứa đến 30 nguyên tố hóa học khác nhau, tồn tại chủ  
yếu ở dạng oxit. SiO2, Al2O3, CaO, MgO là thành phần chủ yếu và quyết định các tính chất cơ  
bản của tro, xỉ. FeO, TiO2, Cr2O3, V2O5, MnO, và B2O3 thường có hàm lượng rất thấp. Thành  
phần CaO tự do, MgO tự do, Na2O, K2O, SO3 và carbon chưa cháy của tro cần lưu ý khi tái sử  
dụng vì chúng làm thay đổi thể tích sản phẩm thuỷ hoá chất kết dính trong quá trình rắn chắc  
hoặc gây ăn mòn cốt thép trong kết cấu bê tông. Tro xỉ sinh ra từ quá trình đốt sinh khối có đặc  
trưng là hàm lượng kiềm, clo, lưu huỳnh, và silic cao, cùng với hàm lượng vết của các kim loại  
nặng [5]-[7]. Do đó, quá trình đốt nhiên liệu đối mặt với những thách thức lớn như đóng xỉ và  
cặn bẩn bên trong lò [8], [9], kết tụ gây ăn mòn hệ thống, và quản lý tro, xỉ [5]. Quản lý tro xỉ  
không phù hợp dẫn đến việc rửa trôi các chất gây ô nhiễm ra môi trường và có thể gây tác động  
đáng kể đến môi trường đất và quá trình phục hồi dinh dưỡng của đất [10].  
Việc thu hồi và tái sử dụng tro xỉ trong xây dựng đường giao thông, làm phụ gia trong sản  
xuất xi măng, bê tông và vật liệu xây dựng được khuyến khích tại các quốc gia trên thế giới cũng  
như Việt Nam. Tái sử dụng tro xỉ đạt chất lượng làm phụ gia xi măng giúp giảm chi phí sản xuất  
xi măng, bê tông sử dụng tro bay sẽ giảm lượng xi măng và tăng tính bền chắc của công trình.  
Ngoài ra, tro xỉ còn được sử dụng hiệu quả làm chất liên kết, gia cố các công trình giao thông,  
sản xuất gạch không nung, và bê tông nhẹ. Tuy nhiên tại Việt Nam, việc tiêu thụ, tái sử dụng tro  
xỉ còn chậm so với yêu cầu do các vấn đề về chất lượng, liên quan đến công tác quản lý tro xỉ tại  
nguồn phát sinh [11].  
Theo thống kê của Phòng Môi trường - HEPZA (2018) [12], hiện có khoảng hơn 200 lò đốt  
nhiên liệu đang hoạt động trong 17 khu công nghiệp/ khu chế xuất (KCN/KCX) trên địa bàn  
thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Theo đó, nhiên liệu sử dụng gồm củi (34%), thanh/viên  
nhiên liệu (26%), than đá (25%), các loại sinh khối khác như trấu, mạt cưa, dăm bào, vỏ hạt điều  
(15%). Công suất các lò đốt sử dụng chủ yếu là vừa và nhỏ, thậm chí do đặc thù, một số cơ sở  
sản xuất sử dụng lò đốt nhiên liệu với công suất rất nhỏ. Các nguồn phát thải tro xỉ này phân tán  
nhỏ lẻ, không được quản lý chặt chẽ cả về khối lượng phát sinh lẫn phương pháp quản lý tại  
nguồn, do đó khó có thể xác định hiệu quả thu hồi tái sử dụng tro xỉ.  
