Khảo sát khả năng xử lý nước của than hoạt tính phủ nano bạc

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC CỦA THAN HOẠT TÍNH  
PHỦ NANO BẠC  
(1)  
Trần Anh Khoa, Nguyễn Tị Mỹ Loan  
Trần Tuyết Sương, Đỗ Hải Sâm, Hoàng Hiền Ý  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu trình bày quy trình phủ nano bạc lên than hoạt tính và khảo sát khả năng xử lý nước của vật  
liệu lọc thông qua các chỉ tiêu của nước uống như pH, độ đục, độ màu, SS, TDS, Fecal coliform và coliform  
tổng. ông qua quá trình khuấy, các hạt nano bạc và than được phân tán đều trong dung môi và tiếp xúc  
với nhau làm tăng khả năng bám lên bề mặt than của các hạt nano bạc. Khi tăng nồng độ dung dịch bạc thì tỷ  
lệ phủ bạc tăng nhưng diện tích bề mặt riêng giảm. Ở nồng độ dung dịch bạc 10.10-2 mg/L, diện tích bề mặt  
riêng giảm khoảng 96 m2/g, nhưng tỷ lệ phủ bạc tăng 6.5 lần so với ở nồng độ bạc 1.10-2 mg/L. Sự tăng thêm  
nồng độ dung dịch bạc sẽ dẫn đến diện tích bề mặt riêng giảm nhiều, có thể ảnh hưởng đến hiệu quả lọc. Mẫu  
nước sông được xử lý sơ bộ với chất trợ lắng PAC ở nồng độ 20 mg/L, sau đó được dẫn qua cột lọc với vật  
liệu than hoạt tính phủ nano bạc có chiều dày khác nhau. Nước sau khi được lọc có các chỉ tiêu đáp ứng Quy  
chuẩn QCVN 01-1:2018/BYT về nước sạch phục vụ nhu cầu ăn uống như pH 6.9, độ đục 0.3 – 0.42 NTU và  
TDS 77 – 79.7 mg/l cho các lớp vật liệu có chiều cao từ 2 cm. Đặc biệt, quá trình lọc đã loại bỏ được vi khuẩn  
Coliform tổng và Fecal coliform với hiệu quả đạt 100%.  
Từ khóa: Nano bạc, than hoạt tính phủ nano bạc, xử lý nước, QCVN 01-1:2018/BYT.  
Nhận bài: 25/8/2020; Sửa chưa: 28/8/2020;  uyyt t ng: 11/9/2020.  
1. Mở đầu  
nano, hoạt tính này còn tăng lên nhiều lần. Do đó,  
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ nano,  
ngày càng có nhiều sản phẩm, ngành sản xuất ứng  
dụng công nghệ nano bạc để làm sạch khuẩn hiệu quả  
[3]. Ngoài vật liệu nano, than hoạt tính được xem là  
vật liệu quan trọng và kinh tế trong việc xử lý nước.  
Tại Việt Nam, than hoạt tính được sản xuất từ những  
phụ phẩm nông nghiệp như xơ dừa, vỏ trấu, than bùn,  
gỗ... Với diện tích bề mặt lớn, độ xốp cao, than hoạt  
tính cung cấp bề mặt lớn để giữ các nguyên tử, ion,  
hợp chất... Đây chính là lý do than hoạt tính được sử  
dụng rộng rãi trong các hệ thống lọc nước trên toàn  
thế giới. Tuy nhiên, than hoạt tính không lọc được các  
virus, vi khuẩn có hại trong nước [4]. Do đó, mục tiêu  
của nghiên cứu này là tạo ra vật liệu lọc, trong đó tận  
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công  
nghệ nano để cho ra những vật liệu có kích thước nano  
phục vụ nhu cầu sinh hoạt, bảo vệ sức khỏe và giảm  
thiểu ô nhiễm môi trường đang được đẩy mạnh nghiên  
cứu [1]. Tại Việt Nam, tình trạng ô nhiễm nước ngày  
càng tăng, đang gây sức ép lớn tới môi trường và đe dọa  
sức khỏe con người. Nhiều biện pháp xử lý nước đã  
được áp dụng, một trong những giải pháp, công nghệ  
được quan tâm hiện nay là ứng dụng công nghệ nano  
cũng như những vật liệu có khả năng lọc nước cao và  
phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia. Năm  
2018, KS. iều Quốc Hân cùng các nhà khoa học ở  
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và  
Học viện Kỹ thuật Quân sự đã nghiên cứu thành công  
giải pháp xử lý nước thải bằng vật liệu nano kim loại dụng các hoạt tính của cả than hoạt tính và nano bạc  
hóa trị 0 trên nền nano sắt (một tổ hợp gồm nhiều  
nano kim loại hóa trị 0, thành phần chính là nano sắt  
và một số nano kim loại khác). Nghiên cứu cho thấy,  
có thể xử lý nhiều chất hữu cơ độc hại và kim loại nặng  
trong nước cùng lúc, dễ dàng vận hành và tiết kiệm chi  
phí hơn so với các phương pháp truyền thống [2].  
