Kiến nghị giải pháp quản lý tổng hợp chất thải, thu hồi tài nguyên tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP CHẤT THẢI,
THU HỒI TÀI NGUYÊN TẠI QUẬN LONG BIÊN, TP. HÀ NỘI
ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2040
(1)
Vũ Tị Minh Tanh
Nguyễn Tị Huệ
Trần Hiếu Nhuệ2
TÓM TẮT
Giải pháp tổng thể để quản lý chất thải (QLCT) rắn và chất thải lỏng với công nghệ xử lý phù hợp được
đề xuất tại quận Long Biên, TP. Hà Nội cho giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040, với số dân ước
tính khoảng 428.860 người. Với mô hình QLCT truyền thống, điện năng cần tiêu thụ để xử lý chất thải của
quận là 94.474,31 kWh/ngày. Với phương án xây dựng Trung tâm xử lý chất thải (TTXLCT) sử dụng phương
thức quản lý tổng hợp, xử lý kỵ khí kết hợp bùn của nhà máy xử lý nước thải (NMXLNT), phân bùn bể tự
hoại (BTH) và chất thải rắn (CTR) sinh hoạt hữu cơ, cho phép thu hồi khí biogas sản xuất năng lượng bằng
hệ thống nhiệt - điện kết hợp. Tổng năng lượng quy đổi thu được 369.441,63 kWh/ngày, giúp TTXLCT tự cấp
hoàn toàn nhu cầu năng lượng và còn dư 63,85%. Nhiệt sinh ra được tận dụng để sấy bùn sau khi tách nước
thành viên đốt, chứa lượng nhiệt tương đương 132.587,58 kWh/ngày… Kết quả từ nghiên cứu này là cơ sở để
kiến nghị giải pháp QLCT đô thị cho quận Long Biên theo hướng thu hồi tài nguyên, hiện thực hóa nền kinh
tế tuần hoàn.
Từ khóa: Phân hủy kỵ khí, biogas, thu hồi năng lượng, quản lý tổng hợp, chất thải đô thị.
Nhận bài: 25/11/2020; Sửa chưa: 0/12/2020; uyêt đăng: 1/12/2020.
1. Đặt vấn đề
chưa được quan tâm tái chế, thu hồi như một nguồn tài
nguyên [2]. ực tế đặt ra cần có hướng tiếp cận mới
trong việc QLCT đô thị, với các mô hình tích hợp và giải
pháp công nghệ phù hợp.
Xử lý nước thải (XLNT) là một hoạt động tốn nhiều
năng lượng. Ước tính, mức năng lượng tiêu thụ trong
lĩnh vực XLNT tính theo đầu người vào khoảng 108.000
- 216.000 kJ/người.năm [4]. eo Metcalf & Eddy [5],
mức năng lượng tiêu thụ trong một NMXLNT quy mô
công suất lớn sẽ chiếm khoảng 25 - 40% chi phí vận
hành. Vì vậy, việc tối ưu hóa sử dụng năng lượng trong
các NMXLNT đã và đang rất được quan tâm tại nhiều
nước trên thế giới.
Hiện nay, tại các đô thị lớn ở Việt Nam, chất thải phát
sinh ngày càng nhiều và không ngừng tăng. Lượng nước
thải sinh hoạt (NTSH) từ các đô thị ước tính khoảng 7
triệu m3/ngày [1], chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) đô
thị khoảng 37.200 tấn/ngày [2]. Khối lượng CTRSH tại
các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 12% mỗi năm,
chiếm 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị; thậm chí tại một
số nơi, tỷ lệ CTRSH có thể chiếm đến 90% [2].
Tuy nhiên, mới chỉ khoảng 13% nước thải (NT) đô
thị được xử lý tại các NMXLNT [1]. Phần còn lại được xử
lý sơ bộ qua BTH, hoặc xả trực tiếp ra ngoài môi trường.