Xuất phát từ thực tế trên, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiện trạng phát sinh và  
quản lý tro xỉ tại nguồn từ hoạt động sản xuất công nghiệp trong các KCN/KCX trên địa bàn  
TP.HCM. Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở đề xuất phương án quản lý tại nguồn phù hợp cho  
mục đích thu hồi, tái sử dụng tro xỉ, góp phần tận dụng tài nguyên và phát triển bền vững.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Phương pháp điều tra khảo sát  
Danh mục cơ sở sản xuất trong các KCX/KCN phát sinh tro xỉ được cung cấp bởi HEPZA  
(2018) [12]. Trên cơ sở danh sách này, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2020, nhóm nghiên cứu đã  
196  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
thực hiện khảo sát 179 cơ sở tại 16 KCN/KCX của TP.HCM. Quá trình thu thập thông tin sử  
dụng công cụ phiếu khảo sát. Quá trình này gồm hai giai đoạn: giai đoạn 1 - chuẩn bị phiếu khảo  
sát và điều tra thử trên 10 đối tượng; giai đoạn 2 - sau khi điều tra thử, phiếu khảo sát được hiệu  
chỉnh và gửi cho tất cả các đối tượng khảo sát. Nội dung thông tin chính cần thu thập được trình  
bày tại Bảng 1. Phiếu khảo sát được gửi đi và thu lại thông qua nhân viên của Ban quản lý hạ  
tầng Khu công nghiệp và đường bưu điện. Một số ít phiếu khảo sát (khoảng 10%) được gửi và  
thu lại trực tiếp bởi thành viên của nhóm nghiên cứu.  
Bảng 1. Nội dung điều tra khảo sát  
Thông tin chung  
Thông tin chi tiết  
- Tên doanh nghiệp  
- Địa chỉ doanh nghiệp  
- Ngành nghề sản xuất  
- Số lượng lò đốt nhiên liệu  
- Loại nhiên liệu sử dụng  
Thông tin chung về cơ sở  
Nhiên liệu sử dụng  
- Khối lượng nhiên liệu sử dụng (tấn/tháng)  
- Tổng khối lượng tro, xỉ phát sinh (tấn/tháng)  
- Các vị trí phát sinh tro, xỉ (tro xỉ đáy lò/ tro bay thu từ cyclon/ tro bay thu từ túi  
lọc bụi/ tro bay thu từ tháp lọc ướt)  
- Phương pháp thu gom tro, xỉ (thu gom chung/ thu gom riêng)  
- Phương pháp lưu chứa tro, xỉ (lưu chứa trong bao & dung tích/ lưu chứa trong  
Phát sinh tro xỉ và thùng chứa & dung tích)  
phương pháp quản lý - Kho chứa tro, xỉ (có/ không có mái che & rãnh thoát nước)  
- Tần suất thu gom tro xỉ (cao: > 10 lần/tháng/ trung bình: 1 - 10 lần/tháng/ thấp:  
< 1 lần/tháng)  
- Mục đích chuyển giao tro xỉ (làm vật liệu xây dựng/ làm phân bón/ chôn lấp/  
san lấp/ không rõ mục đích)  
- Đơn vị thu gom xử lý/ tái chế  
2.2. Phương pháp phân tích số liệu  
Số liệu được tổng hợp từ phiếu khảo sát, sau đó phân tích thống kê mô tả sử dụng phần mềm  
Microsoft Excel.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Phân bố cơ sở sản xuất sử dụng lò đốt nhiên liệu  
3.1.1. Phân bố cơ sở sản xuất theo khu công nghiệp  
Theo kết quả khảo sát, 138 cơ sở trên tổng số 179 cơ sở khảo sát kê khai có sử dụng lò đốt nhiên  
liệu phục vụ sản xuất với tổng số lượng là 149 lò. Các KCN Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc, Tân Bình,  
Tân Tạo, Tây Bắc Củ Chi, Hiệp Phước và Tân Phú Trung là những KCN có số lượng lò đốt nhiên  
liệu nhiều nhất. Theo đó, số lượng lò đốt phân bố tại các KCN nêu trên lần lượt là: 26; 23; 21; 16;  
14; 12 và 11 lò. Chính vì có số lượng lò đốt nhiên liệu tập trung nhiều trong KCN, những KCN này  
cần chú trọng công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là kiểm soát chất lượng khí thải công nghiệp và  
hoạt động lưu giữ tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý tro xỉ từ quá trình vận hành lò đốt.  