nhằm kết hợp quá trình lọc, hấp phụ và khử trùng ngay  
trong cột lọc để xử lý nước sông thành nước sinh hoạt.  
Mẫu nước sông khảo sát được lấy dọc theo sông Hậu  
Giang qua 3 tỉnh An Giang, Cần ơ và Sóc Trăng vào  
các mùa tiền lũ (tháng 7) và lũ chính vụ (tháng 9, 10).  
ông qua kết quả khảo sát các chỉ tiêu pH, độ đục,  
TDS, SS, Colifom, nhóm nghiên cứu chọn mẫu nước  
Các nhà khoa học nhận ra rằng, bạc là chất kháng  
khuẩn tự nhiên, an toàn và hiệu quả; đặc biệt ở dạng sông có độ ô nhiễm tương đối cao tại xã Phong Nẫm,  
1 Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh  
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 3  
huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng vào thời điểm tháng 9  
để khảo sát khả năng xử lý (lọc và khử trùng) nước của  
than hoạt tính phủ nano bạc.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Khảo sát quá trình xử lý sơ bộ nước  
Ảnh hưởng của nồng độ chất trợ lắng đến chất  
lượng nước sau lắng được khảo sát ở thời gian lắng 10  
phút. Hiệu quả lắng được kiểm tra thông qua các chỉ  
tiêu pH, TDS, SS, độ màu và được trình bày tương ứng  
ở Hình 1.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Nguyên liệu và hóa chất  
Trấu từ nhà máy sấy lúa Lộc Trời, An Giang được  
hoạt hóa bằng CO2 ở nhiệt độ 800oC để tổng hợp than  
hoạt tính.  
Dung dịch nano bạc được điều chế từ Bạc Nitrate  
(AgNO3) và Natri Citrate (C H5O7Na3.2H2O) cung cấp  
bởi Công ty Sigma – Aldrich6.  
Poly Aluminium Chloride (PAC) và phèn nhôm  
được sử dụng làm chất keo tụ trợ lắng trong quá trình  
xử lý nước sơ bộ trước khi dẫn qua cột lọc nước.  
Từ kết quả phân tích ở Hình 1 có thể nhận thấy,  
nước sau khi xử lý có pH (Hình 1a) nằm trong khoảng  
6,5 - 7,0 và tổng chất rắn hòa tan TDS (Hình 1b) không  
xử lý được ở tất cả các nồng độ của cả hai chất trợ  
lắng sử dụng. Trên thực tế, tùy vào loại chất rắn hòa  
tan mà các vật liệu hấp phụ (than hoạt tính, biochar...)  
hay các hóa chất được sử dụng để giảm TDS. Hình 1c  
- 1d cho thấy, khi nồng độ chất trợ lắng tăng thì hàm  
lượng SS, độ màu giảm; và PAC có khả năng xử lý tốt  
hơn phèn nhôm. Ở nồng độ PAC bằng 10 mg/L, lượng  
chất rắn lơ lửng đã hoàn toàn không còn và với nồng  
độ là 30 mg/L thì đã xử lý hoàn toàn được màu trong  
mẫu nước. Trong khi đó, với nồng độ gấp đôi thì phèn  
nhôm mới xử lý được hết chất rắn lơ lửng và chưa xử  
lý hết được độ màu ở nồng độ 30 mg/L. Do đó, lựa  
chọn sử dụng PAC làm chất trợ lắng trong những thí  
nghiệm tiếp theo.  