Bùn từ BTH không được hút định kỳ, chủ yếu do các
công ty tư nhân hút dịch vụ cho các hộ gia đình, sau đó
xả không có kiểm soát ra ngoài môi trường [3]. Hơn 71%
CTR đô thị vẫn được xử lý bằng biện pháp chôn lấp [2].
Các bãi chôn lấp (BCL) luôn trong tình trạng quá tải,
đòi hỏi phải mở rộng trong khi quỹ đất dành cho các
Xử lý phân bùn BTH và CTRSH cũng tốn nhiều năng
lượng trong khi bản thân các chất thải này có chứa thành
phần chất hữu cơ cao, tiềm năng sinh năng lượng rất
đáng kể.
Phương án xử lý bùn thải bằng phân hủy kỵ khí cho
BCL rất hạn hẹp. Các thành phần có ích trong NT, CTR hiệu quả thu hồi năng lượng cao [6]. Phản ứng sinh ra
1 Viên Công nghê Môi trường, Viên Hàn lâm KH&CN Viêt Nam
2 Trường Đại học Xây dựng
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 57
biogas có thể được sử dụng để sinh ra điện và nhiệt, cung khí riêng lẻ và xử lý kết hợp; phân tích dòng vật chất
cấp trở lại cho nhà máy.
(MFA) với phần mềm STAN [8] cho các loại chất thải
trên theo các chỉ tiêu tổng chất rắn (TS) và chất rắn hữu
cơ (VS) theo từng kịch bản để tính toán cân bằng chất,
lượng hóa các chất qua các công đoạn của dây chuyền xử
lý; phân tích cân bằng năng lượng (EB) bằng cách liệt kê
các thiết bị tiêu thụ điện; tính toán năng lượng điện tiêu
thụ cho từng công đoạn và cho cả hệ thống xử lý chất
thải (XLCT); tính toán tiềm năng sinh năng lượng từ các
quá trình XLCT qua các nghiên cứu thực nghiệm trên,
mục tiêu là thu được bức tranh toàn cảnh về cân bằng
vật chất của chất thải tại quận, làm cơ sở so sánh các kịch
bản quản lý chúng.
ực tế tại Việt Nam, chưa đô thị nào có mô hình
QLCT bao gồm cả NT, bùn NMXLNT, phân bùn BTH
và CTR một cách phù hợp, hiệu quả và bền vững. Xây
dựng mô hình QLCT theo hướng thân thiện với môi
trường, tiết kiệm năng lượng, đảm bảo lợi ích kinh tế là
vấn đề cần hướng tới. Với mục tiêu tái sử dụng chất thải
sinh năng lượng, nhóm tác giả nghiên cứu xây dựng các
kịch bản QLCT quận Long Biên với công nghệ phù hợp
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.
2. Địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Long Biên là một quận được thành lập năm 2003
thuộc nội thành TP. Hà Nội, nằm dọc bờ Bắc sông
Hồng, với diện tích 6.038,24 ha. Dân số năm 2020 của
quận là 342.000 người, gồm 5.300 người sống ngoài đê;
vùng trong đê có 336.700 người. Với tỷ lệ tăng 2,89%/
3. Kết quả nghiên cứu
oát nước tập trung là phương án được đề xuất để
quản lý NT quận Long Biên. Toàn bộ NT được thu gom
và xử lý tại NMXLNT tập trung, đặt tại phường An Lạc,
năm, dân số đến năm 2030 ước tính sẽ là 428.860 người phía Nam quận.
[7].
Hiện hệ thống thoát nước (HTTN) tại Long Biên là
Ở các khu vực mới (chiếm 20% diện tích) xây dựng
các cống TN riêng, còn lại khu vực cũ (chiếm 80% diện
tích) là HTTN chung. Dọc mạng lưới TN chung có các
giếng tràn, để xả phần nước mưa và NT đã được pha
loãng trực tiếp ra nguồn tiếp nhận. NT và nước mưa đợt
đầu được dẫn về NMXLNT. NT sau xử lý xả ra sông Cầu
Bây với yêu cầu đạt loại A theo QCVN 40:2011/BTNMT.