3.1.2. Phân bố cơ sở sản xuất theo ngành nghề  
Kết quả khảo sát cho thấy các ngành công nghiệp chủ đạo trong KCN/KCX trên địa bàn  
TP.HCM là dệt nhuộm (57/179 cơ sở, chiếm 31,8%), tiếp theo là các ngành chế biến thực phẩm  
(32/179 cơ sở, chiếm 17,9%), chế biến thủy sản (15/179 cơ sở, chiếm 8,4%), sản xuất nước giải  
khát (13/179 cơ sở, chiếm 7,3%), và sản xuất giấy, giấy tái chế, bao bì giấy (12/179 cơ sở, chiếm  
6,7%) (Bảng 2 và Bảng 3).  
131 cơ sở trên tổng số 179 cơ sở khảo sát có sử dụng lò đốt nhiên liệu đồng thời cung cấp thông  
tin về ngành nghề sản xuất và nhiên liệu sử dụng. Trong các ngành nghề sản xuất chủ đạo của  
197  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
TP.HCM, số cơ sở sử dụng lò đốt nhiên liệu chủ yếu thuộc ngành chế biến thực phẩm (15/131 cơ sở,  
chiếm 11,5%) và ngành sản xuất nước giải khát (11/131 cơ sở, chiếm 8,4%). Tại nhóm ngành nghề  
khác, số lượng cơ sở sử dụng lò đốt lớn nhất thuộc ngành dệt nhuộm với 65/131 cơ sở, chiếm 49,6%.  
 ảng 2. Phân bố cơ sở sản xuất theo các ngành nghề chủ đạo  
Ngành nghề  
Chế biến thủy sản  
Số cơ sở  
%
8,4  
2,2  
17,9  
7,3  
1,1  
6,7  
3,9  
52,5  
100  
Số cơ sở sử dụng lò đốt nhiên liệu  
%
2,3  
1,5  
11,5  
8,4  
1,5  
4,6  
2,3  
67,9  
100  
15  
4
32  
13  
2
12  
7
94  
179  
3
2
15  
11  
2
Chế biến nông sản  
Chế biến thực phẩm  
Sản xuất nước giải khát  
Chế biến thức ăn gia súc  
Giấy, giấy tái chế, bao bì giấy  
In bao bì  
6
3
Ngành nghề khác*  
Tổng cộng  
89  
131**  
(* Chi tiết tại Bảng 3, ** Số cơ sở sử dụng lò đốt cung cấp thông tin về nhiên liệu sử dụng)  
 ảng 3. Phân bố cơ sở sản xuất trong nhóm ngành nghề khác  
Ngành nghề khác  
Dệt nhuộm, may mặc xuất khẩu  
Sản xuất nhãn hiệu, logo  
Dược phẩm, băng gạt y tế, khẩu trang  
Thuộc da, giày dép  
Trục chà lúa  
Sản xuất mỹ phẩm  
Sản xuất, chế biến cao su hỗn hợp  
Sản xuất thuốc lá  
Sản xuất bao bì, nhựa  
Giặt là công nghiệp  
Sản xuất cọc bê tông, xi măng  
Cơ khí, điện tử  
Sản xuất văn phòng phẩm, đồ nội thất  
Chế biến gỗ  
Xử lý nước cấp sinh hoạt, hơi nước bão hòa  
Tổng cộng  
Số cơ sở  
%
60,6  
2,1  
3,2  
5,3  
1,1  
1,1  
3,2  
2,1  
2,1  
6,4  
2,1  
3,2  
3,2  
1,1  
3,2  
100  
Số cơ sở sử dụng lò đốt nhiên liệu  
%
73,0  
1,1  
3,4  
3,4  
1,1  
0,0  
2,2  
1,1  
1,1  
6,7  
1,1  
1,1  
2,2  
1,1  
1,1  
100  
57  
2
3
5
1
1
3
2
2
6
2
3
3
1
3
94  
65  
1
3
3
1
0
2
1
1
6
1
1
2
1
1
89  
3.2. Hiện trạng sử dụng nhiên liệu và phát sinh tro xỉ  
3.2.1. Khối lượng nhiên liệu sử dụng  
Theo thông tin thống kê từ 131 cơ sở sản xuất, các loại nhiên liệu được sử dụng cho lò đốt  