2.2. í nghiệm  
a. Quá trình xử lý sơ bộ nước  
Trước khi tiến hành lọc, nước sông cần được xử lý  
sơ bộ bằng phương pháp lắng nhằm loại nhanh những  
chất rắn không tan lơ lửng trong nước, đảm bảo hàm  
lượng rắn đi vào cột lọc không vượt giá trị cho phép,  
bảo vệ các thiết bị lọc. Nhóm nghiên cứu khảo sát 2  
loại chất trợ lắng khá phổ biến hiện nay là PAC và phèn  
nhôm do hoạt động ở khoảng pH rộng là 5 - 8, thời  
gian keo tụ nhanh, ít làm biến động pH nước và không  
bị đục khi dùng vượt hàm lượng [5]. Sau khi khuấy đều  
ở các nồng độ 5-30 mg/L và để lắng trong khoảng thời  
gian 5-40 phút, phần nước trong sau lắng được kiểm  
tra các chỉ tiêu pH, TDS (độ khoáng hóa), SS (cặn lơ  
lửng), độ đục và độ màu nhằm đánh giá sơ bộ nước  
trước khi dẫn vào cột lọc.  
b. Phủ bạc lên than hoạt tính  
Dung dịch nano bạc sau khi điều chế theo nghiên  
cứu [6] được tiến hành phủ lên bề mặt than hoạt tính  
thông qua quá trình khuấy. Sau đó, hỗn hợp được lọc  
nhằm tách than đã phủ nano bạc ra khỏi dung môi và  
sấy ở nhiệt độ 105oC trong 10 giờ. Nồng độ dung dịch  
nano bạc và thời gian khuấy trong khoảng 4 - 12 giờ  
được tiến hành khảo sát; các phương pháp phân tích  
ICP-MS, SEM, diện tích bề mặt riêng được sử dụng để  
xác định tỷ lệ bạc so với than và tính chất hóa học của  
sản phẩm than hoạt tính phủ nano bạc.  
▲Hình 1: Ảnh hưởng của nồng độ chất trợ lắng đến chất  
lượng nước sau lắng  
c. Xử lý nước bằng nano-Ag/AC  
Hệ thống lọc nước được thiết kế với cột lọc đường  
kính 6 cm và nước qua lớp than điều chỉnh ở lưu lượng  
50 ml/phút. Mẫu nước sông sau khi xử lý sơ bộ bằng  
chất trợ lắng, được lọc qua than hoạt tính phủ nano bạc  
có chiều cao khảo sát trong khoảng 0.5 - 5 cm. Hiệu quả  
xử lý nước được đánh giá bằng các chỉ tiêu pH, TDS,  
SS, độ đục, độ màu coliform tổng và fecal coliform.  
Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần và độ lệch không quá  
5% nhằm tăng tính chính xác của nghiên cứu.  
Chất trợ lắng được thêm vào nước nhằm kết dính  
các chất khuếch tán trong dung dịch thành các hạt có  
kích cỡ và tỷ trọng lớn hơn từ đó tăng hiệu quả lắng,  
đồng thời giảm thời gian lắng. Cách tốt nhất để đánh  
giá hiệu quả của quá trình lắng là xem xét hiệu suất loại  
bỏ các chất rắn lở lửng SS và độ đục của nước. Do đó,  
ảnh hưởng của thời gian lắng khi sử dụng chất trợ lắng  
PAC trong khoảng nồng độ 5-30 mg/L đến khả năng  
lắng đục và lắng chất rắn lơ lửng được khảo sát.  
4 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
bạc từ 1.10-2 lên 10.10-2 mg/L thì tỷ lệ phủ bạc tăng 6.5  
lần và diện tích bề mặt riêng giảm khoảng 96 m2/g. Ở  
nồng độ dung dịch bạc 10.10-2 mg/L, diện tích bề mặt  
riêng giảm không nhiều so với diện tích bề mặt riêng  
của than. Nếu tiếp tục tăng nồng độ dung dịch bạc sẽ  
dẫn đến diện tích bề mặt riêng giảm nhiều, trong khi tỷ  
lệ phủ bạc đã bão hòa và tăng không đáng kể, điều này  
có thể ảnh hưởng đến hiệu quả lọc [8]. Vì vậy, lựa chọn  
dung dịch nano bạc có nồng độ 10.10-2 mg/L để thực  
hiện khảo sát ảnh hưởng của thời gian khuấy.  