eo các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam và trên thế
giới, kế thừa kinh nghiệm các dự án TN và XLNT đô
thị, với điều kiện đất đai hạn chế, yêu cầu tiết kiệm năng
lượng, năng lực và kinh nghiệm quản lý vận hành các hệ
thống tương tự, công nghệ XLNT sau đây được đề xuất
cho NMXLNT An Lạc: Bể điều hòa; Khối công trình xử
lý cơ học gồm song chắn rác, bể lắng cát và bể lắng sơ
cấp; Khối công trình xử lý sinh học: bể bùn hoạt tính làm
việc theo mẻ (SBR - sequencing batch reactor).
HTTN hỗn hợp. Khu vực dân cư đô thị, cơ quan, trường
học... NT được xử lý qua BTH trước khi thải vào hệ
thống cống chung. Các khu đô thị mới có HTTN riêng,
nhưng sau đó lại nhập vào các kênh mương TN chính,
rồi đổ ra sông Cầu Bây. Phần lớn đường cống TN của
quận Long Biên đã cũ và có mặt cắt nhỏ, bị quá tải.
CTR phát sinh được Công ty Môi trường đô thị quản
lý với khoảng 33 điểm chân rác sau đó đưa về BCL Bồ
Đề.
Phân bùn BTH từ các hộ gia đình do Công ty Môi
trường đô thị (URENCO) phụ trách việc thu gom, hầu
hết không được quản lý và vận hành theo quy định.
Mục đích nghiên cứu:
+ Phân tích mối quan hệ giữa dòng vật chất - năng
lượng trong quản lý chất thải đô thị thông qua việc lượng
hóa các dòng NT, bùn, CTR đô thị giàu hữu cơ. Xác định
nhu cầu tiêu thụ và tiềm năng sinh năng lượng từ xử lý
các chất thải đô thị trên.
+ Nghiên cứu thực nghiệm xác định thành phần tính
chất các dòng chất thải giàu hữu cơ.
+ Nghiên cứu điển hình tại quận Long Biên, TP. Hà
Nội, đề xuất mô hình quản lý NT, CTR theo hướng bền
vững.
Phương pháp (PP) nghiên cứu được sử dụng: PP kế
thừa, PP thực nghiệm lấy mẫu thực địa và phân tích
trong phòng thí nghiệm, PP so sánh, PP phân tích, PP
mô phỏng, PP chuyên gia.
Tính toán với tiêu chuẩn dùng nước sinh hoạt 160 l/
ng.ngày [9], cộng với cấp nước phi sinh hoạt... lượng NT
xả ra là 282,8 l/ng.ngày [10].
Bùn BTH được giả thiết có chu kỳ hút bùn trung
bình 6,2 năm/lần (kế thừa các nghiên cứu trước đây của
nhóm) và tất cả các hộ gia đình được hút luân phiên trên
toàn địa bàn.
Lượng CTR phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn quận Long Biên, tính đến năm
2030, sẽ được thu gom toàn bộ về các điểm tập kết đã có
và mở rộng, đưa tập trung về BCL Bồ Đề 1 và 2, với tổng
diện tích theo quy hoạch chi tiết là 14,26 ha.
eo hướng tận dụng thành phần hữu cơ trong
CTRSH và phân bùn BTH để sản xuất phân compost,
chất thải của quận Long Biên có thể được quản lý theo
phương án truyền thống như sau:
Cụ thể, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích thành
phần hữu cơ của bùn NMXLNT, phân bùn BTH,
CTRSH hữu cơ của quận Long Biên, làm cơ sở xem xét
lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp; phân tích khả năng
a) Phương án 1(PA1) (phương án truyền thống):
thu hồi năng lượng của các dòng chất thải khi xử lý kỵ NT được thu gom và xử lý tại NMXLNT tập trung (tại An
58 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
Lạc); Phân bùn BTH và CTR hưu cơ được ổn định hiếu giả thiết phối trộn các dòng chất thải này với nhau thu
khí, sản xuất phân compost tại Trạm xử lý CTR đặt tại được tỷ lệ COD/N/P là 127,77/2,49/1 [10], rất phù hợp
BCL Bồ Đề.