nhiên liệu gồm: than đá, dầu DO, dầu FO, khí thiên nhiên, dầu sinh học, củi, trấu, vỏ điều, mùn  
cưa, gỗ vụn, than bùn in đỏ, và điện. Trong số các loại nhiên liệu được sử dụng, than đá, dầu DO,  
vỏ điều, củi, mùn cưa là các loại nhiên liệu được các cơ sở sử dụng phổ biến nhất với tỷ lệ lần  
lượt là 22,1%, 18,3%, 16,8%, 14,5%, và 9,9% cơ sở (Bảng 4). So sánh với tỷ lệ nhiên liệu sử  
dụng tại các cơ sở trong KCN được công bố bởi Thắng (2018) [13] (củi 61,3%; than 1,5%,  
biomass 19,0%, và dầu DO/FO 19,5%) cho thấy số cơ sở sử dụng củi giảm và biomass tăng trong  
ba năm vừa qua; trong khi đó tỷ lệ cơ sở sử dụng DO khá ổn định. Theo chia sẻ từ một số nhân  
viên vận hành, giá nhiên liệu là yếu tố quyết định khiến cơ sở phải tìm kiếm giải pháp nhiên liệu  
thay thế nhằm giảm chi phí vận hành lò đốt công nghiệp.  
Tổng mức sử dụng nhiên liệu của 131 cơ sở đã cung cấp thông tin là 129.028 tấn/tháng. Khối  
lượng một số loại nhiên liệu phổ biến là: dầu DO: 110.507 tấn/tháng, chiếm 85,65% tổng lượng  
nhiên liệu sử dụng cho lò đốt nhiên liệu trong các KCN/KCX trên địa bàn TP.HCM; than đá:  
11.757 tấn/tháng, chiếm 9,11%; mùn cưa: 2.025 tấn/tháng, chiếm 1,57%; củi: 2.016 tấn/tháng,  
chiếm 1,56%; và vỏ điều: 1.200 tấn/tháng, chiếm 0,93%.  
198  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
 ảng 4. Khối lượng nhiên liệu sử dụng cho lò đốt nhiên liệu  
Nhiên liệu  
Số lượng cơ sở  
%
22,1  
18,3  
4,6  
1,5  
0,8  
14,5  
5,3  
16,8  
9,9  
0,8  
1,5  
Khối lượng (tấn/tháng)  
%
9,11  
85,65  
0,06  
0,01  
0,00  
1,56  
0,65  
0,93  
1,57  
0,001  
0,31  
0,16  
-
Than đá  
Dầu DO  
Dầu FO  
29  
24  
6
2
1
19  
7
22  
13  
1
11.757  
110.507  
72  
Khí thiên nhiên  
Dầu sinh học  
Củi  
8
0
2.016  
842  
1.200  
2.025  
2
400  
200  
-
Trấu  
Vỏ điều  
Mùn cưa  
Gỗ vụn  
Than bùn in đỏ  
Biomass  
Điện  
2
2
3
1,5  
2,3  
Tổng cộng  
131  
100  
129.028  
100  
3.2.2. Khối lượng tro xỉ phát sinh  
Trong số 131 cơ sở đã khảo sát có thông tin về nhiên liệu sử dụng cho lò đốt, chỉ có 61 cơ sở  
(chiếm 46,56%) cung cấp cả hai loại thông tin về khối lượng nhiên liệu sử dụng và khối lượng tro  
xỉ phát sinh tương ứng. Theo đó, 61 cơ sở (tương ứng với 63 lò đốt) tiêu thụ khối lượng nhiên  
liệu là 18.481 tấn/tháng, đồng thời phát sinh 1.606 tấn tro xỉ/tháng (Bảng 5). Khối lượng một số  
loại nhiên liệu được sử dụng phổ biến là: than đá: 11.717 tấn/tháng, phát sinh 1.244,60 tấn tro  
xỉ/tháng; mùn cưa: 2.070 tấn/tháng, phát sinh 115,37 tấn tro xỉ/tháng; củi: 1.960 tấn/tháng, phát  
sinh 95,71 tấn tro xỉ/tháng; vỏ điều: 1.306 tấn/tháng, phát sinh 12,13 tấn tro xỉ/tháng; và trấu:  
771,5 tấn/tháng, phát sinh 130,76 tấn tro xỉ/tháng tương ứng.  