▲Hình 2: Khảo sát độ đục của nước theo thời gian ở các nồng  
độ PAC khác nhau  
Từ kết quả khảo sát độ đục ở Hình 2 có thể nhận  
thấy, trong cùng thời gian xử lý, độ đục của nước giảm  
dần khi tăng nồng độ PAC từ 5-20 mg/L, sau đó độ đục  
có xu hướng tăng khi tăng nồng độ PAC. Điều này có  
thể giải thích do ở nồng độ 20 mg/L, độ lắng đục của  
nước bão hòa, vượt quá hàm lượng này, chất trợ lắng  
trở thành tác nhân gây ra độ đục của nước. Bên cạnh  
đó, dễ dàng nhận thấy, thời gian xử lý càng dài thì độ  
đục trong nước càng giảm. Với thời gian lắng đục là 20  
phút thì độ lắng đục thay đổi không đáng kể. Đặc biệt,  
kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, PAC hoàn toàn xử  
lý được lượng chất rắn lơ lửng trong nước sông ở tất cả  
các nồng độ và thời gian khảo sát. Vì vậy, nồng độ PAC  
20 mg/L và thời gian lắng 20 phút được sử dụng để xử  
lý sơ bộ mẫu nước sông nghiên cứu nhằm loại nhanh  
những chất rắn lơ lửng, bảo vệ thiết bị và vật liệu lọc.  
▲Hình 3: Ảnh SEM mẫu than hoạt tính phủ nano bạc  
3.2. Khảo sát quá trình phủ nano bạc lên than  
hoạt tính  
Trong khảo sát này, nồng độ dung dịch bạc khoảng  
1.10-2 - 10.10-2 mg/L được tiến hành phủ lên 5 g than  
hoạt tính với thời gian khuấy 6 giờ. Tỷ lệ nano bạc phủ  
lên than được xác định bằng phương pháp phân tích  
ICP-MS và được trình bày trong Bảng 1.  
▲Hình 4: Tỷ ly phủ bạc lên than theo thời gian khuấy  
Kết quả ở Hình 4 cho thấy, hàm lượng bạc phủ lên  
than hoạt tính tỷ lệ thuận với thời gian khuấy và khi  
tăng thời gian khuấy từ 8 giờ đến 12 giờ thì hàm lượng  
nano bạc phủ lên than tăng không đáng kể. Điều này có  
thể được giải thích do phần lớn lượng bạc đã phủ lên bề  
mặt than, vì vậy khi tăng thời gian khuấy lên lượng bạc  
trên bề mặt than hầu như tăng lên không nhiều [7, 8].  
Do đó, lựa chọn dung dịch nano bạc có nồng độ 10.10-2  
mg/L và thời gian khuấy 8 giờ để thực hiện quá trình  
phủ nano bạc lên than hoạt tính làm vật liệu lọc để xử  
lý nước sông Hậu Giang vào mùa lũ chính vụ tháng 9.  
Bảng 1: Kết quả khảo sát nồng độ dung dịch nano bạc phủ  
lên than hoạt tính  
Dd nano – Ag  
(mg/L)  
CAg/AC (mg/kg)  
SBMR (m2/g)  
1.10-2  
5.10-2  
5.14  
17.2  
33.4  
793.983  
723.459  
697.736  
10.10-2  
Kết quả trình bày ở Bảng 1 cho thấy, khi tăng nồng  
độ dung dịch bạc dẫn đến tăng tỷ lệ bạc phủ lên than  
và giảm diện tích bề mặt riêng. Sự giảm diện tích bề  
mặt riêng có thể được giải thích do hiện diện của nano  
bạc trên bề mặt than hoạt tính, dựa vào kết quả phân  
tích SEM ở Hình 3 [7, 8]. Khi tăng nồng độ dung dịch  
3.3. Khảo sát khả năng xử lý nước của nano-Ag/AC  
Trước khi dẫn qua cột lọc chứa than hoạt tính phủ  
nano bạc, mẫu nước sông ban đầu và nước đã xử lý sơ  
bộ với chất trợ lắng PAC được phân tích đánh giá các  
chỉ tiêu dùng trong nước uống và kết quả thể hiện Bảng  
2. Hiệu quả lọc được đánh giá thông qua các chỉ tiêu  
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 5  
Bảng 2: Kết quả khảo sát khả năng xử lý nước của than hoạt tính phủ nano bạc  
Chỉ tiêu  
Nước  
Ban đầu Sau lắng  
Chiều cao vật liệu lọc (cm)  
QCVN  
01-  
1:2018/  
BYT  
0,5  
1
2
3
4
5
pH  
6.93  
138  
80  
6.93  
13  
76  
37  
--  
6.93  
6.95  
6.93  
6.93  
6.93  
6.93  
6.5 - 8  
0.014  
0.006  
0.006  
0.006  
0.015  
0.006  
Độ  
(NTU)  
TDS  
(mg/L)  
Độ màu  
(TCU)  
SS (mg/L)  
Coliform  
đục  
0.35  
0.01  
77 3.5  
0.23  
0.015  
77.67  
4.9  
17.00  
1.73  
0.3 0.02 0.4 0.02  
0.4  
0.015  
78.34  
6.3  
0.42  
0.02  
78 4.3  
< 2  
79.67  
5.1  
6.67 1.53  
79.34  
7.2  
0.33  
0.08  
< 1000  
< 15  
--  
485  
90  
29.67  
1.15  
--  
--  
--  
--  
--  
--  
--  
--  
(MPN/100  
mL)  
Fecal  
(MPN/100  
mL)  
24000  
1500  
24000  
1500  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
KPH  
0
0
Ghi chú: KPH: không phát hiyn; (--) SS sau khi qua xử lý sơ bộ thì không còn nưa  
của nước gồm pH, độ đục, độ màu, TDS, SS, Coliform  
tổng và Fecal coliform ở các chiều cao vật liệu lọc khác  
nhau và được so sánh trong Bảng 2.  