cho việc áp dụng xử lý bằng phân hủy kỵ khí [11]. Để tận
dụng tối đa các thành phần hữu cơ có ích trong các dòng
chất thải để sinh năng lượng, có thể quản lý tổng hợp
chất thải quận Long Biên theo phương án 2.
b) Phương án 2 (PA2): Tất cả chất thải (bao gồm
NT của NMXLNT tập trung, bùn NMXLNT, bùn BTH,
CTR hưu cơ) đều được xử lý tại TTXLCT tại An Lạc, bằng
công nghê kỵ khí, thu hồi năng lượng.
Công nghệ xử lý kỵ khí các chất thải hữu cơ thể hiện
nhiều tính ưu việt của nó so với các quá trình xử lý hiếu
khí truyền thống và được ứng dụng, phát triển ở nhiều
nước trên thế giới.
Dựa trên nguyên tắc xử lý kỵ khí kết hợp bùn - phân
bùn - CTR hữu cơ, mô hình QLCT tổng hợp áp dụng
cho quận Long Biên theo PA2 được mô tả trên Hình 2.
▲Hình 1. Mô hình QLCT quận Long Biên theo phương án 1
NTSH, dịch vụ, sản xuất được thu đưa về NMXLNT
tập trung tại An Lạc. Nước sau BTH sẽ nhập cùng nước
xám được đưa về NMXLNT An Lạc. NT được xử lý theo
công nghệ bùn hoạt tính SBR, sau đó xả ra sông Cầu Bây.
Bùn thải từ NMXLNT An Lạc được làm khô bằng biện
pháp cơ học, sau đó bùn khô được đưa về BCL Bồ Đề.
Phân bùn từ các BTH sẽ được xe hút bùn thu gom,
đưa về BCL Bồ Đề. Toàn bộ lượng CTR được thu gom
đưa về BCL Bồ Đề để phân loại. Phần CTR có thể tái
chế, tái sử dụng (khoảng 10%) được thu gom lại và tái
chế (nhựa, chất dẻo, kim loại, giấy...). Lượng CTR hữu
cơ (khoảng 58,75%) [12] như rác chợ, thức ăn thừa, lá
cây... được nén và xử lý sơ bộ (rắc chế phẩm vi sinh EM)
và đưa về xử lý tại nhà máy chế biến phân compost ngay
tại BCL, cùng phân bùn BTH chuyển về được xử lý hiếu
khí, chế biến phân hữu cơ, cải tạo đất nông nghiệp.
Phương án này có thể tận dụng các kinh nghiệm đã
có trong quá trình vận hành các nhà máy chế biến phân
vi sinh và bám sát quy hoạch tổng thể của quận Long
Biên. Tuy BCL cần bố trí thêm đất cho xây dựng nhà
máy phân compost, nhưng lượng CTR hữu cơ phải chôn
lấp sẽ giảm.
▲Hình 2. Mô hình quản lý tổng hợp chất thải theo phương án 2
Toàn bộ CTRSH trên địa bàn quận Long Biên sẽ
được thu gom đưa về TTXLCT tại An Lạc (đặt tại vị trí
NMXLNT). CTR công nghiệp và phế liệu xây dựng thì
chở trực tiếp về BCL Bồ Đề. Tại TTXLCT An Lạc, CTR
vô cơ sau phân loại được chuyển về BCL Bồ Đề, phần
CTR hữu cơ được nghiền nhỏ và đưa về khu xử lý kỵ khí
kết hợp chất thải bùn - rác trong trung tâm.
Về thu gom và xử lý NT được giữ nguyên như PA1.
Bùn phát sinh trong quá trình XLNT tại NMXLNT được
nén tại bể nén bùn và nạp vào dây chuyền xử lý, phân
hủy kỵ khí.