Theo quan sát thực tế từ quá trình khảo sát, các lò đốt sử dụng nhiên liệu dầu DO không phát  
sinh tro xỉ. Khối lượng nhiên liệu sử dụng tại 61 cơ sở này chiếm đến 99,8% tổng khối lượng  
nhiên liệu trình bày tại Bảng 4 sau khi loại trừ dầu DO. Do đó, khối lượng tro xỉ tính toán được  
xấp xỉ lượng tro xỉ phát sinh từ các cơ sở trong KCN/KCX đã khảo sát trên địa bàn TP.HCM.  
 ảng 5. Khối lượng nhiên liệu sử dụng và tro xỉ phát sinh tương ứng  
Khối lượng nhiên liệu sử dụng tương ứng  
Tổng khối lượng tro xỉ  
Loại nhiên liệu  
(tấn/tháng)  
11.717  
55  
(tấn tro xỉ/tháng)  
1.244,60  
1,00  
Than đá  
Dầu FO  
Củi  
Trấu  
Vỏ điều  
Mùn cưa  
Gỗ vụn  
1.960  
771,5  
1.306  
2.070  
1,5  
95,71  
130,76  
12,13  
115,37  
0,10  
Than bùn in đỏ  
Sinh khối khác  
Tổng cộng  
400  
4,04  
200  
2,50  
18.481*  
1.606,22*  
(* Số liệu thống kê từ 61 cơ sở)  
3.3. Hiện trạng quản lý tro xỉ tại nguồn  
Các lò đốt nhiên liệu đã khảo sát (ngoại trừ khí thiên nhiên, DO, dầu sinh học) đều phát thải tro  
đáy (xỉ). 46 cơ sở cung cấp thông tin về hiện trạng phát thải tro bay. Theo đó, tro bay được thu hồi  
từ các thiết bị xử lý khí thải như: cyclon, lọc túi vải, và lọc ướt. Cyclon và lọc ướt là hai loại thiết bị  
thu hồi tro bay phổ biến nhất, tương ứng tỷ lệ 42,9% và 52,8% (Hình 1).  
Thông tin về phương pháp thu gom tro xỉ tại nguồn được cung cấp bởi 64 cơ sở. Phần lớn các  
cơ sở thu gom chung tro bay và tro đáy (xỉ) (chiếm 71,9%) và chỉ có 28,1% cơ sở thu gom tách  
199  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
riêng tro và xỉ (Hình 2). Theo quan sát được, tro bay thường có thành phần rất đồng nhất, nhẹ và  
khô, trong khi đó tro đáy từ các loại nhiên liệu khác nhau có thành phần rất khác nhau, thô và  
nặng, còn tro lắng từ tháp lọc ướt có độ ẩm rất cao và chứa hóa chất do thiết bị này sử dụng dung  
dịch hóa chất để xử lý các khí acid trong khói thải. Do thành phần, tính chất tro bay và tro đáy rất  
khác nhau, việc thu gom chung những loại này sẽ gây trở ngại cho hoạt động tái chế tro xỉ.  