4. Kết luận  
Nghiên cứu tổng hợp thành công vật liệu lọc than  
hoạt tính phủ nano bạc một cách đơn giản và hiệu quả  
bằng cách khuấy trộn hỗn hợp dung dịch nano bạc  
nồng độ 10.10-2 mg/L với 5 g than hoạt tính trong thời  
gian khuấy 8 giờ. Để bảo vệ thiết bị lọc và loại nhanh  
những chất rắn lơ lửng không tan, nước sông mùa lũ  
chính vụ được xử lý sơ bộ với chất trợ lắng PAC ở nồng  
độ 20 mg/L và thời gian lắng 20 phút. Kết quả nghiên  
cứu chỉ ra rằng, nước sau khi qua lớp than phủ nano bạc  
với chiều dày từ 2 cm thì tất cả các chỉ tiêu đánh giá của  
nước như pH, độ đục, độ màu, TDS, SS, Coliform tổng  
và Fecal coliform đều nằm trong khoảng cho phép của  
nước sạch phục vụ mục đích ăn uống theo Quy chuẩn  
kỹ thuật quốc gia QCVN 01-1:2018/BYT. Đặc biệt, quá  
trình lọc đã loại bỏ được vi khuẩn Coliform tổng và  
Fecal coliform với hiệu quả tương đối cao 100%. Do đó,  
than hoạt tính được phủ nano bạc có thể đưa vào ứng  
dụng trong quá trình xử lý nước sông vùng lũ lụt kéo  
dài như đồng bằng sông Cửu Long nhằm sản xuất nước  
sạch phục vụ nhu cầu ăn uống một cách đơn giản, kinh  
tế và cơ động■  
Dựa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-  
1:2018/BYT về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục  
đích ăn uống, khảo sát cho thấy nước sau khi qua lớp  
than hoạt tính phủ nano bạc có chiều cao từ 2 - 5 cm  
thì tất cả các chỉ tiêu đánh giá đều trong khoảng cho  
phép và độ chênh lệch các chỉ tiêu ở các kích thước cột  
lọc khác nhau không nhiều. Đặc biệt, chỉ tiêu Fecal và  
Coliform đạt hiệu quả xử lý tương đối cao sau khi qua  
lớp than phủ nano bạc. Bên cạnh đó, nghiên cứu khảo  
sát thời gian sử dụng cột lọc với khả năng lọc nước  
trung bình 20 lít nước/ngày cho thấy tuổi thọ trung  
bình của cột lọc có chiều cao 2 cm và 3 cm lần lượt là  
40 ngày và 65 ngày, với giá thành tương ứng lần lượt là  
400 nghìn đồng và 550 nghìn đồng. Từ nghiên cứu trên  
kết luận rằng nước sông mùa lũ chính vụ có thể được  
xử lý hiệu quả, chi phí thấp thành nước sạch phục vụ  
nhu cầu ăn uống bằng thiết bị lọc đơn giản và cơ động  
để người dân có thể di chuyển hoặc mang theo khi cần  
thiết. Nghiên cứu góp phần giải quyết nhu cầu nguồn  
nước hợp vệ sinh cho người dân ở các vùng lũ lụt kéo  
dài như đồng bằng sông Cửu Long.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
nước thải sử dụng vật liyu nano kim loại hóa trị 0 trên nền  
vật liyu nano sắt, in: C.s.h.t. tuy (Ed.)Viyt Nam, 2018.  