Bùn BTH từ khu phố cũ và bùn từ NMXLNT được
xử lý chung kết hợp với CTR hữu cơ đã được phân loại
cùng xử lý trong bể phân hủy kỵ khí cho ra các dòng vật
chất sau:
Tuy nhiên, lượng lớn bùn thải của NMXLNT chôn
lấp tại BCL Bồ Đề, làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường và rất tốn quỹ đất. Đó là chưa tính đến quãng
đường chuyên chở bùn thải NMXLNT An Lạc về BCL
làm tăng chi phí vận hành của hệ thống xử lý, gia tăng
mật độ giao thông và gây ô nhiễm môi trường.
Do CTRSH không được phân loại từ nguồn dẫn đến
chất lượng và giá trị của phân bón không cao. Ngoài ra
cũng cần xử lý lượng nước rỉ rác phát sinh ra khi ủ phân
compost.
- Hỗn hợp pha rắn - lỏng (bùn sau phân hủy) gồm:
+ Phần pha rắn sau khi làm đặc và tách pha, có thể
tiếp tục xử lý thành phân bón an toàn cho nông nghiệp,
hay sấy để làm nhiên liệu đốt hoặc vật liệu xây dựng.
Tính toán với các dòng chất thải đô thị giàu hữu cơ
(bùn NMXLNT, bùn BTH và CTR hữu cơ) cho quận với
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 59
Bảng 1. Nhu cầu năng lượng và khả năng thu hồi năng lượng theo các phương án
Chỉ tiêu Tổng năng lượng điện quy đổi
PA 1
kWh/ người.ngày
PA 2
kWh/ngày kWh/ người.ngày
kWh/ngày
Nhu cầu tiêu thụ
Tổng năng lượng cần cung cấp cho
xử lý NT, bùn, phân bùn và CTR sinh
hoạt
94.474,31
từ nguồn điện
thành phố
(~2,36%)
0,22
108.385,48 (Điện) 0,25 (Điện) + 0,27
+ 117.088,23
(Nhiệt)
(Nhiệt)
Khả năng thu hồi
Chuyển hóa thành điện năng + nhiệt
0
0
0
0
369.441,63
0,43 (Điện) + 0,42
(Nhiệt)
năng
Tỷ lệ năng lượng có thể tự cung cấp
100% nhu cầu
+ còn dư 63,85%
Năng lượng tiềm năng có thể thu được
từ viên đốt
Tổng năng lượng sinh ra so với nhu
cầu
132.587,58
222,66%
0,31
+ Pha lỏng có nồng độ COD, BOD5, N, P cao, nên với TS là 2,46 tấn/ngày, lượng cặn hữu cơ là 1,74 tấn/
ngày. Tổng khối lượng CTR là 557,5 tấn/ngày, với lượng
cho quay trở lại xử lý cùng NT tại NMXLNT.
CTR hữu cơ chiếm 327,54 tấn [10].
- Pha khí: Khí biogas sinh ra có CH chiếm từ 55-
70%. Sau khi xử lý, tách các chất gây ăn4mòn, nó được
đưa vào tổ hợp phát điện - nhiệt (Combined heat and
power - CHP), tạo ra nguồn nhiệt và điện cung cấp cho
nhu cầu của bản thân bể phân hủy kỵ khí và NMXLNT,
cung cấp phần điện còn dư cho mạng lưới điện đô thị và
bán nhiệt dư cho các doanh nghiệp khác.
Sản lượng sinh CH4 từ bùn của NMXLNT là 269,3
Nml/gVS, từ phân bùn BTH là 242,3 Nml/gVS [13], từ
CTR hữu cơ là 390 Nml/gVS [10] cho phép xác định
năng lượng thu hồi được khi tiến hành phân hủy kỵ khí
hỗn hợp chất thải. Bảng 1 thể hiện kết quả so sánh nhu
cầu tiêu thụ và sinh năng lượng theo các phương án.