Về phương tiện lưu chứa tro xỉ, số lượng cơ sở cung cấp thông tin là 54 cơ sở. Đa số các cơ sở  
lưu chứa tro xỉ trong bao bì (chiếm 94,4%), loại bao được sử dụng chủ yếu là bao 25 – 50kg,  
ngoài ra còn có các loại bao 10 kg, 1.000 kg,… Một số ít cơ sở lưu chứa trực tiếp vào thùng chứa  
(chiếm 5,6%) (Hình 3).  
Hình 1. Thiết bị thu hồi tro bay  
Hình 2. Phương pháp thu gom  
Hình 3. Phương tiện lưu chứa  
Về kho chứa tro xỉ, chỉ có 43 – 46 cơ sở sản xuất cung cấp thông tin. 60,5% cơ sở có hố thu  
nước rỉ, và 95,7% cơ sở có mái che. Diện tích kho chứa dao động trong khoảng 2 – 180 m2, phụ  
thuộc vào diện tích mỗi cơ sở sản xuất tại các KCN/KCX (Hình 4).  
Trong số 51 cơ sở cung cấp thông tin về tần suất thu gom tro xỉ, khoảng 2/3 số cơ sở có tần suất  
thu gom trung bình, dao động từ 1 lần/tháng đến 10 lần/tháng, chiếm 62,7%. Còn lại là thu gom tro  
xỉ với tần suất thấp dưới 1 lần/tháng (trên 1 tháng mới thu gom 1 lần), chiếm 35,3% (Hình 5).  
Hình 5. Tần suất thu gom  
Hình 4. Kho lưu chứa tro xỉ  
Đặc điểm của các cơ sở sản xuất, phương pháp quản lý và phương tiện lưu chứa tại nguồn  
cũng ảnh hưởng đến trọng lượng ướt của tro, xỉ. Tro xỉ được lưu trữ trong các kho chứa không có  
mái che hoặc hố thu nước rỉ có trọng lượng lớn do độ ẩm cao hơn so với tro xỉ được thu hồi/ bảo  
quản tại các cơ sở khô ráo.  
3.4. Phương pháp tái chế, xử lý tro xỉ  
Thông tin về hình thức chuyển giao tro xỉ được cung cấp bởi 61 cơ sở, trong đó có 50% cơ sở  
biết rõ thông tin về phương pháp tái chế, xử lý tại đơn vị thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất  
thải. Tro xỉ được chuyển giao làm phân bón chiếm 18,0%, chuyển giao làm vật liệu xây dựng  
(VLXD) chiếm 11,5%, chuyển giao để san lấp chiếm 4,9%, và chuyển giao để chôn lấp chiếm  
14,8%. Như vậy, có khoảng 34,4% cơ sở chuyển giao tro xỉ nhằm mục đích tái chế và tái sử dụng  
(Hình 6). Còn lại 50,8% số cơ sở sản xuất chuyển giao tro xỉ và không rõ về phương pháp xử lý.  
200  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
11.5%  
Chuyển giao làm VLXD  
Chuyển giao làm phân bón  
Chuyển giao chôn lấp  
18.0%  
50.8%  
Chuyển giao san lấp  
Chuyển giao & không rõ PPXL  
14.8%  
4.9%  
Hình 6. Phương pháp chuyển giao xử lý, tái chế tro xỉ  
Những cơ sở này cũng cung cấp thông tin về đơn vị thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý tro  
xỉ. Có tổng cộng 33 đơn vị tham gia công tác thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý tro xỉ tại các  
cơ sở sản xuất trong KCN/KCX. Trong đó, 19/33 đơn vị (chiếm 57,6%) đang hoạt động trên địa  
bàn TP.HCM, 10/33 đơn vị (chiếm 30,3%) hoạt động ở các tỉnh thành lân cận (Tây Ninh, Long  
An, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu), và 4/33 đơn vị (chiếm 12,1%)  
không có thông tin về khu vực hoạt động. Nguồn lực này rất phân tán, gây khó khăn cho công tác  
quản lý và kiểm soát việc thu hồi triệt để tro, xỉ nhằm tái chế và tái sử dụng hợp lý.  