1. Z. Hu, M.P. Srinivasan, Mesoporous high-surface-area  
activated carbon, Microporous and Mesoporous Materials, 3. R.R. Khaydarov, R.A. Khaydarov, O. Gapurova, I.  
43 (2001) 267-275.  
Garipov, M. Lutfi Firdaus, Silver Nanoparticles as a  
Biocide for Water Treatment Applications, in: R. Prasad, T.  
Karchiyappan (Eds.) Advanced Research in Nanosciences  
2. iều Quốc Hân, Vũ Tân Cảnh, Trần Lưu Kiên, Nguyễn  
ế Anh, Đặng Quốc Hiyu, Đ.Q. Toản, Quy trình xử lý  
6 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ  
for Water Technology, Springer International Publishing, 6. C. Quintero-Quiroz, N. Acevedo, J. Zapata-Giraldo, L.E.  
Botero, J. Quintero, D. Zárate-Triviño, J. Saldarriaga, V.Z.  
Pérez, Optimization of silver nanoparticle synthesis by  
chemical reduction and evaluation of its antimicrobial and  
toxic activity, Biomaterials Research, 23 (2019) 27.  
J. Pal, M.K. Deb, D.K. Deshmukh, D. Verma, Removal  
of methyl orange by activated carbon modified by silver  
nanoparticles, Applied Water Science, 3 (2013) 367-374.  
Cham, 2019, pp. 407-419.  
4. Trần Anh Khoa, Nguyễn Phan Khánh ịnh, P.Đ. Tuấn,  
Khảo sát khả năng xử lý nước của than hoạt tính sản xuất  
từ trấu, Tạp chí Môi trường, 1 (2017).  
7
5. A. Zouboulis, G. Traskas, P. Samaras, Comparison  
of Efficiency between Poly‐aluminium Chloride and  
Aluminium Sulphate Coagulants during Full‐scale  
Experiments in a Drinking Water Treatment Plant,  
Separation Science and Technology, 43 (2008) 1507-1519.  
8. M.T. Moustafa, Removal of pathogenic bacteria from  
wastewater using silver nanoparticles synthesized by two  
fungal species, Water Science, 31 (2017) 164-176.  
A STUDY ON WATER TREATMENT USING SILVER  
NANOPARTICLES COATED ON ACTIVATED CARBON  
Tran Anh Khoa, Nguyen Ti My Loan, Tran Tuyet Suong, Do Hai Sam, Hoang Hien Y  
HoChiMinh City University of Natural Resources and Environment  
ABSTRACT  
e study presented the preparation of silver nanoparticles (Ag-NPs) loaded on activated carbon (AC)  
which revealed the high capacity for water treatment via some investigated parameters of drinking water  
including pH, turbidity, color, suspended solids (SS), total dissolved solids (TDS), Fecal Coliform and total  
Coliform. Activated carbon was added to the as-prepared Ag-NPs with vigorous stirring to ensure its even  
dispersion and distribution in the solvent resulting to the best coating of Ag-NPs on AC. It was found that  
as the concentration of silver solution increased, an enhancement in the coated silver amount and a slight  
reduction in the specific surface area were observed. At silver concentration of 10.10-2 mg/L, the surface area  
decreased by about 96 m2/g while the coated silver amount increased excessively by 6.5 times as compared  
to that of 1.10-2 mg/L. Further increasing concentration of Ag-NPs may cause the significantly reduction of  
surface area, which would have negative impact on the efficiency on water treatment. e treatment of river  
water could be categorized to: preliminary sedimentation using PAC of 20 mg/L and filtration in the column  
filled with the various thickness of Ag-NPs-AC. e results showed that the filtered water using the Ag-NPs-  
AC layers of above 2 cm satisfied the standard of QCVN 01-1:2018/BYT for drinking water such as pH of 6.9,  
turbidity of 0.3 – 0.42 NTU and TDS of 77 – 79.7 mg/l. In particular, Ag-NPs-AC performed efficiently in  
bringing down Fecal Coliform and total Coliform to zero.  
Key words: Silver nanoparticles, silver nanoparticles coated on activated carbon, water treatment, QCVN  
01-1:2018/BYT.  
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 7  
pdf 5 trang yennguyen 18780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát khả năng xử lý nước của than hoạt tính phủ nano bạc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_kha_nang_xu_ly_nuoc_cua_than_hoat_tinh_phu_nano_bac.pdf