Ưu điểm của PA2:
4. Kết luận
- Công nghệ kỵ khí không cần sử dụng oxy nên giảm
Mô hình QLCT theo hướng thu hồi tài nguyên, sinh
năng lượng rất có tiềm năng áp dụng ở Việt Nam. Công
nghệ kỵ khí để phân hủy kết hợp các dòng chất thải giàu
hữu cơ: bùn từ các công đoạn xử lý NT, bùn BTH và CTR
hữu cơ nghiền, cho phép thu khí biogas, chuyển hóa thành
điện năng và nhiệt năng. Nguồn năng lượng sinh ra bằng
222,66% so với nhu cầu giúp TTXLCT tự cấp hoàn toàn
năng lượng tiêu thụ cho các quá trình xử lý. Điện thừa có
thể đấu nối vào mạng điện thành phố, nhiệt thừa có thể
được tận dụng để sấy bùn sau khi tách nước và nhiệt từ
các viên đốt sau sấy bùn có thể được bán ra thị trường.
Giải pháp này cũng giảm thiểu lượng khí nhà kính phát
thải so với các phương án xử lý truyền thống. Xử lý kỵ
khí chất thải giàu hữu cơ cho phép kết hợp các lợi ích môi
trường và kinh tế trong cùng một hệ thống, hướng tới
mục tiêu phát triển bền vững.
được đáng kể chi phí vận hành so với xử lý hiếu khí.
- Lên men kỵ khí tạo ra khí CH4 là nguồn năng lượng
sạch, có thể chuyển thành điện năng và nhiệt năng tự
cung cấp lại cho hệ phản ứng.
- Lên men kỵ khí tạo ra ít hơn 3-20 lần sinh khối phụ
so với các quá trình hiếu khí. Phần lớn năng lượng giải
phóng ra được chuyển vào sản phẩm cuối cùng của quá
trình là CH4 [14].
Để so sánh hiệu quả của 2 phương án trên, tác giả
dùng phần mềm STAN để tính cân bằng chất, trên cơ sở
đó tính cân bằng năng lượng EB để đánh giá nhu cầu tiêu
thụ và tiềm năng sinh năng lượng của từng trường hợp.
Tổng công suất NMXLNT An Lạc được tính toán
theo PA1 là 122.200 m3/ngày, lượng bùn thải ra là 665,71
tấn/ngày, TS là 20,84 tấn/ngày. eo PA2, toàn bộ lượng
nước chiết, tách ra từ các công đoạn tách nước của bùn
BTH, bùn NMXLNT trong bể nén bùn và máy quay
ly tâm được đưa về ngăn tiếp nhận của NMXLNT nên
công suất của NMXLNT là 122.700 m3/ngày; lượng bùn
thải ra là 700,81 tấn/ngày, TS là 21,58 tấn/ngày, tổng VS
Kiến nghị lộ trình áp dụng: Từ năm 2020, cần dành quỹ
đất để xây dựng TTXLCT tại An Lạc, bao gồm NMXLNT,
công trình xử lý kỵ khí CTR hữu cơ, bùn NMXLN, bùn
BTH. Trước hết, cần xây dựng NMXLNT cùng mạng lưới
cống thu gom và đưa vào vận hành từ năm 2025. Giai
đoạn 2025-2030, tiến hành xây dựng các hạng mục còn lại
là 16,2 tấn/ngày. Lượng phân bùn BTH là 83,87 m3/ngày, và đưa vào vận hành toàn bộ TTXLCT An Lạc■
60 Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ TN&MT. “Báo cáo hiên trạng môi trường Quốc gia 2018”.
thống quản lý chất thải,” Tạp chí Môi trường Đô thị 3(87),
pp. 28-32, 2014.
9. Bộ Xây dựng, 2011.“Quy hoạch chung xây dựng ủ đô Hà
Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050”.
2. Bộ TN&MT “Báo cáo hiên trạng môi trường Quốc gia
2019”.
3. Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội, 2012. “Báo cáo công
tác quản lý phân bùn bể phốt ở TP. Hà Nội - ực trạng
và giải pháp”.