4. Kết luận và kiến nghị  
4.1. Kết luận  
Kết quả khảo sát lò đốt nhiên liệu từ 179 cơ sở với đa dạng ngành nghề cung cấp tổng quan về  
nhu cầu sử dụng nhiên liệu, lượng tro xỉ phát sinh, và hiện trạng quản lý tro xỉ tại nguồn tại 16  
KCN/KCX trên địa bàn TP.HCM. Theo đó, dệt nhuộm, chế biến thực phẩm, và sản xuất nước  
giải khát là các ngành sử dụng lò đốt nhiên liệu nhiều nhất. Tổng nhu cầu sử dụng nhiên liệu là  
129.028 tấn/tháng và tổng khối lượng tro xỉ phát sinh tương ứng khoảng 1.606,22 tấn/tháng.  
Trong các loại nhiên liệu, dầu DO chiếm đa số với 110.507 tấn/tháng, tuy nhiên lò đốt sử dụng  
dầu DO không phát thải tro xỉ. Than đá là loại nhiên liệu được sử dụng nhiều thứ hai với khối  
lượng 11.757 tấn/tháng. Lượng tro xỉ phát sinh khoảng 1.244,60 tấn tro xỉ/tháng.  
Đa số lò đốt nhiên liệu ngoại trừ khí thiên nhiên, dầu DO, và dầu sinh học đều phát thải tro  
đáy (xỉ). Tro bay được thu hồi bằng các thiết bị như cyclon, lọc túi vải, và tháp lọc ướt. Phần lớn,  
tro bay và tro đáy được thu gom chung (chiếm 71,9%), và được lưu chứa trong bao bì, chủ yếu là  
bao 25 – 50 kg. Khoảng 60% cơ sở có hố thu nước rỉ và 95,7% cơ sở có mái che tại các kho lưu  
chứa tro xỉ. Việc thu gom với tần suất trung bình (từ 1 lần/tháng đến 10 lần/tháng) chiếm đa số  
(62,7%). Các cơ sở sản xuất chuyển giao tro xỉ nhằm các mục đích tái chế như làm phân bón, làm  
vật liệu xây dựng, và san lấp. Phần còn lại được chôn lấp hoặc không rõ phương pháp xử lý.  
4.2. Đề xuất giải pháp quản lý  
Kết quả khảo sát cho thấy nguồn nhiên liệu cung cấp cho các hệ thống lò đốt nhiên liệu đa  
dạng hơn nhiều so với các hệ thống lò đốt của nhà máy nhiệt điện, do đó thành phần tro xỉ sinh ra  
cũng sẽ phức tạp hơn. Tro bay và tro đáy có thành phần, tính chất rất khác nhau nhưng được thu  
gom chung, gây trở ngại cho hoạt động tái chế tro xỉ. Do đó, nhằm tăng khả năng tận dụng tro  
bay và tro đáy phát sinh từ các hệ thống lò đốt nhiên liệu cho những mục đích khác nhau và phù  
hợp cho từng loại, các cơ sở cần thu gom tách riêng các loại tro bay và tro đáy tại nguồn.  
Việc phân loại chất thải rắn tại các cơ sở sản xuất chỉ được thực hiện đối với những loại có  
giá trị kinh tế làm phế liệu. Do đó, để các cơ sở có động lực phân tách riêng tro xỉ tại nguồn,  
tạo điều kiện cho hệ sinh thái tái chế tro xỉ hoạt động, cần thúc đẩy nghiên cứu đánh giá khả  
năng tái chế, tái sử dụng tro xỉ và nghiên cứu công nghệ nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm tái  
chế. Giải pháp này cần được kết hợp với tuyên truyền nâng cao nhận thức của cơ sở sản xuất về  
vấn đề tro xỉ.  