4. Kolisch G, Oshoff T, Hobus I, Hánen J. (2009). “Experiences
of Energy Analyses carried out in Germany”. In: Proceedings
of the 1st IWA water & energy conference: mitigation in the
water sector & potential synergies with the energy sector
(Copenhagen, Denmark).
5. Metcalf &Eddy Inc., “Wastewater engineering: Treatment
and reuse” (4th ed), New York: McGraw-Hill, 2006.
6. De Baere L., Mattheuws B. (2012). “Anaerobic digestion
of the organic fraction of municipal solid water in Europe
-status, experience and prospects”. In: omes - Kozmiensky
K.J., iel S. (Eds), Waste Management: Recycling and
Recovery, vol.3 pp. 517-526.
10. Vũ ị Minh anh, luận án NCS: “Nghiên cứu tương
quan Nước - Năng lượng góp phần xây dựng mô hình quản
lý bền vưng nước thải và chất thải rắn đô thị, áp dụng cho
một quận nội thành Hà Nội”.
11. Gregor D Z, Natasa U Z, Milenko R, 2008. “Full scale
anaerobic co-digestion of organic waste and municipal
sludge”, Biomass and Bioenergy, no.32, pp.162-167.
12. ủ tướng Chính phủ, Quyết định số 609/QĐ-TTG, 2014.
“Quy hoạch xử lý chất thải rắn ủ đô Hà Nội đến năm
2030, tầm nhìn 2050”.
13. Vũ ị Hoài Ân, Vũ ị Minh anh, Nguyễn Viêt Anh,
“Biomethane potential test for anaerobic co-digestion of
faecal sludge and sewage sludge” Vietnam Journal of Science
& Technology, Vietnam Academy of Science & Technology.
Vol.55(4C), pp. 27-3, 2017.
7. Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội, 2007. “Quy hoạch chi
tiết quận Long Biên tỷ lê 1/2000”.
14. Chernicharo, C.A.d.L, 2007. “Anaerobic Reactors”,
Biological Wastewater Treatment Series, London, UK:IWA
Publishing.
8. Phạm ị uý, Vũ ị Minh anh, “Phân tích dòng vật
chất MFA - công cụ hưu hiêu để phân tích đánh giá hê
PROPOSING SOLUTIONS FOR INTEGRATED WASTE MANAGEMENT
AND RESOURCE RECOVERY IN LONG BIEN DISTRICT, HANOI CITY
FOR THE YEAR 2030, WITH A VISION TO 2040
Vu Ti Minh Tanh, Nguyen Ti Hue
Institute of Environmental Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
Tran Hieu Nhue
National University of Civil Engineering
ABSTRACT
An integrated solution for solid and liquid waste management using appropriate treatment technologies
for Long Bien District, Ha Noi City for the period up to 2030, vision to 2040, with an expected population
of about 428,860 people, is proposed. With the traditional waste management approach, the energy need
for the waste treatment for the Long Bien district is 94,474.31 kWh/day. With the construction of a waste
treatment center and the integrated waste management model, the anaerobic co-treatment of sludge from
wastewater treatment plant, septic tank sludge and organic fraction of municipal solid waste could recover
biogas andgenerate energy by a combined heat and power system. With that, the total energy equivalent
generated is 369,441.63 kWh/day, enabling the waste treatment center be come completely energy self-
sufficient, plus 63.85% remaining. e exceed heat is used to dry the sludge afer dewatering, emboding the
equivalent amount of heat of 132,587.58 kWh/day. e results of this study would serve as a basis for proposal
of sustainable solutions for the urban waste management towards energy and resource recovery for the Long
Bien district, aiming towards realization of circular economy.
Key word: Anaerobic digestion, biogas, energy recovery, integrated management, municipal waste.
Chuyên đề IV, tháng 12 năm 2020 61
Bạn đang xem tài liệu "Kiến nghị giải pháp quản lý tổng hợp chất thải, thu hồi tài nguyên tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
kien_nghi_giai_phap_quan_ly_tong_hop_chat_thai_thu_hoi_tai_n.pdf