201  
226(08): 195 - 202  
TNU Journal of Science and Technology  
Theo kết quả nghiên cứu, một số lượng rất lớn (33) đơn vị tham gia công tác thu gom, vận  
chuyển, và tái chế tro xỉ tại 61 cơ sở sản xuất cho thấy nguồn lực này rất phân tán, khó kiểm soát  
việc thu hồi triệt để tro, xỉ nhằm tái chế và tái sử dụng hợp lý. Do đó, các cơ quan quản lý có  
chức năng liên quan cần cập nhật thường xuyên dữ liệu về tro, xỉ phát sinh từ các cơ sở sản xuất,  
cũng như danh mục các đơn vị thu gom, tái chế và xử lý từ nghiên cứu này nhằm hỗ trợ cơ sở sản  
xuất trong việc lựa chọn đơn vị thu gom, tái chế và xử lý phù hợp. Việc thành lập tổ chức hỗ trợ  
thông tin về nguồn và chất lượng tro xỉ công nghiệp cũng như thông tin về doanh nghiệp và công  
nghệ tái chế, xử lý tro xỉ là giải pháp thúc đẩy tái chế, tái sử dụng tro xỉ công nghiệp một cách  
hiệu quả về kinh tế và bảo vệ môi trường.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] S. Chen, N. Lior, and W. Xiang, "Coal gasification integration with solid oxide fuel cell and chemical  
looping combustion for high-efficiency power generation with inherent CO2 capture," Applied Energy,  
vol. 146, pp. 298-312, 2015.  
[2] X. Fang, L. Jia, and L. Yin, "A weighted average global process model based on two− stage kinetic  
scheme for biomass combustion," Biomass and Bioenergy, vol. 48, pp. 43-50, 2013.  
[3] C. Yin, L. A. Rosendahl, and S. K. Kær, "Grate-firing of biomass for heat and power production,"  
Progress in Energy and combustion Science, vol. 34(6), pp. 725-754, 2008.  
[4] CESTI, Trends in utilizing the bottom and fly ash from thermal power plants in construction material  
production, 2019.  
[5] Y. Niu and H. Tan, "Ash-related issues during biomass combustion: Alkali-induced slagging, silicate  
melt-induced slagging (ash fusion), agglomeration, corrosion, ash utilization, and related  
countermeasures," Progress in Energy and Combustion Science, vol. 52, pp. 1-61, 2016.  
[6] P. Pintana and N. Tippayawong, "Predicting ash deposit tendency in thermal utilization of biomass,"  
Engineering Journal, vol. 20(5), pp. 15-24, 2016.  
[7] A. Demirbaş, "Heavy metal contents of fly ashes from selected biomass samples," Energy Sources,  
vol. 27(13), pp. 1269-1276, 2005.  
[8] U. Kleinhans et al., "Ash formation and deposition in coal and biomass fired combustion systems:  
Progress and challenges in the field of ash particle sticking and rebound behavior," Progress in energy  
and combustion science, vol. 68, pp. 65-168, 2018.  
[9] S. Du et al., "Fusion and transformation properties of the inorganic components in biomass ash," Fuel,  
vol. 117, pp. 1281-1287, 2014.  
[10]A. K. James et al., "Ash management review—applications of biomass bottom ash," Energies, vol.  
5(10), pp. 3856-3873, 2012.  
[11]MOC, Treatment of the bottom and fly ash from thermal power plants: Current situation and  
bottlenecks, 2020.  
[12] Environmental Division - HEPZA, Statistics data on enterprises under the authority by HEPZA, 2018.  
[13]X. D. Thang and L. T. My, Studying and proposing measures to reduce CO emissions from biomas  
boilers for reducing air pollution and saving energy, 2018.  
202  
               
pdf 8 trang yennguyen 13280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng quản lý tại nguồn tro, xỉ từ các hệ thống lò đốt nhiên liệu trong khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_quan_ly_tai_nguon_tro_xi_tu_cac_he_thong_lo_dot_n.pdf